2026 Ga-la-ti 3
Duy chỉ đức tin
Ga-la-ti 3:1-14
Câu gốc 3:11
Trong các câu 3:1-5, Phao-lô hai lần quở trách các tín hữu Ga-la-ti, gọi họ là dại dột (3:1, 3). Tại sao các tín hữu Ga-la-ti lại dại dột? Điều gì xảy ra với những người dựa vào việc làm theo luật pháp? Chúng ta hãy xem xét việc gì cần phải làm để được cứu chuộc khỏi sự nguyền rủa của luật pháp, được xưng công chính và nhận được lời hứa về Đức Thánh Linh. Trong các câu 3:1-5, Phao-lô đặt ra bốn câu hỏi về cách họ đã cải tà quy chính quay trở lại với Đức Chúa Trời. Mục đích của việc này là để đưa họ trở lại với Phúc âm chân chính. Trong các câu 3:6-14, Phao-lô trình bày bằng chứng Kinh Thánh để bác bỏ những sai lầm của các giáo sư giả đã gây rối cho hội thánh Ga-la-ti. Để làm điều này, ông dùng gương của Áp-ra-ham và trích dẫn nhiều đoạn Kinh Thánh Cựu Ước để giải thích công việc cứu chuộc của Chúa Giê-su Christ.
Câu 3:6 Sự xưng công chính của Áp-ra-ham
Câu 3:7 Sự xưng công chính của dòng dõi Áp-ra-ham
Câu 3:8-9 Sự xưng công chính của dân ngoại
Câu 3:10-12 Luật pháp làm chứng rằng một người được xưng công chính bởi đức tin
Câu 3:13-14 Vì sao Chúa Christ đã cứu chuộc chúng ta.
- Sứ đồ Phao-lô quở trách người Ga-la-ti về điều gì (1)? Phao-lô hỏi họ những câu hỏi nào (2-5)? Phao-lô hy vọng sẽ soi sáng cho họ như thế nào qua những câu hỏi này?
Trong câu 1 và 3 của chương 3, Phao-lô quở trách các tín hữu Ga-la-ti vì đã theo một phúc âm khác, gọi họ là dại dột. Tuy nhiên, lời quở trách của Phao-lô ở đây khác với lời nguyền rủa trong chương 1. Các giáo sư giả bị nguyền rủa vì họ đã đạt đến điểm không thể quay đầu. Còn các tín hữu Ga-la-ti đã rời bỏ Phúc âm vì bị các giáo sư giả lừa dối. Phao-lô quở trách họ vì vẫn còn hy vọng rằng họ có thể ăn năn và trở lại.
1 Hỡi người Ga-la-ti ngu muội kia, ai bùa ếm anh em là người mà trước mắt đã được rõ bày ra Đức Chúa Jêsus Christ bị đóng đinh trên thập tự giá?
Việc Chúa Giê-su bị đóng đinh trên thập tự giá là một sự kiện lịch sử có thật. Việc Chúa Giê-su bị đóng đinh đã diễn ra công khai, để mọi người đều biết đến. Các thánh đồ ở Ga-la-ti đã nghe rõ ràng từ Phúc Âm viết rằng Chúa Giê-su đã bị đóng đinh trên thập tự giá. Đức tin của người Ga-la-ti dựa trên sự kiện lịch sử này. “Ai đã mê hoặc các ngươi ?” Từ Hy Lạp “mê hoặc” dùng để chỉ một phù thủy sử dụng ngôn ngữ ma thuật để lừa dối và gây nhầm lẫn cho mọi người. Các giáo sư giả đã cám dỗ mọi người bằng cách tuyên bố rằng đức tin vào Chúa Giê-su, phép cắt bì và các việc làm của luật pháp là cần thiết để được xưng công chính. Kết quả là, hội thánh bắt đầu theo “một phúc âm khác”.
