Thế gian dưới cơn thịnh nộ của Chúa (p2) (Rô-ma 2:1-16)

2025 Rô-ma 4

Thế gian dưới cơn thịnh nộ của Chúa (p2)

Rô-ma 2:1-16

Câu gốc 2:6

Khi nghiên cứu sách Rô-ma, điều quan trọng là phải biết cấu trúc của nó. Chúng ta hãy mở chương 1. 1:1-17 là phần giới thiệu. 1:1-7 là lời chào của Phao-lô, và trong phần này, ông giới thiệu ngắn gọn về bản thân và giải thích ngay Phúc âm là gì. Phúc âm là điều Đức Chúa Trời đã hứa trước qua các tiên tri của Ngài, và nội dung của nó là về Con Trời. Ngài được sinh ra từ dòng dõi Đa-vít theo xác thịt và được tuyên bố là Con Đức Chúa Trời trong quyền năng, theo tâm linh thánh khiết, bởi sự phục sinh từ cõi chết, để Ngài có thể chuộc tội lỗi cho mọi người. Mọi người đều chết vì tội lỗi của chính mình. Nhưng chỉ có Chúa Giê-xu, Con Đức Chúa Trời, đã chết không phải vì tội lỗi của mình, vì Ngài vô tội, mà đó là cái chết thế vì tội lỗi của mọi người. Điều này được bày tỏ qua sự phục sinh của Ngài. Chúa Giê-xu là Đấng Christ, Chúa của chúng ta. Trong các câu 8-15, ông nói về mục đích đến Rô-ma và viết Thư gửi tín hữu Rô-ma. Nhưng nó không nói rõ điều đó. Sau đó, trong chương 15, ông nói rõ điều đó. Ông, với tư cách là một nhà truyền giáo, đã viết bức thư này cho mục đích truyền giáo. Và trong các câu 16-17, ông viết về bản chất của công cuộc truyền giáo.

1) Phúc âm là quyền năng của Đức Chúa Trời. Quyền năng của Phúc âm là gì? Không chỉ là quyền năng của Đức Chúa Trời để cứu rỗi mọi người tin, mà còn là quyền năng ban đức tin cho mọi người. Vậy thì đức tin đến bởi sự nghe, và sự nghe đến bởi lời của Đức Chúa Trời (Rô-ma 10:17). Trong Lời của Đức Chúa Trời có quyền năng cho phép chúng ta có đức tin, và nhận được sự cứu rỗi qua đức tin này. Do đó, ông định nghĩa: Phúc âm là quyền năng của Đức Chúa Trời.

2). Trong Ngài sự công chính của Đức Chúa Trời được bày tỏ. Điều này có nghĩa là phúc âm là sự bày tỏ sự công chính của Đức Chúa Trời. Khi chúng ta lắng nghe Phúc âm hoặc đọc lời của Đức Chúa Trời hoặc nghiên cứu nó, Sự sáng của Chúa chiếu rọi trong chúng ta. Vinh quang này biến đổi chúng ta. Sự sáng của Chúa tạo ra sự thay đổi trong chúng ta: chúng ta nhìn nhận ra rằng mình là tội nhân, và chúng ta ăn năn và nhận được sự tha thứ. Nếu chúng ta tiếp tục trong sự soi sáng này, không chỉ tội lỗi của chúng ta sẽ được rửa sạch, mà chúng ta sẽ trở nên ngày càng trong sạch sáng láng hơn. Chúng ta sẽ nên thánh. Tuy nhiên, Phao-lô không giải thích điều này một cách chi tiết, ông chỉ viết trong một từ (từ đức tin đến đức tin). Vì vậy, chúng ta cần đến với ánh sáng của Phúc âm mỗi ngày. Mỗi buổi sáng, chúng ta bước vào buổi tĩnh nguyện hàng ngày, và chúng ta viết suy gẫm thu hoạch, và chúng ta dành nhiều thời gian để cầu nguyện. Đây là cuộc sống đức tin của chúng ta. Lý do tại sao không có niềm vui hoặc sự tăng trưởng thuộc linh trong cuộc sống của chúng ta là vì chúng ta không phản chiếu  ra ánh sáng của Phúc âm. Rồi chúng ta sa vào chủ nghĩa hình thức. Điều này rất nguy hiểm. Chúng ta cần phải liên tục ở trong sự chiếu rạng của Phúc âm để tăng trưởng từ đức tin đến đức tin.

như đã chép rằng: Người công bình sẽ sống bởi đức tin. (1:17) Dù có bao nhiêu điều gian ác trên thế gian, người công chính phải sống bởi đức tin. Bởi vì đến thời điểm Chúa đã định, họ chắc chắn sẽ phải đối mặt với sự phán xét. Sự mặc khải này đã được nhà tiên tri Habakkuk tiếp nhận.

