2025 Rô-ma 5
Không có một người công chính nào, dù chỉ một người
Rô-ma 2:17 – 3:20
Câu gốc 3:10
(Rô-ma 2:15-16) Vì khi dân ngoại không có luật pháp, theo bản chất họ làm những điều luật pháp đòi hỏi, thì họ, mặc dù không có luật pháp, cũng là luật pháp cho chính mình, cho thấy công việc của luật pháp đã được ghi chép trong lòng họ, lương tâm họ làm chứng, và tư tưởng của họ khi thì cáo buộc, khi thì bào chữa cho nhau, vào ngày Đức Chúa Trời sẽ xét đoán những điều kín nhiệm của loài người bởi Đức Chúa Jêsus Christ theo Tin Lành của tôi.
Đây là 2 câu cuối của bài học trước: Dân ngoại, những người không có luật pháp, họ có luật tự nhiên trong chính họ (luật lương tâm). Vì lương tâm của họ làm chứng cho những tư tưởng của họ, đôi khi cáo buộc, đôi khi bào chữa cho nhau, vào ngày cuối cùng khi Đức Chúa Trời sẽ phán xét những điều bí mật của con người qua Chúa Giê-xu Christ (1 Cor. 4:5).
Bây giờ Sứ đồ Phao-lô quay sang người Do Thái. Tại sao họ phải chịu cơn thịnh nộ của Đức Chúa Trời?
- Lòng kiêu hãnh và sự tự tin của người Do Thái là gì (2:17-20)? Nhưng trong thực tế đời sống của họ là như thế nào (21-24)?
Câu 17-20
Họ có nhiều điều để khoe khoang. Người Do Thái đặc biệt tự hào về việc họ có luật pháp. Nhưng thực tế cuộc sống của họ như thế nào?
Câu 21-24
Sự thật là họ đã dạy người khác, nhưng không dạy chính mình. Đời sống của họ có hai mặt. Họ phạm tội nhiều hơn những người ngoại. Họ đã phạm tội, mặc dù luật pháp đã chỉ rõ cho họ thấy rằng đó là tội lỗi. Chúa Giê-su nói với giáo sư Ni-cô-đem người đại diện của dân Do Thái: Quả thật, ta nói cùng ngươi, nếu một người không được tái sinh, thì không thể thấy được vương quốc của Đức Chúa Trời. (Giăng 3:3)
Họ phải chịu hình phạt nghiêm khắc. Khi có luật pháp, họ đã phớt lờ bỏ qua những người ngoại. Họ trở nên kiêu ngạo vì họ biết luật pháp. Nếu một người ngoại phạm tội, chỉ có anh ta bị kết án và luật pháp của Chúa vẫn không hề hấn gì. Tuy nhiên, nếu người Do Thái phạm tội và tội lỗi của họ bị phơi bày, mọi người không chỉ lên án tội lỗi của họ mà còn khinh thường luật pháp của Chúa mà họ dạy mọi người. Khi người ngoại phạm tội, luật pháp vẫn có hiệu lực, và chỉ có người phạm tội mới bị coi là tội nhân. Nhưng khi một người Do Thái phạm tội, toàn bộ luật pháp của Chúa bị đụng chạm bêu riếu. Ví dụ, nếu một mục sư nổi tiếng phạm tội lớn, thì tất cả giáo lý mà ông đã rao giảng trong nhiều năm đều bị phá hủy. Vì các ngươi, như đã chép, danh Đức Chúa Trời bị phạm thượng giữa dân ngoại. ( 24 ) Tội lớn nhất là tội giả hình.
- Điều gì xảy ra với phép cắt bì của người Do Thái nếu họ vi phạm luật pháp (25)? Mặt khác, điều gì xảy ra nếu một người không cắt bì giữ luật pháp (26:27)? Điều gì quan trọng hơn phép cắt bì xác thịt (28:29)?
