ĐỨC CHÚA TRỜI CỦA NHỮNG KẺ SỐNG
Mác 12:13-27
Câu khóa 12:27
Trong phân đoạn Kinh thánh hôm nay có 3 nhóm người, đại diện cho tất cả các tầng lớp lãnh đạo chính trị và tôn giáo Israel đến với CHÚA JESUS để hỏi khó Ngài. Nhưng chúng ta thấy CHÚA JESUS là Đấng chiến thắng, Ngài chiến thắng trong mọi cuộc tranh luận. Qua mỗi cuộc tranh luận CHÚA JESUS lại bày tỏ ra những chân lý về Đức Chúa Trời để chúng ta tăng trưởng trong sự nhận biết Ngài. Cầu xin Đức Thánh Linh ban sự khải thị Lời Chúa cho mỗi chúng ta hôm nay, và thay đổi tấm lòng để chúng ta chịu nhận và vâng phục lời Chúa. Amen.
I. Của Caesar trả cho caesar, của Đức Chúa Trời trả Đức Chúa Trời (13-17)
1. Các lãnh đạo tôn giáo sai ai đến gặp CHÚA JESUS và với mục đích gì?(13) Họ giả vờ khen ngợi Chúa như thế nào? (14a) Họ đưa ra câu hỏi khó gì? (14b) Tại sao câu hỏi này lại là sự cám dỗ với Chúa?
Chúng ta xem câu 13-14 “Kế đó, họ sai mấy người thuộc về phe Pha-ri-si và đảng Hê-rốt đến, để bắt lỗi Ngài trong lời nói. 14 Vậy, mấy người ấy đến, thưa Ngài rằng: Lạy thầy, chúng tôi biết thầy là người thật, không lo sợ gì ai; vì thầy không xem bề ngoài người ta, nhưng dạy đạo Đức Chúa Trời theo mọi lẽ thật. Có nên nộp thuế cho Sê-sa hay không? Chúng tôi phải nộp hay là không nộp?”
Có vẻ đây là một câu hỏi rất đơn giản: nộp thuế là nghĩa vụ của mọi công dân. Nhưng sau câu hỏi này là một âm mưu xảo quyệt.
Chúng ta xem xét bối cảnh lịch sử Israel lúc đó. Sau khi vua Hê-rốt Đại đế băng hà, Israel chia làm 3 miền cho 3 đứa con trai của ông ta tể trị. 2 người con kia tể trị rất tốt, nhưng đứa con tể trị vùng phía nam gồm Sa-ma-ri và Giu-đê lại rất tệ. Vì vậy La-mã quyết định đặt quan tổng trấn và quân đội ở đó để trực tiếp quản lý. Dân phải chịu 3 loại thuế: 1/ thuế đất gồm 1/10 ngũ cốc và 1/5 hoa quả và rượu nho. 2/ thuế thu nhập gồm 1% từ tổng thu nhập. 3/ thuế thân – đánh lên đàn ông từ 14-65 tuổi và phụ nữ từ 12-65 tuổi. Thuế này là 1 đơ-ni-ê, là công trả cho 1 ngày làm việc. Phần lớn dân đều trả thuế để sống yên ổn, nhưng có 1 người tên là Giu-đa người Ga-li-lê đã dấy lên cuộc khởi nghĩa chống lại La-mã với khẩu hiệu “không 1 xu thuế nào cho La-mã”. Cuộc khởi nghĩa bị dập tắt rất nhanh, nhưng câu nói này trở thành khẩu hiệu của tất cả những người Do-thái yêu nước quá khích.
Lúc đó có 2 nhóm người đến với CHÚA JESUS. Người pha-ri-si là những người tôn giáo cực đoan, đấu tranh cho việc tuân giữ luật pháp Cựu Ước cách triệt để, vì thế họ là những người ngầm chống đối nền đô hộ của ngoại bang trên dân Chúa. Từ phía khác những người theo đảng Hê-rốt là một đảng phái chính trị, nên phải thân La-mã.