Sau đó trong 1:18–3:20, Phao-lô nói rõ rằng tất cả mọi người đều là tội nhân và chịu sự phán xét của Đức Chúa Trời. Đây là sự dạy dỗ trong Kinh thánh về tội lỗi của con người (sinology tội lỗi học). Trong bài học trước, chúng ta đã học được lý do tại sao toàn bộ thế giới ngoại giáo đều phải chịu cơn thịnh nộ của Chúa. 2:1-16 nói đến một loại người khác.

  1. “Người xét đoán người khác” có nghĩa là ai (1a)? Vấn đề của họ là gì (1b)? Đức Chúa Trời xét đoán họ như thế nào (2)?

1 Vậy, hỡi ngươi là người lên án người khác, ngươi không làm sao bào chữa được, bởi khi ngươi lên án người khác là ngươi lên án chính mình vì ngươi làm chính những điều ngươi lên án. 2Vì chúng ta biết rằng Đức Chúa Trời theo chân lý phán xét người làm những việc như thế.

1) Vậy thì anh em không thể bào chữa được, hỡi mọi người xét đoán người khác. Cho đến bây giờ, Phao-lô vẫn đang nói về tội lỗi của dân ngoại. Tội lỗi của dân ngoại là sự đảo ngược trật tự của sự sáng tạo. Nhưng trong thế giới sa ngã này có những người sống đạo đức: có những người theo chủ nghĩa đạo đức, và những người sống cuộc sống khổ hạnh, như các triết gia khổ hạnh tu. Vào thời điểm đó, các triết gia đạo đức đã viết nhiều tác phẩm chỉ trích xã hội La Mã suy đồi về mặt đạo đức. Nó cũng nói về cách tuân thủ các tiêu chuẩn đạo đức ở nhà và tại nơi làm việc.

Ở phương Đông có những người dạy đạo đức, như Khổng Tử, và những người theo Phật giáo và cố gắng sống đúng đắn. Bản thân họ phán xét và lên án gay gắt những người sống cuộc sống đồi bại. Vậy thì họ là những người khác nhau? Phao-lô quay sang họ và nói: “Vậy thì các người, những người phán xét người khác .”

Vấn đề của họ là gì? Họ chỉ so sánh mình trước mặt người khác. Nếu họ đứng trước mặt Chúa, họ không khác gì những người khác. Phao-lô cáo buộc họ không sống theo những gì họ dạy, nghĩa là họ những kẻ đạo đức giả. Họ không thể thoát khỏi sự phán xét của Đức Chúa Trời. Đây là địa chỉ thực sự của họ.

2) vì trong khi đoán xét họ, ngươi cũng lên án cho chính mình ngươi nữa, bởi ngươi đoán xét họ, mà cũng làm các việc như họ. Sự thật là trong lòng những người sống theo luật lệ và đạo đức riêng của họ, có một sự tự cho mình là đúng “tự xưng công bình” rất mạnh mẽ. Do đó, họ rất giỏi phán xét người khác. Khi họ nhìn thấy lỗi lầm của người khác, họ tức giận và nói: “Làm sao trên thế giới này có thể có những người xấu như vậy? Những người như vậy đáng chết!”

bằng chính sự phán xét mà ngươi dùng để phán xét người khác, ngươi đang tự lên án chính mình. Sự lên án mà họ dành cho người khác chính là sự lên án chính họ. Mọi điều chúng ta lên án và chỉ trích ở người khác thực chất là sự lên án chính mình. Chỉ vì bạn có đạo đức không có nghĩa là bạn có bản chất khác biệt với những người ngoại khác. Hầu như không có sự khác biệt nào… chẳng phải tất cả họ đều phạm cùng một tội sao? Ngay cả khi bạn có địa vị xã hội và trình độ để dạy dỗ và xét xử người khác, điều đó không có nghĩa là bạn được miễn trừ khỏi sự phán xét của Chúa.

