Bài 5: CHÚA CỨU THẾ JESUS

Bài 5: CHÚA CỨU THẾ JESUS

Câu gốc: Vì chỉ có một Đức Chúa Trời, và chỉ có một Đấng Trung bảo ở giữa Đức Chúa Trời và loài người, tức là Đức Chúa Jêsus Christ, là người (I Tim 2:5).

1/  Chúa Cứu Thế là ai? (1 Phierơ 2:9-10)

Chúa Cứu Thế là chính Đức Chúa Trời đã giáng thế trong thân thể của con người, để cứu con người ra khỏi nô lệ của tội lỗi và sự chết, ra khỏi quyền lực của sa-tan. Ngài đến để dời con người từ vương quốc tối tăm sang vương quốc sáng láng đời đời của Ngài.

2/ Danh hiệu Jesus Christ có nghĩa là gì? (Ma-thi-ơ 1:21)

Danh xưng Jesus trong tiếng Do-thái là Jeshua (Giô-suê) có nghĩa là “Đức Chúa Trời cứu rỗi”. Ma-thi-ơ 1:21 nói rõ hơn về ý nghĩa của danh xưng này: “Đức Chúa Trời cứu con người ra khỏi tội lỗi”.

Christ là danh từ bắt nguồn từ gốc tiếng Hy-lạp “Christos”, được dịch ra từ tiếng Do-thái là “Messiah” có nghĩa là “Đấng chịu xức dầu”. Đấng Messiah là Chúa Cứu Thế sẽ đến mà Đức Chúa Trời hứa ban trong Cựu Ước. Nghi lễ “xức dầu” trong văn hóa Do-thái được một tiên tri của Đức Chúa Trời thi hành, nhà tiên tri lấy chiếc sừng đựng đầy dầu thơm, đổ lên đầu một người để công bố rằng người đó được Đức Chúa Trời lựa chọn để thực hiện một trong 3 chức vụ:

  • Làm nhà tiên tri;
  • Làm thầy tế lễ thượng phẩm;
  • Làm vua.

CHÚA JESUS đã thực hiện cả 3 chức vụ này trong cuộc đời của Ngài trên đất. Do đó CHÚA JESUS chính là Đấng Christ, là Đấng Messiah, Chúa Cứu Thế mà Đức Chúa Trời hứa ban cho nhân loại trong Cựu Ước.

3/ Chúa Jesus là một nhân vật lịch sử hay chỉ là huyền thoại?

Cơ đốc giáo là niềm tin vào một Thân vị có thật- là CHÚA JESUS. Đó là một ĐẤNG hằng sống, một nhân vật lịch sử có thật – đó là Chúa Jesus. Không có Chúa Jesus thì không có Cơ đốc giáo.

CHÚA JESUS đã từng sống trên đất. Ngài không phải là một nhân vật huyền thoại, hay là giả tưởng. Sự giáng sinh của CHÚA JESUS đã chia đôi dòng lịch sử của cả thế giới ra thành TCN (trước Công nguyên – BC: before Christ) và SCN (sau Công nguyên – AD: anno Domini – tiếng La-tinh nghĩa là “năm của Chúa”). Đây rõ ràng là một sự kiện lịch sử, và CHÚA JESUS là một nhân vật lịch sử có thật.

Ngoài các nguồn chứng minh từ Kinh thánh, từ Cơ đốc giáo, cũng có rất nhiều những chứng cớ về CHÚA JESUS được ghi chép lại bởi các sử gia thế tục, không phải là Cơ đốc nhân.