Họ bắt đầu với lời khen nịnh lấy lòng, mục đích làm CHÚA JESUS bị mất cảnh giác và để Ngài không thể không trả lời. Họ hỏi Chúa không phải muốn nhận biết lẽ thật, mà chỉ là để lừa Chúa vào tròng. Nếu Ngài trả lời: hãy trả thuế, thì người pha-ri-si sẽ buộc tội Chúa không yêu nước, và dân chúng sẽ nhìn Ngài như kẻ phản bội và nhát gan, và CHÚA JESUS có thể đánh mất hoàn toàn uy tín và ảnh hưởng của mình. Còn nếu Ngài trả lời: không trả thuế, thì đảng Hê-rốt sẽ báo cho lính La-mã bắt Chúa vì tội phản loạn chống lại La-mã. Bọn họ nghĩ rằng đã dựng cho CHÚA JESUS một cái bẫy hoàn hảo không thể tránh được.
2. CHÚA JESUS biết gì về họ? Ngài dạy họ điều gì về trách nhiệm trước quốc gia và trước Đức Chúa Trời? (15-17)
Dựa vào tình huống này CHÚA JESUS dạy chúng ta về trách nhiệm nghĩa vụ công dân trước chính quyền nhà nước và trước Đức Chúa Trời. Chúng ta xem câu 15-17 “15 Nhưng Ngài biết sự giả hình của họ thì phán rằng: Các ngươi thử ta làm chi? Hãy đem cho ta xem một đồng đơ-ni-ê. 16 Họ đem cho Ngài một đồng, Ngài bèn phán rằng: Hình và hiệu nầy của ai? Họ trả lời rằng: Của Sê-sa. 17 Đức Chúa Jêsus phán rằng: Vật chi của Sê-sa hãy trả lại cho Sê-sa, còn vật chi của Đức Chúa Trời hãy trả lại cho Đức Chúa Trời. Họ đều lấy làm lạ về Ngài.”
CHÚA JESUS phán bảo đem cho Ngài một đồng đơ-ni-ê. Để hiểu được ý của CHÚA JESUS thì chúng ta cần phải biết đồng tiền có ý nghĩa gì trong văn hóa cổ đại. Lúc đó đồng tiền có in hình Ti-be-rius là Hoàng đế La-mã, trên một mặt có in tước hiệu “thầy tế lễ cả của dân La-mã”. Đồng tiền có 3 ý nghĩa: 1/ là dấu hiệu quyền lực. Cứ ai trở thành Hoàng đế thì in đồng tiền có hình của mình để công bố quyền lực và tước hiệu của mình. 2/ nơi nào đồng tiền được trao đổi trong mua bán, nơi đó quyền lực của Hoàng đế được củng cố. 3/ bởi vì trên đồng tiền có in hình, tên và tước hiệu của Hoàng đế, nên người ta cho rằng đồng tiền là sở hữu riêng của Hoàng đế.