  1. Người xét đoán người khác và làm như vậy thì khinh thường Đức Chúa Trời như thế nào (3-4)? Tại sao Đức Chúa Trời không xét đoán tội nhân ngay lập tức, nhưng lại chịu đựng trong một thời gian dài? (2 Phi-e-rơ 3:9) Điều gì xảy ra nếu chúng ta cố chấp không chịu ăn năn (5)?

1) C. 3-4  3Hỡi người, ngươi làm chính điều mà khi người khác làm thì ngươi lên án, ngươi tưởng mình sẽ thoát được sự phán xét của Đức Chúa Trời sao? 4Hay ngươi khinh thường lòng đầy nhân từ, khoan dung và nhẫn nại của Ngài mà không nhận biết rằng sự nhân từ của Đức Chúa Trời là để dẫn ngươi đến hối cải sao?
5Nhưng cứ theo lòng chai lì và không hối cải của ngươi, ngươi tích trữ cho mình thịnh nộ vào ngày thịnh nộ, là ngày sự đoán xét công bình của Đức Chúa Trời sẽ bày tỏ.

(2 Phi-e-rơ 3:9 Chúa không chậm trễ về lời hứa của Ngài như mấy người kia tưởng đâu, nhưng Ngài nhịn nhục đối với anh em, không muốn cho một người nào chết mất, song muốn cho mọi người đều ăn năn.) Những kẻ xét đoán người khác mắc 3 lỗi. A) Họ tự lên án mình bằng cùng sự xét đoán mà họ dùng để xét đoán người khác (gấp 3 lần). B) Hay là ngươi khinh thường sự giàu có của lòng nhân từ, nhịn nhục và khoan dung của Đức Chúa Trời, mà không nhận ra rằng lòng nhân từ của Đức Chúa Trời dẫn ngươi đến sự ăn năn sao? Đức Chúa Trời của chúng ta như thế nào? Đức Chúa Trời có thể trừng phạt tôi ngay lập tức vì tội lỗi của tôi. Nhưng tại sao Ngài không phán xét tôi cho đến bây giờ? Chúa khác với con người. Ngài đầy sự kiên nhẫn, lòng nhân từ, thương xót và nhu mì. Nhưng họ bỏ qua Chúa, làm Ngài buồn và mất cơ hội ăn năn. C) Họ làm tổn thương anh em mình và phá hoại hội thánh của Chúa.   

2) 5 Nhưng vì lòng cứng cỏi và không chịu ăn năn của mình, nên bạn đang tích trữ cho mình cơn thịnh nộ cho đến ngày thịnh nộ và ngày tỏ bày sự phán xét công bình của Đức Chúa Trời. Họ tỏ ra mình là người chính trực trước mặt người khác, nhưng thực tế Họ thu thập cơn thịnh nộ của Chúa trên đầu họ mỗi ngày . Họ luôn nghiêm túc, đen tối và chỉ trích mọi thứ. Họ không có sự bình an và rất bất hạnh. Làm sao họ có thể thoát khỏi bất hạnh này? Họ cần hiểu được sự giàu có của lòng nhân từ, sự nhu mì và lòng nhẫn nại của Chúa, và ăn năn ngay lập tức.

  1. Đức Chúa Trời báo trả cho mỗi người như thế nào (6-8)? (Xem 2 Cô-rinh-tô 5:10) Hậu quả đối với những người làm điều ác và những người làm điều thiện là gì (9,10)? Tại sao ở đây không có sự phân biệt giữa người Do Thái và người Hy Lạp (11)?