Câu 25-27
Niềm kiêu hãnh thứ hai của người Do Thái là phép cắt bì. Người Do Thái tự hào về phép cắt bì, giống như một số Cơ đốc nhân tự hào về việc được làm phép báp-têm rửa tội. Phép cắt bì là dấu hiệu cho thấy Áp-ra-ham đã trở thành dân sự của Đức Chúa Trời. Người Do Thái nghĩ rằng phép cắt bì của họ là dấu hiệu chứng minh họ là con cháu của Áp-ra-ham và là tuyển dân của Đức Chúa Trời. Họ nghĩ rằng phép cắt bì của họ đảm bảo sự cứu rỗi của họ. Thật tốt khi tự hào về phép cắt bì. Khi đó, họ nên sống theo lời Đức Chúa Trời, như Áp-ra-ham đã làm. Vấn đề là họ tự hào về phép cắt bì, nhưng họ không sống theo lời Đức Chúa Trời. Do đó, phép cắt bì của họ trở thành không cắt bì. Nếu một người ngoại được tái sinh và làm trọn tinh thần của luật pháp, thì việc không cắt bì của anh ta sẽ được tính là cắt bì đối với anh ta. Anh ta có thể lên án người Do Thái.
Câu 28-29
Sự cắt bì tấm lòng bởi Đức Thánh Linh là gì? Tấm lòng là nơi thánh của con người. (Bởi Đức Thánh Linh) có nghĩa là “trong Đức Thánh Linh”. Khi chúng ta thành tâm ăn năn, Đức Thánh Linh sẽ cắt bì tấm lòng chúng ta. Ngài thiêu đốt mọi tội lỗi trong chúng ta và ban cho chúng ta sự bảo đảm rằng chúng ta là con cái của Đức Chúa Trời. Đức Thánh Linh ngự trong lòng chúng ta, giúp chúng ta sẵn lòng vâng theo Lời Đức Chúa Trời. (Phục truyền luật lệ ký 10:16, 30:6; Giê-rê-mi 4:4; Ê-xê-chi-ên 36:26-27; Ga-la-ti 6:15). Một người trước kia không thể xu hướng về Đức Chúa Trời được tái sinh. Và người đó giờ đây bước đi theo sự soi dẫn của Đức Thánh Linh. Một người như vậy là một người đã chịu phép cắt bì thực sự và là một người Do Thái thực sự . Người đó không cần lời khen ngợi của con người, vì người đó đã nhận được lời khen ngợi của Đức Chúa Trời rồi.
Nhưng trong lòng của một người chưa được tái sinh có bản ngã. Người đó hành động theo bản chất tội lỗi của mình, hoặc bị một tâm linh xấu xa điều khiển. Trong trường hợp này, sự cắt bì của người đó đã trở thành không cắt bì.
- Việc là người Do Thái đem đến ưu thế gì (3:1,2)? Tại sao sự vô tín của họ không thể phá hủy lòng thành tín của Đức Chúa Trời (3:4)? Phao-lô nói gì cách quả quyết với những người cố gắng biện minh cho sự vô tín và sự dối trá (5-8)?
3:1 Vậy thì người Do Thái có lợi gì, hay phép cắt bì có ích gì?
Khi Phao-lô nói rằng người Do Thái cũng chịu sự phán xét của Đức Chúa Trời, một số người Do Thái sẽ hỏi: Nếu cả người Do Thái và người ngoại đều bị phán xét theo việc làm của họ, thì luật pháp và phép cắt bì có ích gì? Có lợi ích gì khi là tuyển dân của Đức Chúa Trời? Phao-lô trả lời: 3:2 Có lợi ích lớn trong mọi phương diện, nhưng đặc biệt là trong điều này, là họ đã được giao phó những lời sấm truyền của Đức Chúa Trời.