Giờ đây, Phao-lô hỏi họ: “2 Tôi chỉ hỏi anh em một câu nầy: Ấy là cậy các việc luật pháp hay là bởi nghe và tin mà anh em đã nhận được Đức Thánh Linh?” (3:2b). Câu hỏi này không cần câu trả lời. Bằng cách hỏi điều mà họ đã biết, Phao-lô giúp họ tự mình ăn năn. Nhận được Đức Thánh Linh có nghĩa là nhận được sự cứu rỗi và tái sinh thành con của Chúa. Khi một người được xưng công chính bởi đức tin, tình yêu thương lớn lao của Đức Chúa Trời và Đức Thánh Linh ngự trong người đó. “Nếu Đức Thánh Linh của Đức Chúa Trời ở trong anh em, thì anh em chẳng có phần xác thịt, nhưng có phần Thánh Linh. Nếu ai không có Đức Thánh Linh của Đấng Christ, thì người đó không thuộc về Đấng Christ ” (Rô-ma 8:9). Việc một người có tin vào Chúa Giê-su hay không có thể được xác định bằng việc Đức Thánh Linh của Đấng Christ có ngự trong người đó hay không. Tuy nhiên, sự cứu rỗi của các tín hữu Ga-la-ti (nhận được Đức Thánh Linh) có phải là kết quả của việc giữ luật pháp không? Không. Khi họ giữ luật pháp, không có gì thay đổi. Không có niềm vui, không có sự bảo đảm về sự sống đời đời, chỉ có tội lỗi và tuyệt vọng triền miên. Tuy nhiên, sau khi nghe Tin lành từ Phao-lô, họ đã được niềm vui của sự cứu rỗi. Khi đó, những kẻ dạy dỗ sai lạc (những người Do Thái) đã vào hội thánh Galati sẽ có thể tự trả lời xem giáo lý của họ có đúng hay không.
Câu hỏi thứ hai của Phao-lô là: 3 Sao anh em ngu muội dường ấy? Sau khi đã khởi sự nhờ Đức Thánh Linh, nay sao lại cậy xác thịt mà làm cho trọn? (3:3) Đức Chúa Cha đã định đoạt sự cứu rỗi, và Đức Chúa Con đã hoàn thành điều đó. Và Đấng áp dụng sự cứu rỗi này cho mỗi người chúng ta và hoàn thành nó chính là Đức Thánh Linh. Vì vậy, chúng ta nhận được sự cứu rỗi bởi đức tin qua Đức Thánh Linh. (1 Cô-rinh-tô 12:3) “chẳng ai cảm Thánh Linh của Đức Chúa Trời, mà nói rằng: Đức Chúa Jêsus đáng nguyền rủa! Nếu không cảm Đức Thánh Linh, cũng chẳng ai xưng Đức Chúa Jêsus là Chúa!” Các tín hữu Ga-la-ti đã kinh nghiệm sự tái sinh bằng cách tiếp nhận Phúc âm mà Phao-lô rao giảng. Họ đã kinh nghiệm Đức Thánh Linh hoàn toàn nhờ đức tin vào Phúc âm, không cần phép cắt bì hay luật pháp (3:2). Tuy nhiên, đối với họ, phép cắt bì và việc chấp nhận luật pháp giống như sự trở lại với những việc làm của xác thịt.
Nếu bạn bắt đầu bằng Thánh Linh, bạn phải kết thúc bằng Thánh Linh (3:3b). Điều này có nghĩa là Đấng hướng dẫn một Cơ Đốc nhân từ đầu đến cuối là Đức Thánh Linh. Nếu các thành viên của các hội thánh Ga-la-ti sống bằng Thánh Linh, họ phải tiếp tục sống bằng Thánh Linh (5:25). Nếu chúng ta sống bằng Thánh Linh, chúng ta cũng phải bước đi theo Thánh Linh.
Câu hỏi thứ ba: “4 Anh em há luống công mà chịu sự khốn khó dường ấy sao? nếu quả là luống công!” (3:4) “Các ngươi đã chịu khổ nhiều như vậy” ám chỉ sự bắt bớ dữ dội mà Phao-lô và các tín hữu Ga-la-ti phải chịu đựng ở Ga-la-ti trong chuyến truyền giáo đầu tiên của ông (xem Công vụ 14:21-22). Người Do Thái bắt bớ Phao-lô và các tín hữu Ga-la-ti vì họ tin rằng Phúc âm đang phá hủy truyền thống và luật lệ của họ. Các tín hữu Ga-la-ti đã phải chịu đựng bao nhiêu sự bắt bớ để tin vào Phúc âm! Vì vậy, việc chối bỏ Phúc âm bây giờ thật là vô ích!
