HAI ĐỒNG XU CỦA NGƯỜI ĐÀN BÀ GÓA (Mác 12:35-44)

HAI ĐỒNG XU CỦA NGƯỜI ĐÀN BÀ GÓA
Mác 12:35-44
Câu khóa 12:43
Phân đoạn Kinh thánh hôm nay dạy chúng ta về 3 điều: quan điểm đúng về Đâng Christ, tín ngưỡng giả hình của các thầy thông giáo và tấm gương dâng hiến cuả người đàn bà góa. Cầu xin Chúa ban trí hiểu và sự khải thị cho chúng ta để chúng ta xác định rõ ràng mục đích tôi theo Chúa để làm gì, không phải để được thịnh vượng giàu có,không phải để xây dựng vương quốc củamình trên thế gian, cũng không phải để được tôn trọng, được người khác công nhận, mà nếu Chúa muốn phải dâng hết những gì mình có như người đàn bà góa. Cầu xin Chúa giúp chúng ta trởt hành những người tin Chúa thật sự. Amen.

I. Con vua David (35-37)
1. CHÚA JESUS dạy dỗ điều gì về Đấng Christ?(35-37) Quan điểm của Đavid và người Do thái về Đấng Christ khác nhau như thế nào?
Chúng ta xem câu 35-37 “Đức Chúa Jêsus đang dạy dỗ trong đền thờ, bèn cất tiếng phán những lời nầy: Sao các thầy thông giáo nói Đấng Christ là con Đa-vít? 36 Chính Đa-vít đã cảm Đức Thánh Linh mà nói rằng: Chúa phán cùng Chúa tôi; Hãy ngồi bên hữu ta, Cho đến chừng nào ta để kẻ thù nghịch ngươi làm bệ dưới chân ngươi. 37 Vì chính Đa-vít xưng Ngài bằng Chúa, thì lẽ nào Ngài là con vua ấy? Đoàn dân đông vui lòng mà nghe Ngài.”
Trong ngữ cảnh này thoạt nhìn dường như CHÚA JESUS đang phản đối ý kiến cho rằng Đấng Christ là Con vua David.
Trong những cuốn sách đầu tiên của Tân Ước danh hiệu Christ chưa bao giờ được dùng như tên riêng, giống như bây giờ. Lúc đó nó chỉ là danh từ chuyển ngữ sang tiếng Hy-lạp của từ Do-thái “messiah” – Người được xức dầu. Danh xưng này trong thời Cựu Ước dùng để chỉ vị vua được xức dầu để lên ngai. Đó là một nghi lễ không thể thiếu trong quá trình đăng quang ngồi lên ngai vị đế vương. Như vậy Đấng Christ và Messiah đều có nghĩa là Vị Vua vĩ đại được Đức Chúa Trời xức dầu để cứu dân Ngài. Do đó khi CHÚA JESUS phán hỏi: “Sao các thầy thông giáo nói Đấng Christ là con Đa-vít?”, Ngài không có ngụ ý nói về chính bản thân Ngài. Ý của câu hỏi là: “Làm sao mà các thầy thông giáo lại khẳng định rằng Vị Vua mà Đức Chúa Trời xức dầu sắp đến lại có thể là con của vua David?” Sau đó CHÚA JESUS trích dẫn Thi thiên 110:1 lời của vua David “Đức Giê-hô-va phán cùng Chúa tôi rằng: Hãy ngồi bên hữu ta, Cho đến chừng ta đặt kẻ thù nghịch ngươi làm bệ chân cho ngươi.” Vua David gọi Đấng Messiah là Chúa, và CHÚA JESUS mới hỏi, làm thế nào mà vua David lại gọi con của mình là Chúa?
CHÚA JESUS muốn dạy dỗ điều gì ở đây? CHÚA JESUS không phủ nhận Đấng Christ là con vua David, nghĩa là hậu duệ của vua David. CHÚA JESUS phán rằng Đấng Christ là con vua David, và hơn thế nữa là Chúa của vua David. Nhưng vấn đề nằm ở chỗ là danh hiệu “Con vua David” trong văn hóa tư tưởng của người Do thái gắn liền với một Đấng Cứu Thế mang tính chính trị và tính dân tộc: là một vị vua bất khả chiến bại, sẽ đến để lập nên cho dân Israel một triều đại huy hoàng mới trên đất. CHÚA JESUS phán rằng danh hiệu “con vua David” như cách hiểu của người Do thái không đúng với Đấng Christ vì Ngài là Chúa, là Đức Chúa Trời. Ngài đến thế gian không phải để xây dựng vương quốc thế gian, mà đến để bày tỏ Đức Chúa Trời cho nhân loại và đem những kẻ được cứu vào Vương quốc Nước Trời đời đời.
