Sự công bình của Đức Chúa Trời không phụ thuộc vào luật pháp (Rô-ma 3:21 – 3:31)

2025 Rô-ma 6

Sự công bình của Đức Chúa Trời không phụ thuộc vào luật pháp

Rô-ma 3:21 – 3:31

Câu gốc 3:21

Trong 1:18–3:20, Phao-lô nói về tình trạng của toàn thể nhân loại. Không có ai công bình. Tất cả, dù là người ngoại hay người Do Thái, đều là tội nhân và phải chịu cơn thịnh nộ của Đức Chúa Trời. Bởi các việc làm của luật pháp, không một xác thịt nào sẽ được xưng công bình trước mặt Đức Chúa Trời. Vậy thì Đức Chúa Trời đã cứu con người khỏi cơn thịnh nộ đời đời theo cách nào?

3:21-4:25 – thần học về sự biện minh, sự xưng công bình. Sự biện minh không có nghĩa là tôi không có tội lỗi, nhưng có nghĩa là Đức Chúa Trời đã chấp nhận sự hy sinh chuộc tội thay thế cho tội lỗi của tôi và tuyên bố tôi là công bình.

  1. Cụm từ “Nhưng hiện bây giờ” có nghĩa là gì (21a)? Điều gì đã được bày tỏ ra ngoài (không phụ thuộc) luật pháp, và nó được chứng minh như thế nào (21b)? Sự công bình này khác với sự công bình của luật pháp như thế nào (22)?

Nhưng hiện bây giờ, sự công bình của Đức Chúa Trời, mà luật pháp và các đấng tiên tri đều làm chứng cho, đã bày tỏ ra ngoài luật pháp; 

1) Nhưng bây giờ báo hiệu sự khởi đầu của một lịch sử mới. Cho đến bây giờ nhân loại vẫn đang đi qua đường hầm tối tăm của luật pháp và sự chết, nhưng bây giờ một con đường cứu rỗi mới đã xuất hiện thay cho luật pháp. Một kỷ nguyên mới đã mở ra.

2) Bởi sự công bình của luật pháp, không một con người nào được xưng công bình trước mặt Ngài, vì chức năng chính của luật pháp không phải là giúp con người trở nên công bình, mà luật pháp cho người ta biết tội lỗi (3:20). Vậy nên sự công bình của Đức Chúa Trời ngoài (một cách độc lập, không phụ thuộc) luật pháp đã được tỏ ra. Đó là sự công bình duy nhất của Đức Chúa Trời (số ít).

mà luật pháp và các tiên tri làm chứngcho” điều này có nghĩa là sự công bình của Đức Chúa Trời đã được chuẩn bị từ lâu rồi. Nó đã được chuẩn bị từ khi nào? Ngay từ lúc ban đầu, khi Đức Chúa Trời tạo ra thế giới: khi người đàn ông đầu tiên là A-đam phạm tội trong vườn Ê-đen, A-đam và Ê-va đã khâu lá vả lại và làm cho mình những chiếc khố. Tuy nhiên, lá vả chỉ có thể che giấu sự xấu hổ của họ trước con người, nhưng họ không thể giải quyết vấn đề tội lỗi của họ trước mặt Đức Chúa Trời. Sáng thế ký 3:9-10 mô tả rất hay hoàn cảnh của họ.

Đức Chúa Trời gọi Ađam và phán rằng: Ngươi ở đâu? Ađam thưa rằng: Tôi nghe tiếng Chúa trong vườn, bèn sợ, vì tôi trần truồng, nên tôi ẩn mình. Lá vả – công việc của con người. Nghĩa là tất cả những điều kiện bên ngoài mà con người tạo ra cho chính mình (đạo đức, luân lý, danh dự, kiến thức, địa vị xã hội…). Con người dựa vào chúng trên thế gian này, nhưng kể cả khi họ đã mặc nhưng chiếc khố bằng lá vả, che khỏi nhau sự lõa lồ của tội lỗi, khi Chúa đến họ không thể đứng trước mặt Chúa. Lá vả do tay con người làm không thể che giấu đi sự lõa lồ của tội lỗi trước mắt Chúa. Đức Chúa Trời đã làm cho Ađam và vợ ông những chiếc áo da và mặc cho họ. Những chiếc áo da là của lễ chuộc tội mà Đức Chúa Trời đã làm cho con người. Điều này có nghĩa là sau khi tội lỗi xâm nhập vào thế gian, kẻ đầu tiên phải chết không phải là con người mà là một loài động vật. Cái chết chuộc tội đã đến trước. Nghĩa là đã có sự mặc khải về sự chuộc tội trong vườn Êđen. Do đó, Phúc âm được gọi là sự công bình đã được chuẩn bị trước của Chúa.

