2025 Thư Rô-ma
Hoạt động thiêng liêng thần thánh của việc rao giảng Phúc âm
Rô-ma 15:14-33
Câu khóa 15:16
*Đoạn Rô-ma 15:14–33 kết thúc thư của Phao-lô. Phần này cho thấy rõ mục đích của Phao-lô khi viết bức thư này. Thư gửi cho Hội thánh Rô-ma là thư của một nhà truyền giáo. Ông được kêu gọi làm sứ đồ cho dân ngoại để làm chứng về Phúc âm của Chúa Giê-su đến tận cùng trái đất. Giờ đây, bất chấp nhiều trở ngại, Phao-lô không chịu bỏ cuộc và khao khát đến Rô-ma. Tại sao Phao-lô lại tha thiết muốn gặp gỡ các tín hữu Rô-ma đến vậy? Ông hy vọng sẽ củng cố niềm tin của các tín hữu Rô-ma vào lẽ thật của Phúc âm để họ cũng sinh ra bông trái. Trái này bày tỏ đức tin của họ vào Phúc âm và sự tham gia của họ vào công tác truyền giáo toàn cầu. Mục tiêu của Phao-lô là đến Tây Ban Nha, được coi là tận cùng trái đất vào thời điểm đó, và làm chứng về Phúc âm ở đó. Ông hy vọng rằng các tín hữu Rô-ma sẽ cùng chia sẻ đức tin của ông và tham gia vào công tác truyền giáo của ông thông qua việc cầu thay và hỗ trợ vật chất. Cần có một điều kiện quan trọng cho việc này. Hội thánh Rô-ma phải có đức tin Phúc âm thuần khiết; chỉ khi đó họ mới có thể là những người cùng làm việc với Phao-lô, cùng chia sẻ một đức tin. Do đó, trong Rô-ma chương 1-15, Phao-lô đã dạy về sự công chính của Đức Chúa Trời, sự xưng công chính bởi đức tin, và một đời sống kết quả dưới sự hướng dẫn của Đức Thánh Linh. Phần cuối chương 15 nói về lòng kính trọng sâu sắc và sự tận tâm của Phao-lô đối với chức vụ thầy tế lễ của Phúc âm mà ông đã nhận được từ Đức Chúa Trời.
Chương 16 là lời chào cuối cùng.
- Đức Chúa Trời đã ban ân điển nào cho Phao-lô (15:14–16a)? Vai trò của một thầy tế lễ Tin lành là gì (16b)? Phao-lô đã tự hào về điều gì trong Đấng Christ, và những nguyên tắc nào đã hướng dẫn ông trong việc rao giảng Tin lành (17–21)?
14 Hỡi anh em, về phần anh em, tôi cũng tin chắc rằng anh em có đầy lòng nhân từ, đủ điều thông biết trọn vẹn, lại có tài khuyên bảo nhau. 15 Nếu tôi đã lấy lòng thật dạn dĩ mà viết thơ nói điều nầy điều kia với anh em, ấy là để nhắc lại cho anh em nhớ, bởi ơn Đức Chúa Trời đã làm cho tôi.
Tại đây, Phao-lô tiết lộ mục đích đầu tiên của việc viết Thư Rô-ma. Phao-lô khen ngợi đức tin trưởng thành của các thánh đồ Rô-ma. Điều này có nghĩa là Hội Thánh Rô-ma là một hội thánh trưởng thành. Tuy nhiên, ông viết Thư Rô-ma để nhắc nhở họ về những lẽ thật Phúc âm mà họ đã biết. Bằng cách nghe đi nghe lại những điều họ đã biết, họ xác nhận lẽ thật của Phúc âm. Hơn nữa, những sai lầm có thể được sửa chữa và những thiếu sót có thể được bù đắp. Việc nghe đi nghe lại Phúc âm là điều thiết yếu đối với chúng ta.