1) C. 6-8.  6Ngài là Đấng báo ứng từng người tùy theo việc họ làm. 7Một mặt Ngài ban sự sống vĩnh phúc cho những ai kiên tâm làm lành, tìm kiếm vinh quang, danh dự và sự bất diệt. 8Mặt khác Ngài dành lôi đình thịnh nộ cho những kẻ kiếm tư lợi không vâng theo chân lý nhưng vâng theo sự bất chính.  Đức Chúa Trời sẽ báo trả cho mỗi người không theo sự hiểu biết của họ mà theo những việc làm của họ. Giải thích thêm ở câu 6-8. Điều này có nghĩa là vào ngày phán xét, Chúa sẽ không chỉ nhìn vào vẻ bề ngoài của mỗi người, mà còn nhìn vào bên trong tấm lòng và suy nghĩ của họ (1 Cor 4:5). Tất nhiên Chúa nhìn vào đức tin của chúng ta và những gì chúng ta đang tìm kiếm (mục đích của cuộc sống). Bạn có thể lừa dối mọi người bằng lời nói, nhưng không thể bằng thành quả cuộc sống của họ.

Nhưng có một câu hỏi trong câu 7. Có ai phù hợp với câu 7 không? Chúng ta nghĩ đến những người vĩ đại như Socrates, Platon, Khổng Tử và Đức Phật. Nhưng sau Adam, không ai phù hợp với tiêu chuẩn của Chúa. (3:10-12) Tuy nhiên, đây là tiêu chuẩn phán xét của Chúa. Tất cả mọi người đều nằm trong câu 8, Những kẻ cố chấp (thành lập bè phái riêng của mình) không phục tùng lẽ thật, nhưng lại đầu hàng sự bất chính. Họ phải chịu cơn thịnh nộ. Nhiều người trong lịch sử đã thành lập đảng phái riêng của mình thông qua hệ tư tưởng riêng của họ vì lợi ích cá nhân. Chủ nghĩa Quốc xã. Chủ nghĩa Cộng sản. Chủ nghĩa Mác, v.v. đều giống nhau. Đức Quốc xã, cộng sản Liên Xô đã giết hàng chục triệu người vì hệ tư tưởng của họ. Đặc điểm của những kẻ tìm kiếm sự bất chính là họ lập đảng riêng của họ. Những ai tìm kiếm vinh quang của Đức Chúa Trời không cần lập đảng riêng của họ, vì Đức Chúa Trời sẽ công nhận họ.

C. 9-11 9Ngài giáng hoạn nạn và khốn khổ trên mọi kẻ làm ác, trước là người Do Thái, sau là người Hy Lạp, 10nhưng ban vinh quang, danh dự và bình an cho mọi người làm lành, trước là người Do Thái, sau là người Hy Lạp. 11Bởi Đức Chúa Trời không thiên vị ai.

Chúa không nhìn vào vẻ bề ngoài của một người hay lời nói của một kẻ đạo đức giả. Chúa nhìn vào hành động của mỗi người. Trong sự phán xét của Chúa không có sự khác biệt giữa người Do Thái và người Ngoại, giàu hay nghèo, hiểu biết hay thất học.

Như vậy Đức Chúa Trời cứu rỗi con người qua Chúa Jesus Christ. Những người sinh ra sau Công nguyên có thể nghe về Chúa Jesus và nhận được sự cứu rỗi, vậy còn những người không được nghe Phúc âm, ví dụ như những người sinh ra trước Chúa Jesus thì sao? Còn những người sống trong thế giới ngoại giáo, ở Việt nam, ở Trung Quốc hoặc ở một châu lục khác thì sao? Đây là vấn đề. Đây là cuộc tranh luận lớn nhất trong soteriology – giáo lý thần học về sự cứu rỗi.

Người Do Thái trong Cựu Ước có luật pháp, họ có thể giữ luật pháp hoặc thông qua luật pháp họ có thể tin vào Đấng Messiah sắp đến. Nhưng dân ngoại không có luật pháp. Làm sao Đức Chúa Trời có thể phán xét họ?

Đây chính là nội dung mà các câu 12-16 nói đến.

  1. Ai được coi là công chính trước mặt Đức Chúa Trời (12-13)? Luật pháp dành cho dân ngoại không có luật pháp là gì (14-15)? Khi nào Đức Chúa Trời sẽ phán xét mọi người bằng cách tiết lộ những điều họ đã làm trong bí mật (16)?