Cụm từ “há luống công” là câu hỏi liệu ân điển của Chúa Thánh Linh và niềm vui được tái sinh mà họ đã trải nghiệm có thực sự trở nên vô ích nếu họ quay lại với phép cắt bì và các việc làm theo luật pháp hay không.
Câu hỏi thứ tư : 5 Đấng ban Đức Thánh Linh cho anh em và làm các phép lạ trong anh em, thì làm bởi các việc luật pháp, hay là bởi đã nghe mà tin? (5) Câu hỏi này tương tự như câu hỏi đầu tiên trong câu 3:2. Tuy nhiên, câu 3:5 nói từ quan điểm của Đức Chúa Trời, chứ không phải của con người. Phao-lô mô tả Đức Chúa Trời là “Đấng ban cho anh em Đức Thánh Linh và làm phép lạ giữa anh em” (3:5a). Con người không thể tự mình nhận được Đức Thánh Linh. Đức Chúa Trời sai Đức Thánh Linh đến với chúng ta khi chúng ta nghe và tin. Khởi đầu của sự cứu rỗi là Đức Chúa Trời, chứ không phải con người.
Nơi nào có sự hiện diện của Đức Thánh Linh, nơi đó có quyền năng được biểu lộ. Tuy nhiên, quyền năng này không được biểu lộ khi con người mong muốn; trái lại, Đức Chúa Trời hành động khi chúng ta nghe và tin. Thật vậy, khi Phao-lô rao giảng Tin Lành tại Ga-la-ti, quyền năng kỳ diệu của Đức Thánh Linh đã được biểu lộ: “Phao-lô và Ba-na-ba ở lại đó cũng khá lâu, đầy dẫy sự bạo dạn và đức tin trong Chúa, và Chúa dùng tay của hai sứ đồ làm những phép lạ dấu kỳ, mà chứng về đạo ân điển của Ngài.” (Công vụ 14:3, 8-11). Điều này có nghĩa là khi Phao-lô rao giảng Tin Lành, Đức Chúa Trời đã thúc đẩy ông thực hiện những dấu kỳ phép lạ bằng chính tay mình, làm chứng rằng lời của Phao-lô chính là Tin Lành của Đức Chúa Trời. Câu hỏi đặt ra là: nếu Đức Chúa Trời hành động khi nhìn thấy đức tin của chúng ta, thì chúng ta có thể dựa vào luật pháp nào?
- Làm thế nào mà Áp-ra-ham được Đức Chúa Trời tuyên bố là người công chính (6, Sáng thế ký 15:6)? Ai là con cháu của Áp-ra-ham và được nhận phước hạnh cùng với Áp-ra-ham (7)? Mục đích của Đức Chúa Trời khi lần đầu tiên công bố Phúc Âm cho Áp-ra-ham là gì, và nội dung của Phúc Âm đó là gì (8-9)?
6 Như Áp-ra-ham tin Đức Chúa Trời, thì đã kể là công bình cho người. Người Do Thái tự gọi mình là con cháu của Abraham và xem ông là tấm gương về đức tin. Vì vậy, Phaolô giải thích cách Abraham được cứu rỗi và trở thành con cái của Đức Chúa Trời. Phaolô trích dẫn Sáng thế ký 15:6.
Áp-ra-ham tuyệt vọng vì ông đã già mà không có con cái. Một ngày kia, Chúa hiện ra với Áp-ra-ham qua Lời phán: “Ta là khiên che chở ngươi; phần thưởng lớn lao của ngươi.” Rồi Ngài dẫn ông ra ngoài và chỉ cho ông thấy vô số ngôi sao trên trời. Sau đó, Ngài ban cho ông Lời phán: “Hãy ngước mắt lên trời và đếm các ngôi sao, nếu ngươi có thể đếm được. Và Ngài phán với ông: ‘Dòng dõi ngươi sẽ đông như vậy” (Sáng thế ký 15:5). Bạn có tin lời này không? Áp-ra-ham không thể hy vọng và không thể tin, nhưng ông tin vào Đức Chúa Trời Toàn Năng, và Đức Chúa Trời kể ông là người công chính. Áp-ra-ham tin Chúa, và Chúa kể điều đó cho ông là sự công chính. Áp-ra-ham không giữ luật pháp hay làm những việc lớn lao. Ông tin vào lời hứa của Đức Chúa Trời, và Đức Chúa Trời tuyên bố điều đó làm cho ông thành người công chính.
