CHÚA JESUS VÀO THÀNH JERUSALEM (Mác 11:1-11)

CHÚA JESUS VÀO THÀNH JERUSALEM

Mác 11:1-11

Câu khóa 11:9

Sự kiện này xảy ra khoảng 5 ngày trước khi CHÚA JESUS bị đóng đinh trên thập tự giá. Tuần lễ cuối cùng này được gọi là tuần lễ kỷ niệm Sự thương khó của Chúa. Chúng ta cầu xin Chúa Thánh Linh mở mắt thuộc linh cho chúng ta để qua sự kiện này cho chúng ta thấy CHÚA JESUS là vị Vua chân chính là Đấng như thế nào? Và chúng ta phải có thái độ như thế nào đối với Vua Jesus? Amen.

  1. CHÚA JESUS đi đến đâu? (1) Ngài ban cho hai môn đồ sứ mạng gì? (2) Tại sao lại rất khó để vâng lời Ngài?

Chúng ta xem câu 1 “Khi tới gần thành Giê-ru-sa-lem, bên làng Bê-pha-giê và làng Bê-tha-ni, ngang núi ô-li-ve, Đức Chúa Jêsus sai hai môn đồ đi, 2 và phán rằng: Hãy đi đến làng ngay trước mặt các ngươi; vừa khi vào đó, thấy một con lừa con đang buộc, chưa có ai cỡi; hãy mở nó ra, dắt về cho ta. 3 Hoặc có ai hỏi các ngươi rằng: Vì sao làm điều đó? hãy đáp lại: Chúa cần dùng nó, tức thì họ sẽ cho dắt lừa về đây. 4 Hai người đi, thì thấy lừa con đang buộc ở ngoài trước cửa, chỗ đường quẹo, bèn mở ra. 5 Có mấy kẻ trong những người ở đó hỏi rằng: Các ngươi mở lừa con đó làm chi? 6 Hai người trả lời theo Đức Chúa Jêsus đã dặn; thì họ để cho đi.” Lúc này đây CHÚA JESUS và các môn đồ đã đến cửa ngõ vào thành Jerusalem, và chuẩn bị vào thành. Để chuẩn bị cho việc vào thành Ngài sai 2 môn đồ đi dắt một con lừa con về. Đối với các môn đồ đây là việc rất khó, vì họ không hề biết mục đích của việc này cũng như cách thức để đem con lừa về trông rất “bá đạo”. Nhưng các môn đồ đã vâng phục Chúa.

  1. Làm thế nào mà các môn đ có thể thực hiện được sứ mạng Chúa giao cho?(3) CHÚA JESUS là Đấng như thế nào khi Ngài phánChúa cần dùng nó”? Chúng ta học được gì từ các môn đồ? (4)

Chúng ta hãy xác định một vài điều ở đây vì nếu không sẽ rất khó để hiểu sự kiện này. Nếu chúng ta chỉ đọc 3 sách Tin Lành đầu, thì chúng ta có thể nghĩ rằng CHÚA JESUS lần đầu tiên đến Jerusalem. Nhưng nếu đọc Tin Lành theo Giăng thì mới thấy CHÚA JESUS nhiều lần đã đến thành Jerusalem (Giăng 2:13; 5:1;7:10). Ở đây Ngài có những mối quan hệ với gia đình Martha, Maria và La-xa-rơ ở Bê-tha-ni, mối quan hệ bạn bè bí mật với Giô-sép người Arimathê, có một môn đồ bí mật là Nicodem. Ngài cũng biết rõ rằng Ngài sẽ phải vào thành Jerusalem trên lưng lừa và sẽ phải chết trên thập tự giá. Do đó rõ ràng Ngài đã chuẩn bị trước cho con đường của mình. Trong làng Bê-pha-giê và Bê-tha-ni CHÚA JESUS đã chuẩn bị trước với bạn hữu Ngài một con lừa chưa có ai cưỡi lên, và mật mã để các môn đồ dẫn con lừa đi là “Chúa cần dùng nó.”