Cornilius Tacitus (sinh năm 52-54 thế kỷ 1 SCN). Được coi nhà sử học vĩ đại nhất của La Mã cổ đại. Năm 112 làm quan tổng trấn ở Tiểu Á. Khi ghi chép về triều đại của Nê-rô, ông đã viết về sự chết của CHÚA JESUS và những Cơ đốc nhân ở thành Rô-ma: “không có sự thanh minh nào từ bất kể một ai, không có sự giàu có nào mà vị vua này đã tiêu tốn, không có của dâng tế lễ nào cho các vị thần, có thể rửa sạch đi những tội ác khủng khiếp do ông ta đã ra lệnh đốt cháy thành Rô-ma. Để làm dịu đi sự phán xét, ông ta đã đổ tội cho những người thường được gọi là Cơ đốc nhân và bị thù ghét vì cớ những tội ác kinh tởm của họ, và bằng những hình thức tra tấn khủng khiếp nhất đã trừng phạt họ. Christos, tên của người sáng lập, đã bị xử tử bởi Pontius Pilate, quan tổng trấn xứ Giu-đê vào thời hoàng đế Tiberius trị vì: nhưng sự mê tín nguy hại bị đàn áp một thời gian lại bùng ra, không chỉ khắp xứ Giu-đê, nơi sự nguy hại phát sinh, mà còn khắp thành Rô-ma nữa.” (The annals XV,44)

Josephus Flavius (sinh năm 37-38 thế kỷ 1 SCN), một sử học gia Do Thái nổi tiếng. 19 tuổi đã trở thành người pha-ri-si. Vào năm 66 thế kỷ 1 là lãnh đạo quân đoàn Do thái chống lại La-mã, sau đó bị bắt và phải phục vụ trong quân đội La-mã. Ông đã viết về Chúa Giê-xu trong tác phẩm “Những đời xưa của người Do-thái” (Jewish Antiquities) của ông: “CHÚA JESUS đã từng sống vào khoảng thời gian này, Ngài là một người khôn ngoan – nếu có thể gọi Ngài là con người một cách công bằng, bởi vì Ngài đã làm những phép lạ kỳ diệu, dạy dỗ chân lý cho nhiều người tin nhận. Ngài chinh phục được nhiều người đi theo từ dân Giu-đa và Hy lạp. Ngài được người ta tin là Đấng Messiah. Cả khi quan tổng trấn Phi-lát nghe theo sự buộc tội của những người lãnh đạo Do-thái, đã kết án đóng đinh vào thập tự giá, thì những kẻ theo Ngài từ đầu vẫn không từ bỏ Ngài, bởi vì Ngài đã phục sinh vào ngày thứ ba và hiện ra với họ, đúng theo những lời tiên tri đã phán về điều này cũng như về hàng ngàn phép lạ liên quan đến Ngài. Cộng đồng các Cơ đốc nhân, được đặt tên theo tên của Ngài, vẫn tồn tại cho đến ngày nay” (Những đời xưa, XVIII.33, cuối thế kỷ 2). Đoạn văn này cũng đã được dịch sang tiếng Ả-rập.

Sự tồn tại của Chúa Cứu Thế Giê-xu không chỉ được Josephus và Tacitus ghi lại, mà còn những tác giả cổ như Suetonius, Thallus, Pliny the Younger, và Lucian.

Quintus Septimius Florens Tertullianus (sinh năm 155 – 240? AD) là luật sư và nhà thần học người Carthage. Ông đã nhắc đến cuộc tranh luận giữa Hoàng đế Tiberius và Bôn-xơ Phi-lát: “Vào lúc mà danh xưng của Đấng Christ đi vào thế gian, thì chính Tiberius đã nhận được những chứng cớ về Thần tính của Đấng Christ, và đã đưa vấn đề này ra trước Nghị viện để xem xét. Nghị viện, vì cớ nhiều thành viên là kẻ thù của Cơ đốc giáo, đã từ chối đề nghị này. Tuy nhiên Hoàng đế vẫn giữ nguyên ý kiến của mình và đã đe dọa trừng phạt tất cả những ai lên án Cơ đốc nhân.” (Apologies, V.2)

Và từ tác phẩm Talmud của người Giu-đa, “chúng ta biết rằng Jêsus là con ngoài giá thú, đã tập trung môn đồ, làm những tuyên bố phạm thượng về bản thân, và làm phép lạ, nhưng những phép lạ này là nhờ tà thuật chứ không phải từ Đức Chúa Trời.”

Như vậy, có cả những nhà sử học tán thành lẫn không tán thành Chúa Giê-xu đã viết về Ngài. Ngoài ra còn nhiều những tư liệu lịch sử về các Cơ đốc nhân thời kỳ đầu tiên.