Chính “đức tin” đã kết nối Áp-ra-ham với Đức Chúa Trời. Sau khi sa ngã, một vực sâu ngăn cách rộng lớn đã xuất hiện giữa Đức Chúa Trời và con người, và phương tiện giao tiếp giữa họ cũng biến mất. Tuy nhiên, đức tin đã khôi phục mối quan hệ giữa Đức Chúa Trời và con người, đồng thời mang lại cho con người cơ hội được xưng công chính. Áp-ra-ham là một ví dụ điển hình. Điều đáng chú ý là Áp-ra-ham đã được tuyên bố là người công chính ngay cả trước khi chịu phép cắt bì (Sáng thế ký 17:24). Do đó, lập luận của người Do Thái cho rằng phép cắt bì là cần thiết để được xưng công chính là sai.
7 vậy anh em hãy nhận biết rằng những kẻ có đức tin là con cháu thật của Áp-ra-ham. Áp-ra-ham là tổ phụ của tất cả những người tin Chúa. Do đó, con cháu của ông cũng là những người được xưng công chính bởi đức tin. Phao-lô lập luận điều này dựa trên Kinh Thánh, rằng người ta có thể trở thành con cháu của Áp-ra-ham không phải nhờ phép cắt bì, mà là nhờ đức tin.
Người Do Thái tự hào rằng họ là hậu duệ của Abraham. Nếu điều này là đúng, thì càng có lý do để họ phải có đức tin của Abraham. Không chỉ người Do Thái mà cả người ngoại cũng là hậu duệ của Abraham nhờ đức tin. Hơn nữa, là hậu duệ của Abraham có nghĩa là con cái của Đức Chúa Trời. Vì vậy, tất cả những người tin đều là con trai và con gái của Abraham. Đây là một phước lành và vinh quang được ban cho tất cả những người tin.
8 Kinh Thánh cũng biết trước rằng Đức Chúa Trời sẽ xưng dân ngoại là công bình bởi đức tin, nên đã rao truyền trước cho Áp-ra-ham tin lành nầy: Các dân sẽ nhờ ngươi mà được phước.
Giờ đây, Phao-lô tuyên bố một lẽ thật rất quan trọng và đáng kinh ngạc. Kinh Thánh đã tiên tri rằng Đức Chúa Trời sẽ ban sự xưng công chính cho dân ngoại bởi đức tin. Đó là lý do tại sao Tin Lành (Phúc Âm) đã được báo trước cho Áp-ra-ham: “Nhờ ngươi mà muôn dân sẽ được phước” (3:8a).
Đức Chúa Trời đã lập sẵn một kế hoạch mà theo đó không chỉ người Do Thái mà cả người ngoại bang cũng sẽ được “xưng công chính bởi đức tin” (Sáng thế ký 15:6). Đức Chúa Trời không loại trừ người ngoại khỏi kế hoạch của Ngài. Sự cứu rỗi của họ đã được bao gồm trong kế hoạch đầy ân điển của Đức Chúa Trời. Cũng như Áp-ra-ham được xưng công chính bởi đức tin, thì người ngoại cũng được xưng công chính bởi đức tin. Vì vậy, sự xưng công chính của Áp-ra-ham bởi đức tin là sự tiên tri kỳ diệu của Đức Chúa Trời (3:8a).
“Và Kinh Thánh đã tiên tri,” sứ đồ mô tả Kinh Thánh như một ngôi vị. Điều này là bởi vì Kinh Thánh là lời sống động của Đức Chúa Trời, rõ ràng và dễ nghe. Kinh Thánh đã tiên tri, có nghĩa là Đức Chúa Trời đã tiên tri. Kinh Thánh đã biết trước sự thật rằng Đức Chúa Trời sẽ “xưng công chính cho dân ngoại bởi đức tin” (3:8a). Vì vậy, sứ mệnh của Phao-lô đối với dân ngoại không phải là điều ông đột nhiên nhận được trên đường đến Đa-mách, mà là điều Đức Chúa Trời đã hứa và tiên tri từ thời Áp-ra-ham.