Như vậy ở đây CHÚA JESUS tiếp tục lại làm điều mà Ngài luôn kiên trì theo đuổi: giải phóng con người ra khỏi ý tưởng về một Đấng Messiah bách chiến bách thắng để xây dựng vương quốc trên đất, mà thế vào đó ý tưởng về một Đấng Cứu Thế phục vụ, hy sinh mình để đem tình yêu của Đức Chúa Trời cho nhân loại, để cứu nhân loại ra khỏi quyền lực của tội lỗi và sự chết.
II. Một tôn giáo giả hình (38-40)
2. CHÚA JESUS dạy điều gì về các thầy thông giáo? (38-40)
Chúng ta xem câu 38-40 “38 Trong lúc dạy dỗ, Ngài lại phán rằng: Hãy giữ mình về các thầy thông giáo, là kẻ ưa mặc áo dài đi chơi, thích người ta chào mình giữa chợ 39 muốn ngôi cao nhất trong các nhà hội cùng trong các đám tiệc, 40 nuốt các nhà đàn bà góa, mà làm bộ đọc lời cầu nguyện dài. Họ sẽ bị phạt càng nặng hơn nữa.”
Ở đây CHÚA JESUS cáo trách các thầy thông giáo trong một số việc.
Các thầy thông giáo “ưa mặc áo dài đi chơi”. Áo dài là loại áo có tà áo dài quét đến đất, không phải đồ bảo hộ lao động. Nó là dấu hiệu của một người quan trọng: người mặc áo dài không phải là dân lao động, mà là những người có địa vị chức quyền cao trọng trong xã hội. Mặc áo dài đi ngoài đường là cách để gây sự chú ý của người khác. Các thầy thông giáo “thích người ta chào mình giữa chợ ”. Danh xưng rabbi có nghĩa là “thầy của tôi”. Danh hiệu này ve vuốt tính tự mãn và lòng kiêu hãnh. Các thầy thông giáo thích ngồi “ngôi cao nhất trong các nhà hội” – đó là hàng ghế đầu tiên dành cho những người đáng kính. Hàng ghế này nằm ngay trước hòm giao ước đựng Thánh Kinh. Những người ngồi ở hàng ghế này có một ưu thế: họ là những người không thể không nhận thấy, tất cả mọi người đều nhìn họ với sự tôn kính. Trong những bữa tiệc các thầy thông giáo thích nằm ở những chỗ danh dự: đó là tiêu chuẩn xếp hạng được giữ gìn tuyệt đối trong những bữa tiệc ở thời cổ xưa. Chỗ đầu tiên bên tay phải của chủ tiệc dành cho người quan trọng nhất, chỗ thứ hai bên tay trái. Sau đó thứ tự được tính từ tay trái chủ nhà theo chiều kim đồng hồ. Khi dự một bữa tiệc, tùy theo vị trí ngồi mà chúng ta có thể nhận thấy tầm quan trọng của những người dự tiệc.
Các thầy thông giáo “nuốt các nhà đàn bà góa.” Đây là một lời cáo trách thật khủng khiếp. Các thầy thông giáo không được phép nhận tiền khi dạy đạo cho người khác. Nhưng họ lại thuyết phục mọi người rằng không có trách nhiệm và đặc quyền nào cao quý hơn việc chu cấp một cuộc sống đầy đủ vật chất cho các thầy thông giáo, và ai làm điều đó sẽ nhận được một địa vị cao trọng trên Thiên đường. Luận điệu này đã lừa được vô số những phụ nữ góa chồng. Các thầy thông giáo thích“làm bộ đọc lời cầu nguyện dài”. Họ thường cầu nguyện ngoài đường, ở những nơi có nhiều người qua lại để cho mọi người thấy họ là những người sùng kính.
Như vậy ở đây CHÚA JESUS cảnh báo chúng ta tránh xa một số những việc như sau:
1/ Ngài chống đối ham muốn trở nên nổi tiếng và nhận được địa vị danh vọng cao trong xã hội. Nhiều Cơ đốc nhân thời nay hướng tới các chức vụ trong Hội thánh không phải để phục vụ, mà để được tôn trọng. Nhiều người nhìn nhận chức vụ không phải là trách nhiệm mà là quyền lợi. 2/ CHÚA JESUS chống đối ham muốn được tôn vinh. Từ khi con người trong vườn Ê-đen đánh mất vinh hiển của Chúa bao phủ, con người luôn cảm thấy thiếu hụt vinh quang và luôn mong muốn nhận được vinh quang để bù đắp vào chỗ thiếu hụt đó. Ai cũng muốn được tôn vinh và được người khác tôn trọng mình. Nhưng ý nghĩa của Cơ đốc giáo lại là hạ mình, khiêm nhường nhu mì, hy sinh mình. 3/ CHÚA JESUS chống đối lại ham muốn trục lợi từ đức tin. Đây là lời cảnh báo cho những ai đi Hội thánh để nhận được cái gì đó chứ không phải để ban cho.