Do đó CHÚA JESUS muốn nói: “khi sử dụng tiền của Tiberius, thì muốn nói gì thì nói các vị đã công nhận quyền lực chính trị của ông ta trên lãnh thổ Israel rồi. Và đây là đồng tiền thuộc quyền sở hữu của ông ta, vì ở trên đó có in hình và tên của ông ta. Khi các vị đưa cho ông ta đồng tiền này, các vị trả lại cái thuộc về ông ta. Nhưng quý vị cần phải biết rằng có những lĩnh vực trong cuộc sống không thuộc về hoàng đế, mà thuộc thẩm quyền của Đức Chúa Trời”. CHÚA JESUS đưa ra nguyên tắc quan trọng nhất mà trong đó đều dung hòa sự công nhận quyền lực chính trị thế tục, cũng như là tôn giáo. Nhà sử học Akton người Anh đã bình luận như sau: “Những lời này của CHÚA JESUS …đã ban cho quyền lực thế tục … một sự thánh khiết mà nó chưa bao giờ có, và đặt ra cho nó những giới hạn không được vượt qua mà nó chưa bao giờ công nhận.” Trong những lời phán này cùng một lúc được công nhận quyền hạn của chính quyền, cũng như sự tự do của lương tâm. Ở đây Tân Ước mở ra một chủ đề về mối liên quan giữa Cơ đốc nhân và chính quyền nhà nước. Cơ đốc nhân có 2 quốc tịch: trên đất và trên trời. Mỗi quốc tịch đều đem đến những đặc quyền và cơ hội, nhưng nó cũng kéo theo trách nhiệm và nghĩa vụ. Kể như quá tốt nếu như cả nhà nước trên đất và Nước Trời đều chung một hiến pháp và luật pháp. Nhưng đáng tiếc chúng ta thường gặp phải những tình huống xung đột mâu thuẫn giữa 2 giá trị: thế tục và Nước Trời. Nhiều khi chúng ta đành phải đưa ra những lựa chọn: vâng phục chính quyền thế tục, hay là làm đẹp lòng Đức Chúa Trời? Và CHÚA JESUS dạy “Vật chi của Sê-sa hãy trả lại cho Sê-sa, còn vật chi của Đức Chúa Trời hãy trả lại cho Đức Chúa Trời.”
Có 3 khái niệm: 1/ Sự tồn tại của chính quyền nhà nước được xác lập bởi Đức Chúa Trời. Ở đây Kinh thánh không ngụ ý về một cá nhân hay tổ chức chính quyền cụ thể nào đó, mà nói về hệ thống tổ chức của nhà nước. Nếu không có luật pháp thì xã hội sẽ trở nên hỗn loạn. Nhà nước thu thuế của dân để thiết lập các chế độ an sinh xã hội, nếu không có nhà nước thì nhiều dịch vụ con người không thể làm được. 2/ Mặc dù nhà nước sử dụng tiền thuế để tạo nên nhiều ích lợi xã hội, nhưng người ta không thể sử dụng được hết những tiện ích này. Ví dụ người nông thôn không thể sử dụng được những tiện ích thành thị. Tuy nhiên việc tuân giữ luật pháp là nghĩa vụ và trách nhiệm mà công dân không được phép trốn tránh. “Vật chi của Sê-sa hãy trả lại cho Sê-sa” – có nghĩa là trong đời sống hàng ngày chúng ta phải tuân thủ những trách nhiệm công dân: trả thuế, tham gia bầu cử, đi lính, tuân thủ luật giao thông, tham gia xây dựng xã hội,… 3/ Nhưng tuân giữ nghĩa vụ và trách nhiệm trước luật pháp và nhà nước chỉ đến một giới hạn nào đó thôi. Như vậy nếu luật pháp nhà nước đưa ra những yêu cầu hợp lý và công bằng, thì chúng ta cần phải tuân giữ. Nhưng, cuối cùng nhà nước và con người đều thuộc về Đức Chúa Trời và nằm dưới thẩm quyền của Ngài. Do đó nếu luật pháp nhà nước chống nghịch lại Đức Chúa Trời thì chúng ta sẽ chọn thứ tự ưu tiên là vâng phục Đức Chúa Trời. Trong hoàn cảnh bình thường Cơ đốc nhân phải là những công dân tốt nhất trong xã hội.
Chúng ta xem lại câu 17 “Đức Chúa Jêsus phán rằng: Vật chi của Sê-sa hãy trả lại cho Sê-sa, còn vật chi của Đức Chúa Trời hãy trả lại cho Đức Chúa Trời. Họ đều lấy làm lạ về Ngài.” Chúng ta học biết là phải tuân thủ luật pháp, phải trả thuế. Nhưng vế hai của câu này là điều rất quan trọng để áp dụng cá nhân. Trên đồng tiền có in hình của Ceasar, nên nó thuộc quyền sở hữu của Ceasar. Còn Đức Chúa Trời in hình của Ngài trên con người, do đó con người thuộc về Chúa. Chúng ta hãy suy gẫm, có lĩnh vực nào trong cuộc sống mà chúng ta chưa dâng cho Đức Chúa Trời?