  1. Các môn đ và dân chúng đã chuẩn bị đường đi cho Chúa như thế nào? (7-8)

Chúng ta xem câu 7-8 “Hai người dắt lừa con về cho Đức Chúa Jêsus, lấy áo mình trải trên nó; rồi Ngài cỡi lên. Nhiều người trải áo mình trên đường; lại có kẻ rải nhánh cây chặt trong đồng ruộng.” Sự kiện CHÚA JESUS cỡi trên lưng lừa là ứng nghiệm lời tiên tri của Xa-cha-ri 9:9 Hỡi con gái Sin, hãy mừng rỡ cả thể! Hỡi con gái Giê-rusalem, hãy trổi tiếng reo vui! Nầy, Vua ngươi đến cùng ngươi, Ngài là công bình và ban sự cứu rỗi, nhu mì và cỡi lừa, tức là con của lừa cái.” Trọng tâm của lời tiên tri này nhấn mạnh rằng CHÚA JESUS là vị Vua đang đến. Vị Vua này là Đấng như thế nào?

Thứ nhất, Ngài là Vua công bình. Ngài hoàn toàn khác với những vua thế gian. Ngài là Vua duy nhất công bình trên thế gian này. Do đó Vương quốc của Ngài là vương quốc của sự công bình và thánh khiết.

Thứ hai, Ngài là Vua cứu rỗi. Ngài là vị Vua đến để đem sự cứu rỗi cho cả nhân loại. Ngài đến không phải để giải cứu dân Israel ra khỏi ách nô lệ của dân ngoại, của Đế quốc La-mã, nhưng là để cứu dân mình ra khỏi tội lỗi (Mat. 1:21). Ngài có thừa quyền năng để chiến thắng mọi tội lỗi trong chúng ta và Ngài sẽ giải thoát chúng ta ra khỏi mọi quyền lực của tội lỗi.

Thứ ba, Ngài là Vua nhu mì cỡi trên lưng lừa.Thời đó ở xứ Palestine lừa không bị coi là “đồ con lừa”, mà được coi là một loài động vật quý tộc. Vua đi ra chiến trận trên ngựa, nhưng vào thời bình thì cỡi trên lưng lừa. Do đó CHÚA JESUS là vị Vua đến trên lưng lừa tượng trưng cho vị Vua khiêm nhường, nhu mì, vua của hòa bình. Vương quốc của Ngài là vương quốc của sự khiêm nhường, nhu mì và sự phục vụ. Ngài đến để cứu thế gian, chứ không phải để nắm thế gian trong quyền điều khiển, bắt thế gian phải phục vụ Ngài.

Ngài đã giáng sinh trong một chuồng ngựa hôi thối, trong máng cỏ nghèo hèn. Thiên sứ phán với những người mục đồng  rằng “Nầy là dấu cho các ngươi nhìn nhận Ngài: Các ngươi sẽ gặp một con trẻ bọc bằng khăn, nằm trong máng cỏ.” (Lu-ca 2:12) Đó là dấu hiệu của vị Vua khiêm nhường nhu mì. Ngài đến để phục vụ tội nhân, Ngài hạ mình xuống để phục vụ những kẻ phong hủi, những kẻ nghèo hèn, những kẻ bị quỷ ám, kẻ thu thuế và phường đĩ điếm. Giờ đây Ngài đi vào thành Jerusalem trên lưng lừa để bằng sự khiêm nhường và tình yêu thương trở thành Vua cứu rỗi của chúng ta.

Người Do thái chờ đợi một vị Vua đến để đập tan kẻ thù và hủy diệt. Nhưng CHÚA JESUS biết rằng Ngài là Vua của sự khiêm nhường và nhu mì. Ngày hôm đó Ngài vào thành Jerusalem trên lưng con lừa và tuyên bố với cả thế giới rằng Ngài là Hoàng tử hòa bình, là Vua bình an và khiêm nhường. Hành động của Ngài mâu thuẫn với tất cả những gì mà người ta trông đợi và hy vọng.