Khi học bơi, chúng ta cần luyện tập liên tục cho đến khi nó trở thành phản xạ tự nhiên. Bằng cách làm quen với điều này thông qua luyện tập lặp đi lặp lại, chúng ta trở thành bậc thầy dưới nước. Điều tương tự cũng đúng với chân lý của Phúc âm. Nếu chúng ta chỉ nghe và hiểu Phúc âm, chúng ta không thể trải nghiệm được sức mạnh của nó. Chúng ta không thể tận hưởng trọn vẹn tình yêu vĩ đại của Đức Chúa Trời và ân điển của Chúa Giê-su chứa đựng trong đó. Bằng cách liên tục đọc, học hỏi, lắng nghe và ghi chép Lời Chúa, chúng ta phát triển khả năng áp dụng nó vào cuộc sống của mình. Khi được tràn đầy sức mạnh ban sự sống dồi dào của Lời Chúa, tính cách của chúng ta được biến đổi, và chúng ta kết trái trong cuộc sống. Chúng ta dần dần trở nên giống Chúa Giê-su hơn. Đó là lý do tại sao Phao-lô nhắc đi nhắc lại chân lý Phúc âm cho các tín hữu Rô-ma, mặc dù họ đã biết điều đó rồi, để nhắc nhở họ về điều đó.
16 nên chức việc của Đức Chúa Jêsus Christ giữa dân ngoại, làm chức tế lễ của Tin Lành Đức Chúa Trời, hầu cho dân ngoại được làm của lễ vừa ý Chúa, nên thánh bởi Đức Thánh Linh.
Trong câu 15, Phao-lô nói rằng ông viết bức thư này nhờ ân điển mà Đức Chúa Trời ban cho ông. Ân điển nào ông đã nhận được? Đó là trở thành sứ đồ cho dân ngoại và rao giảng Phúc âm của Đức Chúa Trời. (16) Phao-lô hiểu rõ chức vụ và sứ mệnh mà Đức Chúa Trời đã giao phó cho ông. Ông là một thầy tế lễ rao giảng Phúc âm cho dân ngoại.
Trong Cựu Ước, các thầy tế lễ đóng vai trò trung gian giữa Đức Chúa Trời và dân Israel. Họ dâng tế lễ để chuộc tội cho dân chúng và dạy họ lời Chúa. Vì chức vụ thầy tế lễ là cao quý, vinh hiển và thánh thiện nhất, họ mặc những bộ trang phục đẹp nhất. Mười hai viên đá quý được đặt trên ngực và vai họ.
Tuy nhiên, các thầy tế lễ trong Cựu Ước chỉ là hình bóng của Chúa Giê-su, Thầy Tế Lễ Thượng Phẩm đời đời của chúng ta. Họ dâng tế lễ bằng động vật, dâng một sự chuộc tội tạm thời và không hoàn hảo. Chính Chúa Giê-su đã giải quyết vấn đề tội lỗi của toàn nhân loại bằng cách chết trên thập tự giá và đổ huyết Ngài. Đức Chúa Trời không chỉ biến chúng ta thành con cái Ngài, được cứu chuộc bởi huyết của Chúa Giê-su, mà còn ban cho chúng ta chức thầy tế lễ hoàng gia. 1 Phi-e-rơ 2:9: “Nhưng anh em là dòng dõi được chọn, là chức tư tế hoàng gia, là dân thánh, là dân biệt riêng của Đức Chúa Trời, để anh em rao truyền những lời ngợi khen Đấng đã gọi anh em ra khỏi tối tăm vào ánh sáng kỳ diệu của Ngài.” Chúng ta đã được ban cho chức vụ vinh hiển của các thầy tế lễ hoàng gia trong thời đại này. Chúng ta là những thầy tế lễ hoàng gia!!! Bằng cách rao giảng Phúc âm, chúng ta hòa giải Đức Chúa Trời và những tội nhân. Sứ đồ Phao-lô biết chức vụ này vinh hiển và quý giá đến mức nào. Ông được giao phó chức thầy tế lễ của Phúc âm cho dân ngoại. Vì vậy, ông rao giảng Phúc âm chủ yếu cho dân ngoại (20:21).
