NHỮNG KẺ THỜ PHƯỢNG THẬT
Giăng 4:20-24
Đây là phân đoạn Kinh thánh kể về cuộc nói chuyện giữa Chúa Jesus và một người đàn bà Sa-ma-ri, ở bên một giếng nước thành Si-kha, xứ Sa-ma-ri. Nhờ có câu hỏi của bà mà chúng ta nhận được một câu trả lời kinh điển của Chúa Jesus về chủ đề sự thờ phượng thật là gì, và ai là người thờ phượng thật.
Cầu xin Chúa Thánh Linh soi sáng lòng của chúng ta để chúng ta nhận biết chân lý mà Chúa dạy dỗ trong phân đoạn Kinh thánh ngày hôm nay. Amen.
- Sự thờ phượng thật không phụ thuộc vào địa điểm:
Chúng ta cùng xem câu hỏi của người đàn bà này. “20 Tổ phụ chúng tôi đã thờ lạy trên hòn núi nầy; còn dân Giu-đa lại nói rằng nơi đáng thờ lạy là tại thành Giê-ru-sa-lem. ”
Đời vua thứ ba của nước Do-thái là Salomon đã xây dựng đền thờ đầu tiên cho Đức Giê-hô-va để dân Do-thái có thể thờ phượng Chúa. Vua Salomon nổi tiếng là một người khôn ngoan và tài giỏi, nhưng về cuối đời vua trở nên đổ đốn, vì cớ những bà vợ (1 Các vua 10). Ông có bảy trăm bà vợ và ba trăm cung phi; họ làm cho lòng vua lầm lạc. Khi Sa-lô-môn về già, các bà vợ của vua đã quyến rũ vua theo các thần khác. Lòng vua không còn trung thành với Giê-hô-va Đức Chúa Trời mình như Đa-vít, vì Sa-lô-môn đã đi theo nữ thần Át-tạt-tê của người Si-đôn và thần Minh-côm, một thần đáng ghê tởm của người Am-môn. Sa-lô-môn đã làm điều ác dưới mắt Đức Giê-hô-va, Sa-lô-môn xây một nơi cao trên núi đối diện với Giê-ru-sa-lem cho thần Kê-mốt là thần đáng ghê tởm của người Mô-áp, và cho thần Mo-lóc là thần đáng ghê tởm của người Am-môn. Vua cũng làm như vậy cho tất cả các bà vợ ngoại bang của mình; họ xông hương và dâng sinh tế cho các thần của mình. Vì cớ đó Chúa trừng phạt nước Israel, và chia ra là 2 nước: vương quốc phía bắc được gọi là Israel có 10 chi phái, vương quốc phía nam có 2 chi phái gọi là nước Giu-đa. Vua phía bắc là Giê-rô-bô-am lo sợ rằng những chuyến đi về Giê-ru-sa-lem thờ phượng Đức Chúa Trời có thể thúc đẩy mười chi phái phía bắc trở về với nhà Đa-vít (I Vua 12:26-27). Do đó, Giê-rô-bô-am đã chọn hai vị trí chiến lược, Bê-tên ở phía nam (cách thành Jerusalem khoảng 15km) và Đan phía bắc vương quốc ở Sa-ma-ri, để đặt hai tượng bò con bằng vàng, để dân thờ lạy và nói với dân chúng: “Các ngươi đi lên Giê-ru-sa-lem làm chi cho xa xôi! Hỡi Y-sơ-ra-ên! nầy là các thần ngươi, đã đem ngươi ra khỏi xứ Ê-díp-tô.” (1 Các vua 12:28) Giê-rô-bô-am biến Bê-tên thành nơi tôn nghiêm của hoàng gia và trung tâm tôn giáo của vương quốc của ông ( 1 Các Vua 12:29 A-mốt 7:13 ). Tại đây ông đã dựng nơi cao, dựng hình tượng, con bò vàng và lập nghi thức tế đàn. Và dân phía bắc cãi nhau với dân phía nam về nơi thờ phượng. Đây là hoàn cảnh lịch sử giải thích cho câu hỏi của người đàn bà Sa-ma-ri.