Đức Chúa Trời dạy chúng ta rằng sự khiêm nhường là lời giải cho nhiều nan đề. Đức Chúa Trời chống cự lại kẻ kiêu ngạo mà ban ơn cho kẻ khiêm nhường. Rất nhiều nan đề xảy ra bởi vì chúng ta trở thành kẻ thù của Thượng Đế. Tội lỗi kiêu ngạo là bản chất của sa-tan, của con rắn. Khi chúng ta để kiêu ngạo nổi lên, thì chính là lúc bản chất con rắn trong chúng ta nổi lên, nó chống lại Thánh Linh của Chúa. Người kiêu ngạo có thể tạm thời thành công trên thế gian một chút thời gian, nhưng chung kết sẽ mất hết và sẽ bị trừng phạt đời đời dưới hỏa ngục. Làm thế nào để biết tôi có kiêu ngạo hay không? 1/ Khi tôi hay nổi giận, la lối, lớn tiếng, mắng chửi trách móc người khác, hoặc hay cãi cọ với người khác – thì rõ ràng là kiêu ngạo rồi. 2/ Nhưng có những người bề ngoài trông rất khiêm nhường, không xung đột với ai, ai nói gì cũng gật, nhưng lại rất bảo thủ. 3/ Có một dạng kiêu ngạo thuộc linh trước Chúa rất khó phát hiện – đó là những người không hề cầu nguyện trông cậy Chúa. Trong mọi việc cứ luôn tự mình “làm chủ, tự chủ” – trong ý nghĩa là không đặt Chúa làm chủ, mà tự mình làm chủ, cứ dựa vào sự tính toán, sự thông minh của mình, không cần cầu nguyện hỏi lời khuyên khôn ngoan nơi Chúa. Chúng ta mới thử liệt kê ra 3 dạng người kiêu ngạo nói trên. Và những người này thường xuyên thất bại, mà không hiểu nguyên nhân từ đâu.

Đáp án, lời giải cho rất nhiều nan đề trong cuộc sống, trong các mối quan hệ – nằm ở sự khiêm nhường. Khiêm nhường không có nghĩa là phải nhu nhược và phục dưới ý người khác. Khiêm nhường – là ở trước mặt Đức Chúa Trời, là đầu phục ý Chúa. Nhưng khiêm nhường không nằm trong bản chất của con người. Loài người sau khi phạm tội đã luôn mang trong mình bản tính kiêu ngạo của con rắn trong vườn Ê-đen. Tính từ khiêm nhường không thuộc về con người và thế gian này. Khiêm nhường chỉ thuộc về CHÚA JESUS. Làm thế nào để tôi có thể trở thành người khiêm nhường? Là chỉ khi chúng ta đầu phục CHÚA JESUS tôn Ngài là Vua, thì Ngài là Vua khiêm nhường sẽ đến và cai trị trong tấm lòng của chúng ta bằng sự khiêm nhường của Ngài. Và chỉ khi đó chúng ta mới có được sự khiêm nhường của Chúa.

Khi chúng ta vâng phục Chúa, tha thứ đi những tổn thương, cay đắng, hận thù, ghét bỏ, che đậy lỗi lầm của anh chị em mình, – đó là hành động của những con người mạnh mẽ thật sự, những con người bản lĩnh thật sự – đó là những người chiến thắng thật. Bởi vì chỉ những người chiến thắng mạnh mẽ thật sự mới có thể tha thứ và nhịn nhục được.

  1. Họ kêu lên điều gì? (9-10) “Hô-sanacó nghĩa là gì? Tại sao họ lại kêu lên như vậy? Câu “Đấng nhân danh Chúa mà đến”, “nước vua Davidcó nghĩa là gì?

Chúng ta xem câu 9-10 “9 Người đi trước kẻ theo sau đều la lên rằng: Hô-sa-na! Đáng khen ngợi cho Đấng nhân danh Chúa mà đến!10 Phước cho nước đến, là nước vua Đa-vít, tổ phụ chúng ta! Hô-sa-na ở trên nơi rất cao! ” Dân chúng vẫn không hiểu ý nghĩa của sự kiện đang diễn ra. Họ không hiểu ý nghĩa của việc Đấng Christ vào thành trên lưng con lừa. Họ nghĩ rằng Vương quốc của Đấng Christ là chiến thắng trước dân ngoại, trước Đế quốc La-mã mà họ mơ ước từ rất lâu rồi. Họ muốn đón gặp CHÚA JESUS là Đấng chiến thắng, nhưng họ không biết được chiến thắng thật sự của Ngài là gì.