Trong mối quan hệ với người khác, với anh chị em khác chúng ta hay chiếm vị trí quan tòa để phán xét. Người Việt chúng ta hay có thói quen suy diễn, sau đó chụp mũ. Đây cũng là tội phán xét. Gia-cơ 4:12 chép “Chỉ có một Đấng lập ra luật pháp và một Đấng xét đoán, tức là Đấng cứu được và diệt được. Nhưng ngươi là ai, mà dám xét đoán kẻ lân cận mình?” Chúng ta phải trả lại vị trí quan tòa xét xử cho Đức Chúa Trời.
Khi chúng ta bị tự ái tổn thương thì chúng ta mắc phải tội không tha thứ. Để tha thứ chúng ta cũng phải trao lĩnh vực này cho Chúa và mời Ngài đến để ngự trị trong lĩnh vực này.
Dâng hiến 1/10. Tiền bạc và thời gian.
Thời gian cầu nguyện.
Thời gian đọc, học Kinh thánh và viết thu hoạch suy gẫm.
Ngày chủ nhật dâng cho Chúa.
II. Đức Chúa Trời của Abraham, Isaac và Gia-cốp (18-27):
3. Người sa-đu-sê có ý kiến gì về sự sống lại? (18) Theo luật pháp, khi người anh cả qua đời, để vợ lại, không con, thì phải giải quyết vấn đề nối dõi như thế nào? (19, Phục truyền 25) Trên cơ sở này, người sa-đu-sê đã đưa ra câu hỏi kỳ lạ gì? (20-23) Họ có ngụ ý gì?
Chúng ta xem câu 18- “18 Các người Sa-đu-sê, là những kẻ vẫn nói rằng không có sự sống lại, đến gần mà hỏi Ngài rằng.”
Chúng ta thấy thêm một nhóm người thứ ba đến với CHÚA JESUS để hỏi khó Ngài. Sa-đu-sê là một đảng phái nhỏ, gồm tầng lớp quý tộc, những người giàu và các thầy tế lễ. Người ta thường chọn thầy tế lễ cả từ đảng sa-đu-sê. Mục đích của họ là bảo vệ tài sản của mình, nên họ sẵn sàng thỏa hiệp với La-mã. Người sa-đu-sê có 2 điểm đặc biệt: 1/ người sa-đu-sê chỉ theo 5 sách Ngũ kinh Môi-se. 2/ họ không tin vào sự bất tử, vào sự tồn tại của ma quỷ và thiên sứ. Họ nói rằng trong những cuốn sách đầu tiên của Kinh thánh không nói về sự đời đời nên họ không công nhận sự phục sinh.
Chúng ta xem câu 19-23 “19 Thưa thầy, Môi-se đã ban cho chúng tôi luật nầy: Nếu một người kia có anh em qua đời, để vợ lại, không con, thì người kia phải lấy vợ góa đó đặng nối dòng dõi cho anh em mình. 20 Vả, có bảy anh em. Người thứ nhất cưới vợ, rồi chết, không có con. 21 Người thứ hai lấy vợ góa ấy, sau chết, cũng không có con; rồi đến người thứ ba cũng vậy. 22 Trong bảy người, chẳng ai để con lại. Sau hết, người đàn bà cũng chết. 23 Lúc sống lại, đàn bà đó là vợ ai trong bảy anh em? vì hết thảy đều đã lấy người làm vợ.” Trong xã hội Do thái có tồn tại một luật lệ về anh em chồng và chị em dâu được chép ở Phục truyền 25:5-10. Mục đích là để bảo vệ phụ nữ góa, giữ gìn gia tộc và để của sở hữu giữ lại trong gia đình. Dựa vào luật này người sa-đu-sê nghĩ ra một kịch bản đầy kịch tính, xứng tầm Sheakespear. Và họ đến với CHÚA JESUS kể câu chuyện bi thảm này với mục đích chế nhạo đức tin vào sự phục sinh. Câu hỏi của người sa-đu-sê là như thế này: theo luật về anh em chồng và chị em dâu, thì một người phụ nữ đã lần lượt làm vợ của 7 anh em ruột, sau này khi phục sinh trong cõi đời đời, thì cô ta sẽ là vợ của ai? Họ tưởng rằng nếu đặt ra câu hỏi như vậy, thì có thể tưởng tượng ra ý tưởng về sự phục sinh quá đỗi buồn cười.