Chúng ta xem câu trả lời của Chúa Jesus “21 Đức Chúa Jêsus phán rằng: Hỡi người đàn bà, hãy tin ta, giờ đến, khi các ngươi thờ lạy Cha, chẳng tại trên hòn núi nầy, cũng chẳng tại thành Giê-ru-sa-lem. 22 Các ngươi thờ lạy sự các ngươi không biết, chúng ta thờ lạy sự chúng ta biết, vì sự cứu rỗi bởi người Giu-đa mà đến.” Chúa Jesus giải thích rằng địa điểm thờ phượng không quan trọng nữa, vì đền tạm trong hoang mạc hay là đền thờ ở Jerusalem chỉ là hình bóng về Chúa Jesus. Chúa Jesus nói Ngài là đền thờ “Đức Chúa Jêsus đáp rằng: Hãy phá đền thờ nầy đi, trong ba ngày ta sẽ dựng lại!” (Giăng 2:19) Rồi khi Chúa Jesus thăng thiên, Ngài sai Đức Thánh Linh giáng lâm, thì đền thờ của Đức Chúa Trời ở ngay trong lòng của mỗi người tin đã được tái sinh.
Và đó là tiền đề cho tuyên bố của Chúa Jesus trong câu 23-24. Thờ phượng Chúa thật nằm ở đâu? Ở trong tấm lòng của tôi. Nếu trong tâm linh tôi có Chúa Thánh Linh ngự trị, thì đó là đền thờ thật của Đức Chúa Trời.
Điều này kết hợp với câu Kinh thánh Ma-thi-ơ 18: 20 “20 Vì nơi nào có hai ba người nhân danh ta nhóm nhau lại, thì ta ở giữa họ” giải thích cho chúng ta Hội thánh là gì. Đó không phải là tổ chức, hay Verein thế tục, đó là buổi nhóm của những người đã được tái sinh.
- Đức Chúa trời tìm kiếm những người thờ phượng thật:
Chúng ta xem câu 23 “23 Nhưng giờ hầu đến, và đã đến rồi, khi những kẻ thờ phượng thật lấy tâm thần và lẽ thật mà thờ phượng Cha: ấy đó là những kẻ thờ phượng mà Cha ưa thích vậy.” Trong nguyên tác tiếng Hy-lạp câu này được dịch như sau: “Đức Chúa Cha vẫn luôn tìm kiếm những người thờ phượng Ngài thật”. Trong 2 Sử 16:9 chép “Vì con mắt của Đức Giê-hô-va soi xét khắp thế gian, đặng giúp sức cho kẻ nào có lòng trọn thành đối với Ngài.” Đây là một Tin mừng dành cho chúng ta. Trước đây tôi nghĩ, làm thế nào mà tôi là một tội nhân bẩn thỉu, với môi lưỡi dơ dáy có thể đạt được đến Đức Chúa Trời thánh khiết, làm thế nào để lời cầu nguyện của tôi thấu đến Ngài. Nhưng câu Kinh thánh này khẳng định không phải là chúng ta sẽ phải nỗ lực tìm kiếm Đức Chúa Trời nữa, mà chính Chúa sẽ tìm kiếm chúng ta. Điều kiện duy nhất đó là trở thành “người thờ phượng thật”. Định hướng cho cá nhân tôi và các ace trong nhóm học Kinh Thánh với tôi trong năm 2024 đó là “trở thành những người thờ phượng thật”.
Nhân tiện ở đây nói thêm là cũng có tồn tại những “người thờ phượng giả” nữa. Bề ngoài rất giống nhau. Ca-in và A-bên cùng đến thờ phượng Chúa và dâng của lễ. Nhưng 1 là kẻ sát nhân trong lòng, còn người kia là một “người tử vì đạo”. Chúng ta muốn trở thành ai?
- Người thờ phượng thật là như thế nào?