Họ kêu lớn tiếng, và chúng ta có thể để ý đến 3 điều mà dân chúng dùng để tung hô CHÚA JESUS  “Hô-sa-na!… Đấng nhân danh Chúa mà đến!… nước vua Đa-vít.” Họ có ngụ ý gì khi kêu lên như vậy? chúng ta cùng xem xét để có thể hiểu họ.

Từ “Hô-sa-na” hay bị hiểu sai nghĩa, người ta thường sử dụng nó như là thán từ ngợi khen ca tụng vua. Nhưng trong tiếng Do-thái “hô-sa-na” có nghĩa là “xin hãy cứu giúp”. Từ này được dùng trong 2 Samuen 14:4 và 2 Các vua 6:26, được người ta sử dụng khi cầu cứu sự giúp đỡ từ vị vua. Dân chúng kêu “hô-sa-na”, không phải để ca tụng CHÚA JESUS như người ta thường trích dẫn, mà đó là lời kêu cầu Đức Chúa Trời can thiệp vào vòng xoay của bánh xe lịch sử và cứu dân Ngài. Dân chúng kêu lên “hô-sa-na” để bày tỏ rằng họ tin CHÚA JESUS là Đấng Messiah đến, họ tin rằng Đức Chúa Trời sẽ cứu họ, nhưng họ hiểu sai rằng sự cứu giúp này là về lĩnh vực chính trị. Họ la lớn “hô-sa-na, nước Vua David”, họ sẵn sàng tung hô và công kênh Ngài vào cung điện và lật đổ vua Hê-rốt, nhưng chỉ vài ngày sau đó khi CHÚA JESUS không thỏa mãn đòi hỏi của họ, họ đã kêu lên: “hãy đóng đinh nó trên thập tự giá”.

Đấng nhân danh Chúa mà đến” được trích dẫn từ Thi thiên 118:26 “Đáng ngợi khen đấng nhân danh Đức Giê-hô-va mà đến! Từ nơi nhà Đức Giê-hô-va chúng tôi đã chúc tụng người.” Đó là một trong những danh xưng của Đấng Messiah. Khi nói về Đấng Messiah, người Do-thái thường nói “Đấng nhân danh Chúa mà đến”. Để hiểu được ý của lời kêu la của dân chúng ở đây chúng ta cần phải biết về lịch sử Do-thái. Vào năm 167 trước Chúa vua Antioch lên ngôi ở Sy-ri. Hắn ta cho rằng sứ mệnh của ông ta là truyền bá lối sống Hy-lạp, văn hóa và tôn giáo Hy-lạp trên toàn thế giới, thậm chí nếu phải dùng vũ lực. Hắn ta chiếm đóng xứ Palestine một thời gian. Hắn ta làm nhơ bẩn đền thờ, thờ thần Dớt (Zeus) ở nơi mà trước đây thờ phượng Đức Giê-hô-va. Xung quanh đền thờ hắn dựng lên các nhà chứa mại dâm. Việc chứa chấp Kinh thánh trong nhà và cắt bì cho con trai bị trừng phạt bằng tử hình. Hắn làm tất cả để tiêu diệt niềm tin của người Do-thái. Và lúc đó Giu-đa Maccabeo dấy lên đánh đuổi Antioch ra khỏi xứ Do-thái vào năm 163. Ông ta đã làm thánh sạch lại đền thờ, sự kiện này được kỷ niệm là ngày lễ phục hưng, được gọi là ngày lễ Hanuka được kỷ niệm hàng năm cho đến ngày nay. Và có lẽ Thi thiên 118 được viết nên để ghi nhớ chiến thắng của Giu-đa Maccabeo và ngày lễ phục hưng Hanuka này. Đó là Thi thiên chiến thắng. Và CHÚA JESUS trích dẫn Thi thiên này để tuyên bố Ngài là Đấng chiến thắng, nhưng chiến thắng của Ngài là chiến thắng quyền lực của sa-tan, của tội lỗi và sự chết.