4/ Chúa Jesus có phải là một trong các vĩ nhân không? (Giăng 1: 1-3; Phi-líp 2: 9-10; Hê-bơ-rơ 3: 3)

Không! Con người dù có thông thái vĩ đại đến mấy chăng nữa thì vẫn là con người. CHÚA JESUS không phải là người, Ngài là Đức Chúa Trời trong thân xác của con người.

7 wonders of HIStory.

 5/ Chúa Jesus đã trở thành con người bằng cách nào? (Ma-thi-ơ 1: 23; Lu-ca 1: 34-35)

CHÚA JESUS giáng sanh cách siêu nhiên. Tất cả mọi người đều hạ sanh, nhưng chỉ có CHÚA JESUS giáng sinh. Xuất xứ của Ngài là từ trên trời giáng xuống trần.

Bởi vì Đức Chúa Trời là Đấng Tạo Hóa toàn năng, không có việc gì mà Ngài không làm được. Cho nên quyền năng vô hạn của Đức Chúa Trời đã giáng hạ trên trinh nữ Ma-ri, và khiến cô mang thai CHÚA JESUS. CHÚA JESUS được giáng sanh không phải theo cách bình thường của con người, là phải có giao phối của nam nữ. Kinh thánh nhắc nhiều đến sự kiện Ma-ri là nữ đồng trinh khi mang thai CHÚA JESUS, để khẳng định rằng CHÚA JESUS không phải do nơi người nam mà có, cho nên Ngài không mang gien di truyền của tội nhân, Ngài không có nguyên tội. CHÚA JESUS là con người duy nhất không có nguyên tội, và Ngài cũng không có kỷ tội. Do đó Ngài là con người duy nhất không có tội. Tất cả tội nhân đều chết vì tội lỗi của mình, nhưng CHÚA JESUS không chết vì tội lỗi của mình, vì Ngài không có tội, cái chết của Ngài là chết thế.

 6/ Bản tánh của Chúa Jesus là gì? (I Ti-mô-thê 2: 5)

CHÚA JESUS có bản tánh độc nhất vô nhị:

  • Ngài 100% là con người. Cho nên Ngài có thể đổ huyết, chết thay cho tội nhân.
  • Ngài 100% là Đức Chúa Trời, cho nên Ngài vô tội. Cái chết của CHÚA JESUS là chết thế, và vì Ngài là Đức Chúa Trời cho nên Ngài đã phục sinh từ cõi chết vào ngày thứ ba.

7/ Chúa Jesus đã làm gì khi Ngài ở trần gian này?

Có tồn tại một giả thuyết ngu ngốc nói rằng trong Kinh thánh không có chép về khoảng thời gian niên thiếu của CHÚA JESUS, trước khi Ngài được báp-têm ở sông Giô-đanh. Họ giả sử rằng thời gian này Ngài đã đến Tây tạng (Tibet) và học pháp thuật ở những nhà sư Tây tạng. Thực tế Kinh thánh có ghi chép lại khoảng thời gian này trong Lu-ca 2:51-52. Trước năm 30 tuổi CHÚA JESUS sống cùng cha mẹ và gia đình, làm nghề thợ mộc để sinh sống. Lịch sử có ghi chép rằng Chúa Jesus có 7 anh chị em cùng mẹ khác cha. Ngài phải phụ giúp cha mẹ để nuôi các em.

Đến năm CHÚA JESUS 30 tuổi, Ngài được Giăng báp-tít làm phép báp-têm nước trên sông Giô-đanh. Khi đó Đức Thánh Linh giáng xuống trên Ngài trong hình dạng của chim bồ câu. Lúc đó CHÚA JESUS nhận lãnh quyền phép của Đức Thánh Linh và Ngài khởi sự chức vụ Messiah. Ngài đi hết các địa phận của Israel để rao giảng Tin Lành Nước Trời, chữa lành mọi bệnh tật, đuổi quỷ, khiến người chết sống lại, và làm vô vàn các phép lạ, để chứng minh rằng Ngài chính là Đấng Christ, Chúa Cứu Thế. Khi người ta tin Ngài, thì người ta cũng tin vào Tin Lành mà Ngài rao giảng. Thế thì Tin Lành, hay là Tin Mừng, hay là Phúc Âm mà CHÚA JESUS rao giảng là gì?