Tiêu chuẩn phán xét đối với người Do Thái là luật pháp, nhưng đối với dân ngoại, sự phán xét được thực hiện theo luật tự nhiên. Đức Chúa Trời đã ban cho người Do Thái luật pháp được viết trên các bảng đá, nhưng đối với dân ngoại sinh ra trước Chúa Jesus trước Công nguyên, Ngài đã ban luật pháp được viết trên các bảng đá trong lòng họ. Đây là những gì câu 12-13 nói. 12Vì những ai không có kinh luật mà phạm tội thì cũng sẽ không kinh luật mà hư mất; còn ai có kinh luật mà phạm tội thì sẽ bị xét đoán theo kinh luật. 13Vì không phải hễ nghe suông kinh luật là trở thành công chính trước mặt Đức Chúa Trời nhưng ai tuân giữ kinh luật mới được xưng công chính.  Người Do Thái, có luật pháp nhưng không làm trọn, nên họ sẽ bị phán xét, và dân ngoại cũng sẽ bị phán xét ngoài luật pháp. Câu 14 nói về luật tự nhiên của dân ngoại. 14Vì khi người ngoại quốc không có kinh luật mà tự nhiên làm những điều kinh luật dạy, dù không có kinh luật thì đó cũng là kinh luật cho họ rồi. Người Do Thái tuân theo luật thành văn, nhưng dân ngoại tuân theo luật bất thành văn được ghi trong lòng họ. Vậy thì trong hai điều này, điều nào rõ ràng hơn? Luật thành văn! Nhưng trước khi luật pháp được ban ra, con người nhận biết tội lỗi qua luật trong lòng họ. Luật pháp được ban ra vào thời của Moses. Theo tiêu chuẩn nào Đức Chúa Trời sẽ phán xét Áp-ra-ham? Đó là theo luật tự nhiên. Câu 15 là lý thuyết về luật tự nhiên. 15Họ tỏ ra rằng những điều kinh luật đòi hỏi đã được ghi trong lòng họ, lương tâm họ cũng chứng thực như thế, và tư tưởng họ tranh biện nhau khi thì lên án, khi thì bênh vực 16vào ngày mà Đức Chúa Trời, bởi Chúa Cứu Thế Giê-su phán xét những điều kín giấu của loài người y theo Phúc Âm của tôi. Và lương tâm được trích dẫn làm bằng chứng về sự tồn tại của luật tự nhiên. Từ “lương tâm” không tồn tại trong thần học Do Thái. Đó là một thuật ngữ của các triết gia Hy Lạp. Khi Sứ đồ Phao-lô nói về tội lỗi của dân ngoại, ông đã mượn khái niệm “lương tâm” từ các triết gia Hy Lạp. Trên thực tế, Đức Chúa Trời đã ban cho tất cả mọi người cùng một tiêu chuẩn phán xét.

Vì người Do Thái có luật pháp, và người Ngoại có lương tâm. Lương tâm là gì? Đó là bằng chứng của luật pháp, được khắc trong lòng. Và luật pháp là gì? Đó là luật trong lòng được viết thành văn. Chúng có cùng chức năng: người Do Thái ý thức được tội lỗi bởi luật pháp, người Ngoại ý thức được tội lỗi bởi lương tâm của họ. Cả hai đều có một giới hạn: chúng có chức năng lên án, nhưng không phải là cứu rỗi. Nó giống như một nhiệt kế. Nó cho thấy nhiệt độ, nhưng không thay đổi nhiệt độ của không khí.

Vậy thì điều gì sẽ xảy ra với những người không có luật pháp? (14-16) Họ cho thấy rằng công việc của luật pháp được viết trong lòng họ, lương tâm họ làm chứng, và những suy nghĩ của họ luân phiên buộc tội hoặc bào chữa cho nhau vào ngày mà Đức Chúa Trời sẽ phán xét những điều bí mật của con người bởi Chúa Giê-xu Christ. Vào ngày Phán xét chung thẩm, Đức Chúa Trời sẽ phán xét những điều bí mật của loài người qua Chúa Jêsus Christ. Khi đó, lương tâm họ sẽ làm chứng về những việc làm và tư tưởng của họ trước mặt Chúa Jêsus. Vì vậy, không có điều gì sẽ bị che giấu trong sự phán xét. Tất cả sẽ được bày tỏ trong sự sáng. Đây là Phúc âm mà Phao-lô đã rao giảng.

Be the first to comment

Leave a Reply