4. CHÚA JESUS phán về sự thiếu hiểu biết của họ như thế nào? (24-25) Họ bị sai lầm thế nào về sự sống lại? Sau sự phục sinh con người sẽ như thế nào?
CHÚA JESUS trách họ “24 Đức Chúa Jêsus đáp rằng: Há chẳng phải các ngươi lầm, vì không biết Kinh Thánh, cũng không hiểu quyền phép Đức Chúa Trời sao?” Những người này chắc là đã đọc Kinh thánh nhiều lần, thậm chí còn thuộc lòng nhiều phân đoạn trong Kinh thánh. Phần lớn thời gian họ ở trong đền thờ, lại còn là những lãnh đạo tôn giáo. Họ nghĩ là họ hầu việc Đức Chúa Trời. Nhưng CHÚA JESUS phán: những chức vụ tôn giáo cao trọng, sự giàu có, thời gian các ngươi ở trong đền thờ – tất cả là vô ích vì các ngươi lầm, vì không biết Kinh Thánh, cũng không hiểu quyền phép Đức Chúa Trời. Thật là đáng sợ khi nghe tuyên bố như vậy từ Chúa! Thật đáng sợ khi thấy rằng đến lúc nhắm mắt xuôi tay nhận ra rằng cả đời bạn đã sai lầm! Lời Chúa kêu gọi chúng ta nhận biết rõ ý muốn Chúa và quyền phép của Ngài qua Kinh thánh. Cần phải cố sức để hiểu lời Chúa. Không phải để có kiến thức uyên bác, mà để thực hành lời Chúa trong cuộc đời mình. Và khi đó Đức Thánh Linh sẽ mở trí hiểu và bày tỏ Đức Chúa Trời cho những ai hết lòng tìm kiếm Ngài. Sự nhận biết Đức Chúa Trời thật sự thay đổi con người. Vì vậy việc học lời Chúa cách nghiêm túc rất quan trọng vì chỉ qua đó chúng ta mới có thể nhận biết Đức Chúa Trời.
Tiếp đến chúng ta xem câu trả lời của CHÚA JESUS “ 25 Vì đến lúc người ta từ kẻ chết sống lại, thì chẳng cưới vợ, chẳng lấy chồng; nhưng các người sống lại đó ở như thiên sứ trên trời vậy. 26 Còn về những người chết được sống lại, thì trong sách Môi-se có chép lời Đức Chúa Trời phán cùng người trong bụi gai rằng: Ta là Đức Chúa Trời của Áp-ra-ham, Đức Chúa Trời của Y-sác, Đức Chúa Trời của Gia-cốp, các ngươi há chưa đọc đến sao? 27 Ngài chẳng phải là Đức Chúa Trời của kẻ chết, mà là của kẻ sống! Thật các ngươi lầm to.”