 8/ Tại sao Chúa Jesus phải đến thế gian và chịu chết trên cây thập tự giá?

Rô-ma 6:23 chép “tiền công của tội lỗi là sự chết”. Khi chúng ta làm việc, chúng ta nhận được tiền trả công. Khi chúng ta làm tội lỗi, chúng ta nhận được tiền trả công cho tội lỗi là sự chết. Giá để trả cho tội lỗi là mạng sống. Nhưng chết về thể xác chưa phải là hết, mà sau khi qua đời loài người phải “chầu trời”, để nhận bản án là sự trừng phạt đời đời dưới hỏa ngục. Không có ai là không có tội, cho nên không ai thoát được bản án tử hình đời đời này.

Nhưng may thay CHÚA JESUS giáng trần để báo cho chúng ta Tin Mừng rằng Ngài đã chết thế cho tội nhân, và ai tin nhận Ngài làm Cứu Chúa, thì người đó được tha tội, và nhận được sự sống đời đời. Giăng 5:24 chép “Quả thật, quả thật, ta nói cùng các ngươi, ai nghe lời ta mà tin Đấng đã sai ta, thì được sự sống đời đời, và không đến sự phán xét, song vượt khỏi sự chết mà đến sự sống.

Giăng 3:16 chép “Vì Đức Chúa Trời yêu thương thế gian, đến nỗi đã ban Con một của Ngài, hầu cho hễ ai tin Con ấy không bị hư mất mà được sự sống đời đời.

Sự chết của Chúa Jesus giải thoát con người ra khỏi quyền lực của tội lỗi và sự phán xét.

9/ Đức Chúa Jesus phục sinh có ý nghĩa gì cho chúng ta?

Ma-thi-ơ 28; Giăng 20: 21; Công vụ 1:6-11; I Cô-rinh-tô 15:3; Công-vụ 2:41; 5:41; Khải 1:10; 2 Cô-rinh-tô 5:17.

Chúa Jesus chết vào ngày thứ tư. Có 1 điểm đặc biệt là: người Do-thái tính ngày bắt đầu từ hoàng hôn – lúc 18-00 theo giờ La-mã. Như vậy Chúa Jesus phục sinh vào khoảng từ 18-00 ngày sabath đến 6-00 ngày chủ nhật.

Trong luật tư pháp, để chứng minh cho một điều gì đó – cần có 2 dữ kiện: nhân chứng và vật chứng.

Về phía vật chứng: có rất nhiều chứng cớ chứng minh rằng CHÚA JESUS đã phục sinh. Như là ngôi mộ trống, tấm vải liệm và khăn che đầu, hòn đá chặn cửa mộ, dấu niêm phong trên cửa mộ, 2 tầng lính canh – lính của đền thờ và lính La-mã,…

Về phía nhân chứng: các nhân chứng sẽ miêu tả lại những điểm khác nhau, sẽ không có 2 lời khai trùng hợp hoàn toàn. Có hơn 500 môn đồ gặp được CHÚA JESUS phục sinh. 2 môn đồ trên đường đi đến Em-ma-út. CHÚA JESUS cho đến ngày nay vẫn hiện ra cho nhiều người gặp. Mỗi một Cơ đốc nhân là nhân chứng sống cho CHÚA JESUS phục sinh.

Công vụ 2: 24, 32; 3: 15; 4: 10; 5: 30; Rô-ma 1:4; 1 Tê-sa-lô-ni-ca 4:14;  1 Cô-rinh-tô 15:17,20-21; II Ti-mô-thê1:12; Phi-líp 3:20-21

Cơ đốc giáo là tôn giáo duy nhất không đặt nền trên những triết học, hay là đạo đức học, mà đặt nền tảng trên những sự kiện lịch sử, mà cụ thể đó là 3 sự kiện: sự giáng sinh của CHÚA JESUS, sự chết và sự phục sinh của Ngài – đó là 3 cây cột chống nhà của Cơ đốc giáo, mà trong đó sự phục sinh của CHÚA JESUS  là quan trọng nhất. Do đó để tiêu diệt Cơ đốc giáo, chỉ cần chứng minh một trong những sự kiện này không có thật.