8 Kinh Thánh cũng biết trước rằng Đức Chúa Trời sẽ xưng dân ngoại là công bình bởi đức tin, nên đã rao truyền trước cho Áp-ra-ham tin lành nầy: Các dân sẽ nhờ ngươi mà được phước. Trong câu này, “đã rao truyền trước cho Áp-ra-ham tin lành” có nghĩa là Đức Chúa Trời đã rao giảng phúc âm cho Áp-ra-ham trước tiên. Phao-lô gọi lẽ thật rằng cả người Do Thái và dân ngoại đều được xưng công chính bởi đức tin là “phúc âm”. Phúc âm mà Đức Chúa Trời đã rao giảng cho Áp-ra-ham thực chất là Phúc âm mà Phao-lô đang rao giảng cho dân ngoại. Sứ đồ Phao-lô muốn nói gì với chúng ta trong câu này? Ông muốn truyền đạt cho chúng ta rằng dân ngoại nhận được phước lành của sự xưng công chính khi họ tin vào Chúa Giê-su Christ, chứ không phải khi họ chịu phép cắt bì hoặc tuân giữ luật pháp. Kinh Thánh đã rao giảng phúc âm cho Áp-ra-ham trước tiên, rằng: “Trong ngươi, mọi dân tộc sẽ được phước.” Và Sáng thế ký 18:17-18 chép rằng: “Đức Giê-hô-va phán: ‘Ta há lại giấu tôi tớ Ta là Áp-ra-ham điều Ta sắp làm chăng?’ Từ Áp-ra-ham chắc chắn sẽ xuất hiện một dân tộc lớn mạnh, và muôn dân trên đất sẽ được phước lành nhờ ông.” Đây là thông điệp rằng muôn dân trên đất sẽ được phước lành nhờ Áp-ra-ham. Đức Chúa Trời đã có kế hoạch cho dân ngoại từ thời Áp-ra-ham. Từ đó trở đi, Đức Chúa Trời luôn quan tâm đến dân ngoại và có ý định ban phước cho họ.
Ở đây, các cụm từ ” Kinh Thánh đã thấy trước” và “đã báo trước ” cho thấy rõ bản chất tiên tri của Kinh Thánh. Nói cách khác, Kinh Thánh đã biết trước và rao giảng Phúc âm trước tiên. Những diễn đạt như vậy xuất phát từ sự hiểu biết sâu sắc đáng kinh ngạc của Phao-lô về Kinh Thánh và sự mặc khải của Đức Thánh Linh. Phao-lô đã nhìn thấy phúc âm trong lời Đức Chúa Trời phán với Áp-ra-ham. Chân lý rằng tất cả mọi người đều được xưng công chính bởi đức tin tạo thành cốt lõi của phúc âm mà Phao-lô rao giảng cho dân ngoại. Tuy nhiên, phúc âm này không chỉ xuất hiện khi Phao-lô gặp Chúa Giê-su trên đường đến Đa-mách. Đức Chúa Trời đã rao giảng phúc âm cho Áp-ra-ham trước tiên: nhờ ngươi mà muôn dân sẽ được phước.
Trước Abraham Tin Lành đã được rao giảng cho A-đam. Mệnh lệnh mà Đức Chúa Trời ban cho A-đam: ” Nhưng về cây biết điều thiện và điều ác, ngươi chớ ăn; vì khi nào ngươi ăn trái cây ấy, chắc chắn ngươi sẽ chết “ (Sáng thế ký 2:17) là luật pháp. Tuy nhiên, lời hứa mà Ngài đã ban sau khi họ phạm tội: “Ta sẽ đặt sự thù nghịch giữa ngươi và người nữ, giữa dòng dõi ngươi và dòng dõi người nữ; dòng dõi người nữ sẽ nghiền nát đầu ngươi, còn ngươi sẽ cắn gót chân người” (Sáng thế ký 3:15) là Tin Lành. Tin Lành chính là Đấng Christ. Đấng Christ là Tin Lành cứu rỗi chúng ta bởi đức tin. Cả Cựu Ước và Tân Ước đều cùng chia sẻ một Tin Lành.