17 Vậy tôi có cớ khoe mình trong Đức Chúa Jêsus Christ về điều hầu việc Đức Chúa Trời.
Phao-lô tự hào về điều gì trong Chúa Giê-su? Ông không tự hào về những thành tựu của riêng mình, mà về những gì Đức Chúa Trời đã làm. Phao-lô trở thành thầy tế lễ Phúc âm bởi ân điển của Đức Chúa Trời. Hơn nữa, sự cứu rỗi linh hồn không phải do sức mạnh con người, mà là do sự tác động của Đức Thánh Linh. Vì vậy, một thầy tế lễ Phúc âm không có gì để tự hào ngoại trừ ân điển của Đức Chúa Trời. Việc tự hào về ân điển của Đức Chúa Trời không thể nào thái quá.
Hãy xem các câu 18-19: 18 Vì tôi chẳng dám nói những sự khác hơn sự mà Đấng Christ cậy tôi làm ra để khiến dân ngoại vâng phục Ngài, bởi lời nói và bởi việc làm, 19 bởi quyền phép của dấu kỳ phép lạ, bởi quyền phép của Thánh Linh Đức Chúa Trời. Ấy là từ thành Giê-ru-sa-lem và các miền xung quanh cho đến xứ I-ly-ri, tôi đã đem đạo Tin Lành của Đấng Christ đi khắp chốn.
Trong chuyến truyền giáo thứ ba, Phao-lô đã thành lập một số hội thánh ở Tiểu Á và Ma-xê-đô-ni-a. Ông khẳng định rằng điều này được thực hiện “bởi lời nói và việc làm”, “bởi quyền năng của các dấu kỳ phép lạ “, và “bởi quyền năng của Thánh Linh Đức Chúa Trời”. Bất cứ nơi nào Phao-lô đến, ông đều mạnh dạn rao giảng Phúc âm cho dân ngoại. Quyền năng của Thánh Linh được bày tỏ qua lời chứng của ông. Kết quả là, dân ngoại ăn năn và được cứu rỗi, và Phúc âm được rao giảng rộng rãi từ Giê-ru-sa-lem đến Illyricum.
Điều tương tự cũng áp dụng cho chức vụ của chúng ta. Chúng ta không thể cứu rỗi một linh hồn nào bằng sức riêng hay khả năng của mình. Tuy nhiên, nếu chúng ta tin vào quyền năng của Đức Thánh Linh ở trong chúng ta và mạnh dạn rao giảng Lời Chúa, Đức Thánh Linh sẽ làm những dấu kỳ phép lạ trong lòng những con chiên. Trong việc rao giảng Phúc âm, chúng ta chỉ có thể trông cậy vào Đức Thánh Linh.
20 Nhưng tôi lấy làm vinh mà rao Tin Lành ở nơi nào danh Đấng Christ chưa được truyền ra, để cho khỏi lập lên trên nền người khác, 21 như có chép rằng: Những kẻ chưa được tin báo về Ngài thì sẽ thấy Ngài, những kẻ chưa nghe nói về Ngài thì sẽ biết Ngài.
Phao-lô có một nguyên tắc: ông không rao giảng Phúc âm ở những nơi danh Đấng Christ đã được rao giảng. Nếu chỉ cần một người chưa biết Chúa Giê-su được cứu rỗi nhờ tôi, đó đã là điều tuyệt vời rồi. Chúa Giê-su phán rằng một linh hồn đáng giá hơn cả thế giới. Vậy thì chức vụ tư tế Phúc âm – rao giảng Phúc âm để cứu rỗi những linh hồn đang hư mất trong tội lỗi – quả là một chức vụ quý giá và vinh hiển biết bao! Đó là một chức vụ quý báu, một chức vụ mà chúng ta sẽ không bao giờ hối tiếc khi dâng hiến đời mình cho nó. Sứ đồ Phao-lô biết rõ chức vụ tư tế Phúc âm vinh hiển đến mức nào, và vì vậy ông đã hết lòng thực hiện nó.