Sự phục sinh của CHÚA JESUS mang ý nghĩa rất quan trọng cho chúng ta:

– Chứng minh sự chết thay cho tội nhân của CHÚA JESUS được Đức Chúa Trời chấp nhận.

– Chứng minh CHÚA JESUS chính là Đức Chúa Trời, và trong Ngài có sự phục sinh, có sự sống đời đời, mà chỉ Đức Chúa Trời mới có được. Việc đó bảo đảm rằng những kẻ tin cũng sẽ được phục sinh cho sự sống đời đời.

– CHÚA JESUS phục sinh sống trong mỗi tín đồ, Ngài luôn đi cùng, hiện diện trong đời sống chúng ta và ban quyền năng để phục vụ Đức Chúa Trời.

Sự phục sinh của Chúa Jesus giải thoát chúng ta ra khỏi quyền lực của sự chết và sự sợ hãi.

Phục sinh, sống lại khác với hồi sinh, hồi sức, chết lâm sàng… nghĩa là chưa chiến thắng được sự chết, mà chỉ là trì hoãn cái chết.

 10/ Ý nghĩa của sự thăng thiên của Chúa Jesus?

Sau khi sống lại, CHÚA JESUS ở trên trần gian thêm 40 ngày nữa, sau đó Ngài thăng thiên (Công- vụ 1:9).

Việc Chúa Jesus thăng thiên cho chúng ta biết rằng có tồn tại một thế giới khác ngoài thế giới của chúng ta. Kinh thánh cho chúng ta biết có 3 trời. Trời 1 là bầu khí quyển, nơi các loài chim bay (Sáng 1:7-8,20). Trời 2 là nơi các vì sao (Sáng 1:14-17). Nhưng sứ đồ Phao-lô còn nói về một trải nghiệm ở Trời 3, được gọi là Ba-ra-đi, Thiên đường, nơi Đức Chúa Trời và các thiên sứ của Ngài ở (2 Cor. 12:1-4).

– Thiên đàng là nhà của Chúa Jesus. Chúa Jesus trở về nhà trong chiến thắng. Đó là ngày Chúa Jesus đăng quang.

– Ngài ngồi bên hữu tay Cha, nghĩa là Ngài đang tể trị. Ngài là Vua trên muôn vua, Chúa trên muôn chúa, Chúa của các thần. (Philip 2:10-11)

– Ngài sai Đức Thánh Linh giáng lâm để ở cùng với các môn đồ (Công vụ 2: 32-36).

– Ngài cầu thay cho chúng ta (Hê-bơ-rơ 7: 25; Rô-ma 8:33-34) Chúa Jesus vẫn là người trong thân thể vinh quang. Ngài tể trị và đại diện cho chúng ta, cho hội thánh. Ngài là thầy tế lễ thượng phẩm là người, đại diện cho con người và trở thành người trung gian duy nhất giữa người và Đức Chúa Trời. Ngài cầu thay cho chúng ta. Khi chúng ta cầu nguyện nhân danh Chúa Jesus – đó không phải là một công thức, mà Chúa Jesus như thầy tế lễ thượng phẩm nhận lời cầu nguyện và trình dâng lại với Đức Chúa Cha.

– Chúa Jesus làm báp-têm Thánh Linh cho chúng ta. Ngài ban các ân tứ cho Hội thánh (Ê-phê-sô 4:8-11)

– Ngài sắm sẵn cơ nghiệp cho con cái của Ngài (Giăng 14:1-2)

– Ngài điều khiển lịch sử thế giới và sẽ tái lâm (Công vụ 1:11; Khải huyền 1:6-7; Ma-thi-ơ 24: 30-31)

 12/ Do đâu chúng ta tin rằng Chúa Jesus sẽ tái lâm?

Ma-thi-ơ chương 24

Be the first to comment

Leave a Reply