Nước Vua David” – có nghĩa là dân chúng chờ đợi một Đấng Messiah của riêng dân Do-thái thôi. Họ chờ đợi một vị vua sẽ bằng quyền năng của mình tiêu diệt dân ngoại, chiến thắng Đế quốc La-mã, sẽ đem lại chiến thắng theo quan niệm thế gian, và Ngài sẽ phục hưng lại vương quốc huy hoàng cho Israel giống thời vua David. Trong Giăng 12:18 chép “Ấy cũng tại điều đó mà đoàn dân đi đón Ngài, vì có nghe rằng Ngài đã làm phép lạ ấy.” Họ đón tiếp Ngài vì kỳ vọng Ngài cũng sẽ làm phép lạ cho họ. Họ không quan tâm đến sự tha thứ tội lỗi và cứu rỗi đời đời khỏi hỏa ngục. Họ chỉ chờ đợi một vị vua đến để giải quyết cho họ những nan đề kinh tế, chính trị, vấn đề bánh và cơm áo gạo tiền, vấn đề bệnh tật và sức khỏe, … Do đó sự chờ đợi càng cao bao nhiêu thì sự thất vọng càng lớn bấy nhiêu. Họ đã rất nhanh chóng bị thất vọng về CHÚA JESUS. Từ thái cực này họ chạy đến thái cực khác rất nhanh, từ “hô-sa-na” chuyển sang “đóng đinh nó trên thập tự giá” cũng rất nhanh, chỉ có 5 ngày thôi. Đó là kết cục tất yếu của đức tin phép lạ.

Nhưng đức tin Cơ đốc không nằm ở việc nhất thiết phải kinh nghiệm hay là nhìn thấy được phép lạ Chúa làm, mà tiếp nhận Ngài là Vua của mình. Mà nếu Ngài là vua, thì tôi là thần dân của Ngài. Là thần dân thì phải đầu phục, phải vâng lời Ngài cách vô điều kiện, và để Ngài sử dụng tôi, chứ không phải để tôi điều khiển Ngài. Chúng ta cần phải tiếp nhận đức tin của con lừa “Chúa cần dùng nó”. Nếu Chúa phán với tôi “Chúa cần dùng nó”, thì tôi sẽ trả lời như thế nào?

Khi chúng ta theo Chúa, thờ phượng Chúa bằng sự ngợi khen, bằng những bài ca đầy giai điệu tha thiết rất tốt, nhưng điều đó không đủ. Chúng ta cần phải hiểu rằng CHÚA JESUS không phải đến để thực hiện những mong muốn và mơ ước của tôi. Ngài là Vua mà tôi phải hầu việc, là Đấng mà tôi phải tôn thờ, vâng phục. CHÚA JESUS là đối tượng để chúng ta thờ phượng, chứ không phải để chúng ta đòi hỏi phước hạnh. Chúng ta cần phải dâng đời sống mình để hầu việc Ngài, vì Ngài là Vua! Amen.

Nhưng thật là phước hạnh khi Ngài trở thành Vua của cá nhân tôi, và thật ân điển khi tôi được làm thần dân của Ngài, bởi vì Ngài là Vua công bình, khiêm nhường và nhân từ, đầy lòng yêu thương. Ngài sẽ xây dựng một Thiên đường đầy phước hạnh trong đời sống của tôi. Amen.

Ngày hôm nay chúng ta thấy CHÚA JESUS là Vua chiến thắng, vì Ngài đến để ban chiến thắng thật, bằng sự khiêm nhường nhu mì Ngài chiến thắng tội lỗi và sự chết. Và Ngài đã phục sinh để tể trị đời đời. Tất cả mọi sự đều nằm dưới quyền tể trị, điều khiển của Ngài. Ngài biết hết mọi sự, và Ngài là Đấng chiến thắng toàn năng đang luôn ở cùng tôi. Chúng ta có thể hoàn toàn an tâm phó thác cuộc đời cho Ngài để Ngài tể trị. Ngài sẽ chiến thắng trong đời sống của tôi. Amen.

Be the first to comment

Leave a Reply