- Tại sao Phao-lô muốn đến thăm Rôma trước khi đi Tây Ban Nha (22–24, 28b–29)? Điều đầu tiên ông muốn làm trước khi đến Rôma là gì (25–28a)? Phao-lô đã cầu xin các tín hữu Rôma cầu nguyện điều gì (30–33) ?
22 Ấy cũng là điều đã nhiều lần ngăn trở tôi đi đến thăm anh em. 23 Nhưng bây giờ chẳng còn có chi cầm buộc tôi lại trong các miền nầy nữa; vả lại, đã mấy năm nay, tôi rất ước ao đến cùng anh em; 24 vậy nếu tôi có thể đi xứ Tây ban nha được, thì mong rằng sẽ tiện đường ghé thăm anh em; sau khi được chút thỏa lòng ở với anh em rồi, thì nhờ anh em sai đưa tôi qua xứ ấy.
Những câu Kinh Thánh này cho thấy mục đích thứ hai của Phao-lô khi viết Thư Rô-ma. Ông đã đi khắp Tiểu Á và Ma-xê-đô-ni-a. Ông không còn nơi nào chưa đi đến ở những vùng đất này nữa. Tuy nhiên, ông biết mệnh lệnh của Chúa Giê-su là phải rao giảng Phúc âm đến tận cùng trái đất (Công vụ 1:8). Vào thời điểm đó, tận cùng trái đất là Tây Ban Nha, biên giới phía tây nhất của châu Âu. Mục tiêu của Phao-lô là tuân theo mệnh lệnh của Chúa Giê-su và đi đến Rô-ma rồi đến Tây Ban Nha.
Tuy nhiên, trước khi đến Tây Ban Nha, Phao-lô muốn dừng chân ở Rô-ma để thông công với các tín hữu Rô-ma (Rô-ma 1:11-13). Ông cũng hy vọng nhận được sự cầu thay và sự hỗ trợ vật chất từ họ trước khi đến Tây Ban Nha. Đây là sự khôn ngoan thực tiễn cho công tác truyền giáo toàn cầu.
Cho đến thời điểm này, Phao-lô đã sử dụng hội thánh ở An-ti-ốt làm căn cứ truyền giáo cho Tiểu Á và Ma-xê-đô-ni-a. Tuy nhiên, An-ti-ốt quá xa Tây Ban Nha và không phải là một căn cứ truyền giáo thích hợp. Vì vậy, ông quyết định sử dụng hội thánh ở Rô-ma làm căn cứ truyền giáo cho những người tiên phong đến Tây Ban Nha. Để đạt được mục đích này, ông đã cầu nguyện rằng các tín hữu Rô-ma sẽ vững vàng trong lẽ thật của Phúc âm. Thư Rô-ma được viết qua lời cầu nguyện của một nhà truyền giáo như vậy, là Phao-lô.
25 Nay tôi qua thành Giê-ru-sa-lem đặng giúp việc các thánh đồ. 26 Vì người xứ Ma-xê-đoan và xứ A-chai vui lòng quyên tiền để giúp những thánh đồ ở thành Giê-ru-sa-lem đang nghèo túng. 27 Họ vui lòng làm sự đó, và cũng mắc nợ các người đó nữa; vì nếu người ngoại đã có phần về của cải thiêng liêng người Giu-đa, thì cũng phải lấy của cải thuộc về phần đời mà giúp cho người Giu-đa. 28 Vậy khi tôi làm xong việc ấy, và giao quả phước nầy cho họ rồi, tôi sẽ ghé nơi anh em đặng đi đến sứ Y-pha-nho. 29 Tôi biết khi tôi sang với anh em, thì sẽ đem ơn phước dồi dào của Đấng Christ cùng đến.