Câu trả lời của CHÚA JESUS được chia làm 3 ý chính:
1/ CHÚA JESUS giải thích về nguyên lý của sự sống lại. Ngài tuyên bố rằng trong sự phục sinh những định luật vật lý và vật chất không còn tác dụng nữa. Những người được phục sinh sẽ mặc lấy thân thể mới, giống như thiên sứ, và những nan đề vật chất, thể xác: ví dụ như cưới xin hôn nhân không có tồn tại nữa. Ngài dạy rằng chúng ta không thể dùng những lăng kính của cuộc sống trên đất để đánh giá cõi đời đời. Đây là sai lầm của người sa-đu-sê cũng như là của rất nhiều người trong thời đại chúng ta: họ tưởng tượng Thiên đường theo những gì thấy trên mặt đất. Con người thường nghĩ về Thiên đường theo những gì họ muốn. Có nhiều người nói: “trên Thiên đường không có xung đột, không cãi cọ, không có nan đề, thế thì cuộc sống buồn chán quá nhỉ!?” Sứ đồ Phao-lô nói trong 1 Cô-rinh-tô 2:9 “Ấy là sự mắt chưa thấy, tai chưa nghe, Và lòng người chưa nghĩ đến, Nhưng Đức Chúa Trời đã sắm sẵn điều ấy cho những người yêu mến Ngài.” Sự sống đời đời trên Thiên đàng thật vô cùng vĩ đại, và tuyệt vời mà chúng ta không thể nào tưởng tượng được.
5. Khi Đức Chúa Trời phán dạy Môi-se, Ngài phán dạy về chính Ngài như thế nào? (26) Điều đó có nghĩa là gì? Đức Chúa Trời là Đức Chúa Trời của ai? (27) Ai là kẻ chết và ai là kẻ sống? Đức Chúa Trời của kẻ sống ban cho chúng ta hy vọng gì?
2/ Tiếp theo CHÚA JESUS đưa ra những bằng cớ của sự phục sinh. Ngài lấy luôn chứng cớ trong sách Ngũ kinh, mà người sa-đu-sê rất tôn kính và họ cho rằng trong đó không có một chỉ dẫn hay chứng cớ nào về sự phục sinh. Trong Xuất Ê-díp-tô Ký 3:6 chép “Rồi Ngài lại nói: Ta là Đức Chúa Trời của tổ phụ ngươi, Đức Chúa Trời của Áp-ra-ham, Đức Chúa Trời của Y-sác, và Đức Chúa Trời của Gia-cốp.” Trong văn phạm ngữ pháp tiếng Do-thái “Ta là” chỉ về thì hiện tại “I am”, ngụ ý rằng Đức Chúa Trời là – Đấng hiện sống, cũng là Đức Chúa Trời của những người hiện vẫn sống, chứ không phải của những kẻ đã chết. Điều đó có nghĩa là những tổ phụ cũng đang sống. Và đó chính là chứng cớ về sự phục sinh.
3/ Cuối cùng CHÚA JESUS khẳng định chắc chắn về sự phục sinh và mối liên hệ không tách rời giữa Đức Chúa Trời với người tin vào Ngài. Đức Chúa Trời là bạn hữu của Abraham, Isaac và Gia-cốp, và tình bạn này sự chết cũng không tách rời được. Đức Chúa Trời sẽ luôn là Đức Chúa Trời vĩnh hằng cho những ai yêu Ngài và hầu việc Ngài.
Chúng ta có mối liên hệ cá nhân mật thiết giữa tôi với Đức Chúa Trời hay không? Chúng ta phải suy nghĩ về đức tin của mình: Đức Chúa Trời có hổ thẹn khi xưng Ngài là Đức Chúa Trời của tôi hay không, giống như Ngài rất vui khi xưng Ngài là Đức Chúa Trời của Abraham, Isaac và Gia-cốp? (Hê-bơ-rơ 11:16) Nếu chúng ta có đức tin, Đức Chúa Trời sẽ rất vui mà xưng là Đức Chúa Trời của cá nhân tôi. Đức Chúa Trời của Abraham, Isaac và Gia-cốp cũng là Đức Chúa Trời của tôi!
Ngày hôm nay chúng ta đã học biết thái độ của Cơ đốc nhân trước chính quyền nhà nước, cũng như tìm ra những lĩnh vực nào chúng ta cần phải dâng trả lại cho Đức Chúa Trời. Cầu xin Chúa Thánh Linh ban cho chúng ta sự khôn ngoan và sự khải thị để chúng ta tăng trưởng trong sự nhận biết Chúa. Amen.
Leave a Reply
Bạn phải đăng nhập để gửi phản hồi.