9 Ấy vậy, ai tin thì nấy được phước với Áp-ra-ham, là người có lòng tin. (3:9) Kinh Thánh này một lần nữa khẳng định rằng ngay từ đầu, Đức Chúa Trời đã có kế hoạch cứu rỗi không chỉ người Do Thái mà còn cả người ngoại. Điều này bị phá hủy bởi tư tưởng kiêu ngạo của dân được chọn, tức là người Do Thái. Đức Chúa Trời gọi Áp-ra-ham và phán rằng: “Tất cả các dân tộc trên đất sẽ được phước qua ngươi”, cho thấy Áp-ra-ham không chỉ là tổ phụ của người Do Thái mà còn của tất cả những người tin. Hơn nữa, giống như Áp-ra-ham, người ngoại được xưng công chính bởi đức tin, chứ không phải bởi phép cắt bì.
- Tại sao những người tuân giữ theo luật pháp lại bị nguyền rủa (10-12, Phục truyền luật lệ ký 27:26, Ha-ba-cuc 2:4, Lê-vi ký 18:5)? Chúa Giê-su đã chuộc chúng ta ra khỏi sự rủa sả của luật pháp như thế nào (13)? Mục đích của Đức Chúa Trời khi cứu chuộc chúng ta theo cách này là gì (14)?
10 Vì mọi kẻ cậy các việc luật pháp, thì bị rủa sả, bởi có chép rằng: Đáng rủa thay là kẻ không bền đỗ trong mọi sự đã chép ở sách luật, đặng làm theo những sự ấy!
Phao-lô giờ đây trích dẫn Phục truyền luật lệ ký 27:26 để khẳng định chắc chắn chân lý “chỉ nhờ đức tin”. Trong đoạn này, các từ “bền đỗ” và “mọi sự” nhấn mạnh thực tế rằng luật pháp phải được tuân giữ trọn vẹn. Tuy nhiên, vì con người yếu đuối, nên họ không thể luôn luôn tuân thủ theo mọi điều đã được viết trong luật pháp. Do đó, về bản chất, tất cả mọi người đều vi phạm luật. Về điểm này, Môi-se và Phao-lô cùng chung quan điểm. Cuối cùng, ông kiên quyết tuyên bố lời nguyền rủa đối với tất cả những ai dựa vào luật pháp (3:10).
11 Vả lại chẳng hề có ai cậy luật pháp mà được xưng công bình trước mặt Đức Chúa Trời, điều đó là rõ ràng lắm, vì người công bình sẽ sống bởi đức tin.
Vì không ai có thể được xưng công chính trước mặt Đức Chúa Trời bởi luật pháp, nên “người công chính sẽ sống bởi đức tin”. Đó là lời của tiên tri Habakkuk (Habakkuk 2:4). “Người công chính” là người được xưng công chính bởi đức tin. Một người trở nên công chính hoàn toàn nhờ đức tin. Và người công chính này phải tiếp tục sống bởi đức tin.
12 Vả, luật pháp vốn không phải đồng một thứ với đức tin, nhưng luật pháp có chép rằng: Người nào vâng giữ các điều răn thì sẽ nhờ đó mà sống.
“Nhưng luật pháp không phải bởi đức tin” (3:12a) — luật pháp và đức tin không tương thích. Vì Phúc Âm đòi hỏi đức tin, còn luật pháp đòi hỏi việc làm, nên hai khái niệm này (đức tin và luật pháp) hoạt động trên những nguyên tắc khác nhau. Một người trở thành người tham dự vào lời hứa dành cho Áp-ra-ham không phải khi họ “tuân giữ” luật pháp, mà khi họ “tin” như Áp-ra-ham.
Câu nói “ai làm theo luật ấy sẽ được sống nhờ luật ấy “ (3:12b) là một trích dẫn từ Lê-vi ký 18:5. Điều này có nghĩa là vì con người không thể hoàn toàn tuân giữ luật pháp, nên họ không thể thực sự nhận được sự cứu rỗi qua luật pháp. Do đó, luật pháp có tác dụng giúp con người nhận thức được bản chất yếu đuối, tội lỗi của mình và đến với đức tin nơi ân điển của Đức Chúa Trời.