Hội thánh ở Giê-ru-sa-lem từ lâu đã phải chịu đựng sự bắt bớ và nạn đói. Khi nghe tin này, Phao-lô kêu gọi các hội thánh ngoại bang ở Ma-xê-đô-ni-a, A-chai-a, Cô-rinh-tô và những nơi khác hỗ trợ hội thánh mẹ đang chịu khổ. Các hội thánh ngoại bang mang ơn thiêng liêng đối với hội thánh ở Giê-ru-sa-lem, và ông kêu gọi họ trả ơn này bằng sự hỗ trợ vật chất. Lễ vật này là kết quả của sứ mệnh truyền giáo cho dân ngoại và là mối liên kết giữa hội thánh ở Giê-ru-sa-lem và dân ngoại. Vì vậy, Phao-lô đã mạo hiểm và trao lễ vật cho hội thánh Giê-ru-sa-lem trước khi lên đường về Rô-ma.
30 Vậy, hỡi anh em, nhờ Đức Chúa Jêsus Christ chúng ta, và nhờ sự yêu thương sanh bởi Đức Thánh Linh, tôi khuyên anh em phải cùng tôi chiến đấu trong những lời cầu nguyện mà anh em vì tôi trình cùng Đức Chúa Trời, 31 hầu để tôi được thoát khỏi những người chẳng tin trong xứ Giu-đê, và của làm phước mà tôi đem qua thành Giê-ru-sa-lem sẽ được các thánh đồ vui lòng nhậm lấy. 32 Bấy giờ tôi có thể vui mừng đi đến anh em, và nếu vừa ý Đức Chúa Trời, cũng nếm mùi an nghĩ với anh em nữa. 33 Nguyền xin Đức Chúa Trời bình an ở với anh em hết thảy! A-men.
Phao-lô là một tôi tớ quyền năng của Đức Chúa Trời. Đức Thánh Linh ở cùng ông, thực hiện nhiều dấu kỳ phép lạ. Tuy nhiên, ông vẫn yêu cầu các thánh đồ ở Rô-ma cầu nguyện cho mình. Bởi vì ông hiểu rất rõ sức mạnh của lời cầu nguyện. Chúng ta có thể tự hỏi: “Cầu nguyện thì có ích gì?” Chúng ta thậm chí có thể rơi vào cái bẫy suy nghĩ rằng chẳng có gì xảy ra khi chúng ta cầu nguyện. Tuy nhiên, Đức Chúa Trời hành động qua mọi lời cầu nguyện. Ê-li là một người giống như chúng ta về bản chất. Khi ông cầu nguyện xin không mưa, mưa đã không rơi trong ba năm rưỡi. Và khi ông cầu nguyện tha thiết xin mưa, mưa đã từ trên trời rơi xuống. Một trong những đặc ân lớn nhất của những người được Đức Chúa Trời cứu chuộc là cầu nguyện trong danh Chúa Giê-su. Khi chúng ta cầu nguyện trong danh Chúa Giê-su, Đức Chúa Trời chấp nhận lời cầu nguyện của chúng ta như chính lời cầu nguyện của Ngài. Nói cách khác, Ngài nghe và hành động qua tất cả những lời cầu nguyện của chúng ta, không để một lời cầu nguyện nào thất bại. Chính với niềm tin này mà sứ đồ Phao-lô đã yêu cầu các thánh đồ ở Rô-ma cầu nguyện cho mình.
Công việc truyền giáo là một trận chiến tâm linh khốc liệt với Sa-tan ở tuyến đầu. Để chiến thắng trận chiến tâm linh này, chúng ta phải cầu nguyện. Cầu nguyện giống như bắn đại bác và tên lửa vào kẻ thù. Chúng ta phải cầu nguyện cho các nhà truyền giáo đang làm việc trên cánh đồng truyền giáo. Chúng ta cũng phải cầu nguyện không ngừng cho con chiên và những người cùng làm việc với mình. Mỗi khi chúng ta quỳ gối cầu nguyện, Chúa đều hành động với quyền năng lớn lao, giúp chúng ta chiến thắng trận chiến tâm linh. Chúng ta phải hoàn thành sứ mệnh của mình bằng cách cầu nguyện cho linh hồn của các học sinh và truyền bá Phúc âm với một nhận thức rõ ràng về bản sắc của chúng ta với tư cách là những người rao giảng Phúc âm trong thời đại này.
Leave a Reply
Bạn phải đăng nhập để gửi phản hồi.