Từ “trước hết” có nghĩa là đây là điều thứ nhất. Điều thứ hai và thứ ba phải đến một cách tự nhiên. Nhưng Phao-lô chỉ đề cập đến một điều. Đó là họ được giao phó lời của Đức Chúa Trời. – Ở đây “lời của Đức Chúa Trời” ám chỉ toàn bộ Cựu Ước. Cựu Ước là luật pháp của Đức Chúa Trời ban cho qua Môi-se, và những lời mà Đức Chúa Trời đã ban cho họ qua các tiên tri. Qua lời của Đức Chúa Trời, họ có thể biết Đức Chúa Trời là ai và thờ phượng và phục vụ Ngài một cách đúng đắn, và họ có thể học về đức tin chân thật từ tổ tiên của họ. Ngoài ra, họ có thể biết và chấp nhận Chúa Giê-xu Christ, là Đấng Mesiah mà Đức Chúa Trời đã hứa, và hoàn thành sứ mệnh mà Đức Chúa Trời đã giao cho họ. Nhưng họ đã không tận dụng đặc ân này và không hoàn thành sứ mệnh của mình.
C. 3-4
Câu hỏi thứ hai: Nếu một số người không thành tín và phá vỡ giao ước, thì Đức Chúa Trời sẽ không thể giữ giao ước của Ngài. (Giao ước của Đức Chúa Trời bị vô hiệu?) Vậy thì vì sự không thành tín của người Do Thái, sự thành tín của Đức Chúa Trời sẽ trở thành sự không thành tín? Không đời nào! Đức Chúa Trời thành tín với lời của Ngài. Tất cả mọi người đã quay lưng lại với lời của Đức Chúa Trời và phá vỡ giao ước với Đức Chúa Trời, nhưng Đức Chúa Trời đã giữ giao ước của Ngài, và sai Chúa Jesus đến, và hoàn thành giao ước cứu rỗi. Nghĩa là Đức Chúa Trời là chân thật, nhưng mọi người đều là kẻ nói dối.
C. 5-8
(5) Một số người cố tình dùng ngụy biện để biện minh cho hành động xấu xa của mình.
(7) Nếu lòng thành tín của Đức Chúa Trời được tôn cao bởi sự bất trung của tôi, tại sao tôi phải bị phán xét là một tội nhân? Điều này cũng giống như nói rằng Giuđa Ích-ca-ri-ốt đóng góp nhiều nhất cho lịch sử cứu chuộc của Chúa Giê-su đã được hoàn thành bởi sự phản bội của ông. Nhưng Đức Chúa Trời là công bình và thưởng cho mỗi người tùy theo việc làm của họ. Những kẻ đạo đức giả nói: Sự giả hình của tôi chẳng phải đã làm cho tình yêu của Chúa trở nên rõ ràng hơn sao? Giả sử như tôi không phạm tội, thì tình yêu của Chúa có được thể hiện rõ ràng như vậy không? Đừng đổ lỗi cho tôi về tội lỗi của tôi, tôi không phải là tội nhân, ngược lại, tội lỗi của tôi đã trở thành công cụ cho vinh quang của Chúa được bày tỏ, và tôi sẽ không bị lên án. Ma quỷ luôn phủ nhận những chân lý phổ quát của Chúa bằng cách đưa ra những ví dụ cực đoan. Đây chính xác là những gì đã xảy ra với người Do Thái. Họ chủ yếu phát triển logic của mình bằng cách nhắc đến tội ác của David và sự phản bội của Giu-đa. Đây là tiếng kêu của một người chống luật pháp biện minh cho sự vô luật pháp của chính mình. Logic này dẫn họ đến đâu? (8) và chúng ta có nên làm điều ác để điều thiện có thể bày tỏ – đây là logic của ma quỷ. Sự thật bị đảo lộn…. Câu trả lời của Kinh thánh cho tất cả những ngụy biện này là gì? ( 6) Chẳng hề như vậy. Vì nếu vậy thì làm sao Chúa có thể phán xét thế gian?