Vậy Chúa Giê-su đã làm gì để chúng ta được cứu rỗi bởi đức tin?
13 Đấng Christ đã chuộc chúng ta khỏi sự rủa sả của luật pháp, bởi Ngài đã nên sự rủa sả vì chúng ta, vì có lời chép: Đáng rủa thay là kẻ bị treo trên cây gỗ,
Phao-lô giải thích sự chuộc tội của Chúa Giê-su bằng cách trích dẫn Phục truyền luật lệ ký 21:23, câu này nói rằng: “Ai bị treo trên cây gỗ đều bị rủa sả.” Chúa Giê-su Christ đã gánh chịu sự rủa sả thay cho chúng ta để “giải thoát” chúng ta khỏi sự rủa sả của luật pháp. “Sự rủa sả của luật pháp” có nghĩa là luật pháp không thể xưng công chính cho chúng ta. Điều này là bởi vì không ai có thể giữ luật pháp một cách hoàn hảo. Do đó, tất cả chúng ta đều là những tội nhân không thể thoát khỏi sự phán xét đời đời. Từ “chuộc” có nghĩa là trả giá để giải phóng một nô lệ. Khi chúng ta trở thành những nô lệ khốn khổ của luật pháp và không thể tự mình thoát khỏi sự rủa sả, Đấng Christ đã trả giá bằng huyết của Ngài để giải phóng chúng ta. Là Con của Đức Chúa Trời, Đấng Christ xứng đáng được vinh quang và tôn kính. Tuy nhiên, chính Ngài đã chấp nhận sự rủa sả, chịu đựng sự sỉ nhục khi bị đóng đinh trên thập tự giá. Để chúng ta có thể được giải thoát khỏi sự rủa sả… Tại sao Ngài bị treo trên cây gỗ và gánh lấy sự rủa sả? Lý do là tình yêu. Đức Chúa Trời yêu thương thế gian vô hạn.
14 hầu cho phước lành ban cho Áp-ra-ham nhờ Đức Chúa Jêsus Christ mà được rải khắp trên dân ngoại, lại hầu cho chúng ta cậy đức tin mà nhận lãnh Đức Thánh Linh đã hứa cho.
Chúa Giê-su chấp nhận sự nguyền rủa với mục đích gì? Thứ nhất, để phước lành của Áp-ra-ham có thể đến trên dân ngoại qua Chúa Giê-su Christ (3:14a). Điều này có nghĩa là qua Chúa Giê-su Christ, tất cả dân ngoại giờ đây có thể nhận được phước lành mà Áp-ra-ham đã nhận được—sự thay đổi địa vị từ tội nhân thành con cái của Đức Chúa Trời. Thứ hai, để chúng ta có thể nhận được Đức Thánh Linh đã hứa qua đức tin (3:14b). Ở đây, “chúng ta” bao gồm cả người Do Thái và dân ngoại có đức tin. Qua thập tự giá của Chúa Giê-su, chúng ta đã nhận được Đức Thánh Linh đã hứa. Nhận được Đức Thánh Linh có nghĩa là một kinh nghiệm cá nhân về sự cứu rỗi. Chúng ta hưởng sự tái sinh bằng cách tin nhận Chúa Giê-su Christ và nhận lãnh Đức Thánh Linh. Phao-lô nói trong Ga-la-ti 3:2, “Tôi chỉ muốn hỏi anh em điều này: Anh em đã nhận được Đức Thánh Linh bởi việc làm theo luật pháp hay bởi việc nghe và tin? ” (Ga-la-ti 3:2 )
“ Nhờ Đức Chúa Giê-su Christ ” (3:14a) — phước lành của Áp-ra-ham, được Đức Chúa Trời ban cho chúng ta, và sự nhận lãnh Đức Thánh Linh – tất cả điều này đã được hoàn thành nhờ Đức Chúa Giê-su Christ . “ Nhờ đức tin ” – tất cả ân điển này (3:14) chỉ có thể có được nhờ đức tin. Đức tin là con đường mà qua đó một người gặp gỡ Đức Chúa Giê-su Christ một cách cá nhân và riêng tư. A-men!!!
Leave a Reply
Bạn phải đăng nhập để gửi phản hồi.