Chúng ta xem câu 24 “24 Đức Chúa Trời là thần, nên ai thờ lạy Ngài thì phải lấy tâm thần và lẽ thật mà thờ lạy.” Từ lời dạy này của Chúa Jesus chúng ta rút ra được những chân lý như sau:
a) Đức Chúa Trời là Thần. Nguyên lý này được Chúa dạy trong 2 điều răn đầu tiên. Sau khi con người rời xa Chúa và bị đuổi ra khỏi vườn Ê-đen, thì con người trở nên rất xác thịt, và luôn tìm kiếm một vật gì vật chất nhìn thấy được để thờ lạy. Ngay từ thời A-rôn người ta đã cố gắng biến sự thờ phượng Đấng vô hình phi vật chất vào một loại thần tượng thấy được như con bò vàng, sau đó thì Giáo hội đưa hình của một người phụ nữ bế một hài nhi vào nhà thờ, còn Chính thống giáo thì lại dạy giáo dân đốt nến khi vào nhà thờ. Còn trong hội thánh hiện đại thì lại tinh vi hơn: giữ một trật tự và biểu mẫu buổi thờ phượng bất di bất dịch.
Từ ngàn xưa cho đến bây giờ có một loại tà linh luôn tấn công hội thánh Chúa – đó là linh tôn giáo. Linh tôn giáo là linh luôn cho người ta một loại tư tưởng thúc đẩy người ta giữ hình thức tôn giáo bên ngoài, mà quên đi nội dung. Chúa Jesus luôn chống đối lại người pha-ri-si vì họ giữ các loại hình thức thờ phượng trong tôn giáo, theo truyền thống, theo lời truyền khẩu, mà quên đi nội dung chính của đức tin – đó là tình yêu thương và sự nhân từ. Đức Chúa Trời là Thần, là Thánh Linh, cho nên Ngài không chấp nhận chủ nghĩa hình thức. Chủ nghĩa hình thức, chủ nghĩa giả hình luôn được định nghĩa là tội lỗi. Những truyền thống tốt không sai, nhưng điều sai đó là chúng ta quên đi nội dung chính của Cơ đốc giáo – là tình yêu thương agape, là lòng nhân từ và ân điển. Nếu thiếu đi điều này thì mọi thứ khác rất lạnh lẽo và vô ích.
b) Thờ phượng bằng tâm thần. Từ này trong tiếng Do-thái có 2 nghĩa “Thánh Linh” và “tâm linh con người”:
– Thờ phượng bằng tâm thần trong nguyên ngữ tiếng Do-thái trước hết có nghĩa là Thánh Linh. Con người không thể nào thờ phượng Đức Chúa Trời, hầu việc Ngài mà không bởi Đức Thánh Linh. Chúng ta để thờ phượng Chúa thật, phải nhờ Thánh Linh để thật sự được tái sanh, rồi phải được đầy dẫy Thánh Linh, phải được báp-têm Thánh Linh để nhận lấy năng quyền để hầu việc Đức Chúa Trời. Anh chị em nếu không được đầy dẫy Thánh Linh, thì có hát đến vài trăm bài hát về Thánh Linh thì cũng vô ích. Mà Thánh Linh Chúa chỉ tuôn đổ vào lòng của những ai thật lòng chân thành ăn năn tội lỗi. Cho nên chìa khóa đi với Chúa nằm ở “tấm lòng của tôi” gặp gỡ và đáp ứng “Thánh Linh Chúa”.
– Tâm linh, hay là tấm lòng của con người, và “sống thật lòng, sống chân thành”. Khi chúng ta đi với Chúa, chúng ta cần phải thật lòng, chân thành, trung thực với Ngài. Tấm lòng chân thành, thật lòng với Chúa bày tỏ ở 3 điểm:
Chúng ta cần phải luôn thật lòng ăn năn xưng tội của mình trước mặt Chúa. Chúng ta cần phải kính sợ Chúa và không được phép lươn lẹo, láu cá trước mặt Chúa. Đừng bao biện và thanh minh cho tội lỗi. Tất cả chúng ta đều là tội nhân trước mặt Chúa, cho nên điều Chúa cần là khi tôi phạm tội, Chúa biết và tôi biết, Ngài muốn tôi chân thành đến trước mặt Ngài, thật lòng xưng tội ăn năn và xin lỗi Ngài.