Giai đoạn cuối cùng của chủ nghĩa duy luật pháp của người Do Thái là sự phạm thượng, nghĩa là sự thật bị đảo ngược . Lời Chúa bị đảo ngược. Đầu tiên, họ trở thành những kẻ đạo đức giả, họ tìm kiếm và tìm cách biện minh cho tội lỗi của mình, và sau đó họ bắt đầu nói về sự gian ác của Chúa. Và họ đưa ra những ví dụ cực đoan và phạm thượng Chúa. Giai đoạn cuối cùng của sự sa ngã của những người ngoại đạo: làm điều ác là tốt, bạn là một người tốt!! (1:32) và giai đoạn cuối cùng của sự sa ngã của người Do Thái: vi phạm luật pháp là để tôn vinh hiển Chúa lên. Điều này là tốt!! Cả hai đều là sự đảo ngược hệ thống giá trị. Đây là logic của ma quỷ. Câu trả lời của Kinh thánh cho họ là gì? Sự phán xét đối với những người như vậy là công bình (8)
- Phao-lô tuyên bố tình trạng nào cho cả người Do Thái và người Hy Lạp (9)? Cách nào Kinh Thánh nhấn mạnh rằng không có người công chính nào (10)? Thực tế của con người dưới ảnh hưởng của tội lỗi là gì (11-18)?
C. 9-18
Các câu 3:9-20 là phần kết luận của các câu 1:18-3:8. Phao-lô kết luận rằng toàn thể nhân loại, dù là người Do Thái hay người Hy Lạp, đều ở dưới tội lỗi và dưới sự phán xét của Đức Chúa Trời. Phao-lô giải thích tội lỗi của người ngoại và người Do Thái. Các giá trị của họ bị đảo ngược. 1) Người ngoại không chỉ làm điều ác mà còn chấp thuận những người làm điều đó. 2) Người Do Thái vi phạm luật pháp, và họ nói rằng việc vi phạm luật pháp mang lại vinh quang cho Đức Chúa Trời. Và ông kết luận: Mọi người đều là tội nhân, và không có một người công chính nào, dù chỉ một người.
. 9 Vậy thì sao? Chúng ta có lợi thế nào không? Không hề. Vì chúng ta đã chứng minh rằng cả người Do Thái và người Hy Lạp đều ở dưới tội lỗi. Sau đó, Phao-lô làm chứng về điều này qua Kinh thánh.
10 Như có chép rằng: Chẳng có một người công bình nào, dầu một người cũng không ( Truyền Đạo 7:20) , câu 11 – Thi Thiên 51:3,4, câu 12 – Thi Thiên 13:1,3 , câu 13a – Thi Thiên 5:9, câu 13b – Thi Thiên 140:3 , câu 14 – Thi Thiên 10:7 , câu 15-17 – Ê-sai 59:7,8, câu 18 – Thi Thiên 35:1 )
Tại sao Phao-lô trích dẫn Thi Thiên? Thi Thiên, Châm Ngôn và Truyền Đạo không phải là thần học. Chúng là lời thú nhận từ cuộc sống của mọi người và những người khôn ngoan. Vì vậy, Thi Thiên có thể được hiểu ngay cả bởi những người ngoại không biết Chúa.
- Luật pháp đưa toàn thể thế gian đến tình trạng nào (19)? Tại sao không có xác thịt nào được xưng công bình bởi các việc làm của luật pháp (20)? Hãy cho chúng tôi biết con người cần điều gì một cách vô vọng.
C. 19-20
Luật pháp không thể biện minh cho tội nhân. Chức năng của luật pháp là vạch trần và lên án tội lỗi. Đức Chúa Trời ban luật pháp để khiến chúng ta nhận ra rằng không ai có thể được biện minh bởi luật pháp. Luật pháp được ban cho chúng ta để cho chúng ta “biết về tội lỗi”. Do đó, luật pháp khiến chúng ta nhận ra sự bất lực của chính mình, sự bất lực của chúng ta trong việc tuân giữ luật pháp, và đến với Đức Chúa Trời với một tấm lòng tan vỡ và thống hối. Luật pháp giúp chúng ta tìm kiếm ân điển của Đức Chúa Trời và chấp nhận Tin Lành.
Leave a Reply
Bạn phải đăng nhập để gửi phản hồi.