III. Hai đồng xu của người đàn bà góa (41-44)
3. Tại sao CHÚA JESUS lại ngồi xem dân chúng dâng hiến như thế nào? (41) Có ai dâng hiến?(42) Người đàn bà góa đã dâng hiến nhiều hơn hết thảy trong ý nghĩa nào?(43-44)
Chúng ta xem câu 41-44 “41 Đức Chúa Jêsus ngồi đối ngang cái rương đựng tiền dâng, coi dân chúng bỏ tiền vào thể nào. 42 Có lắm người giàu bỏ nhiều tiền; cũng có một mụ góa nghèo kia đến bỏ hai đồng tiền ăn một phần tư xu. 43 Ngài bèn kêu môn đồ mà phán rằng: Quả thật, ta nói cùng các ngươi, mụ góa nghèo nầy đã bỏ tiền vào rương nhiều hơn hết thảy những người đã bỏ vào. 44 Vì mọi kẻ khác lấy của dư mình bỏ vào, còn mụ nầy nghèo cực lắm, đã bỏ hết của mình có, là hết của có để nuôi mình.”
Câu chuyện này được chép ở đây để dạy chúng ta bài học về sự dâng hiến tiền bạc. Điều này cho chúng ta thấy CHÚA JESUS coi trọng việc dâng hiến tiền bạc. Bởi vì cách người ta dâng hiến tiền bạc bày tỏ ra tấm lòng bên trong. Của cải ở đâu thì lòng ở đó.
Trong đền thờ có sân dành cho phụ nữ, ở đó có đặt 13 cái thùng đựng tiền dâng hiến. Mỗi một thùng đựng tiền dành cho những mục đích khác nhau. CHÚA JESUS ngồi xem người ta dâng hiến như thế nào. Nhiều người bỏ vào thùng rất nhiều tiền, nhưng có một người đàn bà góa đi đến và bỏ vào thùng 2 đồng xu, trong tiếng Hy-lạp là lepton, nghĩa đen là “mỏng tanh”, là đồng xu có giá trị nhỏ nhất ngang 1/124 đồng đơ-ni-ê. Nhưng CHÚA JESUS lại phán rằng dâng hiến của người đàn bà góa lớn hơn hết thảy những người khác, vì những người kia dâng hiến cách dễ dàng vì họ còn lại nhiều, nhưng người đàn bà góa bỏ vào thùng hết thảy những gì bà ta có. Đây là bài học dạy chúng ta dâng hiến phải như thế nào?
1/ Dâng hiến phải tự nguyện và cách vui lòng. Con số không quan trọng, nhưng giá trị đối với người dâng là quan trọng. Người dâng hiến cách rộng rãi hào phóng là khi của dâng được dâng trong lúc khó khăn túng thiếu. Khi mà của dâng bị ép uổng, hay phải thuyết phục, hay là nhiều người sẽ không dâng hiến nếu không nhận được điều gì đó thay thế, thì đó chính là dấu hiệu suy đồi của Hội thánh.
2/ Sự dâng hiến hết lòng có điều gì đó mất lý trí và điên rồ. Người đàn bà góa này đã dâng hết những gì bà ta có mà không suy nghĩ ngày mai sẽ ra sao. Chúng ta có lẽ thường hay giữ lại cho mình một cái gì đó, và hiếm khi sẵn sàng dâng hiến hết đến những của cải cuối cùng, và hoàn toàn hy sinh mình.
3/ Điều thú vị và kinh ngạc là CHÚA JESUS muốn cho chúng ta thấy tấm gương của một người dâng hiến cách hào phóng qua việc dâng hai đồng xu. Có thể có ai đó nghĩ rằng mình thật có quá ít ỏi để dâng hiến cho Chúa, nhưng nếu chúng ta gom góp hết lại và dâng vào tay Chúa, thì CHÚA JESUS có thể tạo nên với thế giới và trong cuộc đời chúng ta những kỳ tích mà chúng ta không thể nào tưởng tượng nổi.
Có rất ít người trong chúng ta đọc câu chuyện này mà không thấy đỏ mặt xấu hổ. Tất cả Cơ đốc nhân đều biết từ “tận hiến”. Ai cũng cố gắng hát những bài hát về sự tận hiến, “hết lòng” cách rất luyến láy truyền cảm, da diết. Nhưng chúng ta đã bao giờ thật sự “tận hiến” một điều gì đó cho Chúa chưa? Chúng ta đã bao giờ chuẩn bị cho bài học Kinh thánh, viết suy gẫm đến độ hy sinh giấc ngủ chưa?
Qua bài học hôm nay chúng ta học được một tấm gương dâng hiến đến hết cho Chúa của một người đàn bà góa, một con người không nổi tiếng, không ai để ý, nhưng đã làm cho Chúa đẹp lòng. Cầu xin Chúa giúp chúng ta trở thành những cơ đốc nhân thật sự. Amen.

Be the first to comment

Leave a Reply