Phải thật lòng yêu Chúa, đối xử với Chúa thật lòng. Kinh thánh kể về 2 con người cùng phạm trọng tội như nhau: họ phản bội Thầy của mình – Giu-đa Íchcariot và Phi-e-rơ. Nhưng kết cục khác nhau: Juda Iscariot treo cổ tự tử và xuống hỏa ngục, còn Phi-e-rơ thì lại trở thành vị Mục sư trưởng của Hội thánh đầu tiên. Điều gì khác nhau? Phi-e-rơ yêu Chúa thật lòng, ông bằng tấm lòng thành thật đối đãi với Thầy của mình, khi ông nói “tôi sẽ đi chết cùng Thầy”, là ông thật lòng, nhưng con người có sự yếu đuối và dễ sa ngã. Chúa nhìn thấy tấm lòng của ông, và Chúa quý trọng tấm lòng của ông. Đức tin không nằm ở tri thức: tôi biết nhiều Kinh Thánh,… Chúa không quá đặt nặng tài năng và sự thông minh. Đức tin nằm ở tấm lòng. Chúng ta nên yêu Chúa thật lòng, đối xử với Chúa thật lòng.
Tấm lòng thật lòng chân thành đối với Chúa sẽ được thể hiện ở tấm lòng chân thành đối đãi với anh chị em của mình. Làm thế nào có thể chân thành yêu thương Chúa là Đấng vô hình, nếu không yêu thương và chân thành với anh chị em mình là những người bằng xương thịt? Có một bài hát “sống trong đời sống phải có một tấm lòng”.
c) Thờ phượng bằng lẽ thật. Lẽ thật ở đây là chân lý Lời Chúa, Kinh Thánh. Chúng ta cần phải đọc Kinh Thánh, học Kinh Thánh và làm theo. Đó là đức tin và đó là thờ phượng thật. Người pha-ri-si đã từng làm và giữ những lời truyền khẩu, là những điều mà con người (linh mục, mục sư, giáo hội) dạy, nhưng họ không làm theo lời Chúa dạy, nên Chúa mới mắng họ “Hỡi kẻ giả hình, Ê-sai đã nói tiên tri về việc các ngươi phải lắm, như có chép rằng: Dân nầy lấy môi miếng tôn kính ta; Nhưng lòng chúng nó xa ta lắm. 7Sự chúng nó thờ lạy ta là vô ích, Vì chúng nó dạy theo những điều răn mà chỉ bởi người ta đặt ra. 8Các ngươi bỏ điều răn của Đức Chúa Trời, mà giữ lời truyền khẩu của loài người!” (Mác 7:6-8) Thế thì nội dung lời Chúa là gì? Đó là tình yêu thương, lòng thương xót và nhân từ. Thờ phượng Chúa có trật tự, có chuẩn bị về tổ chức, nhưng thiếu đi tình yêu thương thì đó chỉ là tôn giáo, là hình thức bên ngoài mà không có nội dung. Hội thánh vào thế kỷ 4 sau khi thoát khỏi hầm ngầm, được vào những đền thờ nguy nga để thờ phượng thì bắt đầu chết yểu, cho đến thời Trung cổ đã mục ruỗng và thối nát kinh khủng. Đức Chúa Trời đã dấy lên một linh mục là Martin Luther. Cuộc cải chánh đã thổi một luồng gió mới vào Hội thánh. Nhưng 500 năm sau, Hội thánh lại trở nên nguội lạnh. Các nhà thờ bên Mỹ, ở Châu Âu đang được rao bán rất nhiều. Chúng ta phải làm gì đây?
Ngày hôm nay chúng ta được học “sự thờ phượng thật là gì”. Cầu xin Chúa giúp đỡ để mỗi chúng ta nhận được sự dạy dỗ từ chính Ngài và vâng phục làm theo. Amen.
Leave a Reply
Bạn phải đăng nhập để gửi phản hồi.