Điều này được tiết lộ trong luật pháp của Cựu Ước. Tất cả các luật lệ của Cựu Ước có thể được chia thành hai loại: luật về tội lỗi và luật về sự hy sinh. Luật về sự hy sinh chỉ hướng rõ ràng đến sự chuộc tội qua huyết của Chúa Jesus Christ.

các tiên tri của Cựu Ước đã tiên tri về điều này. Ai là tiên tri đầu tiên về sự công bình của Chúa? Abraham! Sáng thế ký 22:18 Chúa đã hứa với Abraham Bởi vì ngươi đã vâng theo lời dặn ta, nên các dân thế gian đều sẽ nhờ dòng dõi ngươi mà được phước. Trong lời này từ “dòng dõi” là số ít. Nó chủ yếu ám chỉ Isaac, nhưng cuối cùng ám chỉ Chúa Jesus sắp đến. (Isaac là cái bóng của Chúa Jesus.) Ngay cả trước khi luật pháp được ban ra, Abraham đã nhận được giao ước về sự công bình của Chúa trước. Và sau đó tất cả các tiên tri đều báo trước về sự đến của Đấng Messiah. Và qua Chúa Jesus Christ, tất cả các lời tiên tri đã được ứng nghiệm. Sự công bình của Đức Chúa Trời là sự công bình của Chúa Jesus Christ, sự công bình của sự chuộc tội và sự công bình của sự cứu rỗi.

3) 22 tức là sự công bình của Đức Chúa Trời, bởi sự tin đến Đức Chúa Jêsus Christ, cho mọi người nào tin, chẳng có phân biệt chi hết, 

Sự công bình này của Đức Chúa Trời chỉ đến qua đức tin nơi Chúa Jesus Christ. Luật pháp được ban cho người Do Thái, nhưng trong sự công bình của Đức Chúa Trời không có sự phân biệt. Nó dành cho toàn thể nhân loại. Nghĩa là, trong Phúc âm không có sự phân biệt giữa người Do Thái và người ngoại, những người sống đạo đức và những người sống vô đạo đức (tốt và xấu), khôn ngoan và ngu ngốc, tự do và nô lệ, và những người biết luật pháp và những người không biết luật pháp. Nó bình đẳng đến mức các nhà đạo đức và triết gia không thể hiểu được. Trong xã hội cổ đại, sự bình đẳng như vậy là điều rất đáng ngạc nhiên. Tại sao sự công bình của Đức Chúa Trời lại bình đẳng với mọi người như vậy? Bởi vì nó không phải là thứ có được thông qua các điều kiện hoặc khả năng của con người, mà là một món quà từ Chúa bởi ân điển của Ngài. Chỉ có một điều kiện cho việc này – tin vào Chúa Jesus.

  1. Mọi người đều ở trong tình trạng nào vì cớ tội lỗi (23)? Nhưng làm thế nào chúng ta có thể được xưng công bình (24)? “Sự cứu chuộc” có nghĩa là gì?

23 vì mọi người đều đã phạm tội, thiếu mất sự vinh hiển của Đức Chúa Trời, 

Mọi người đều đã phạm tội trong A-đam và đã đánh mất đi sự vinh hiển của Chúa, và tội nhân không thể đứng trước vinh quang của Đức Chúa Trời – đây chính là địa chỉ thực sự của nhân loại. Tội nhân mặc dù có cố gắng mấy chăng nữa, khi đứng trước vinh quang của Đức Chúa Trời, luôn bị thiếu hụt đi một chút, không cách nào bù đắp được sự thiếu hụt mà chỉ vinh hiển của Chúa mới làm trọn vẹn được, không thể nào đạt được tiêu chuẩn tuyệt đối của Đức Chúa Trời.

24 và họ nhờ ân điển Ngài mà được xưng công bình nhưng không, bởi sự chuộc tội đã làm trọn trong Đức Chúa Jêsus Christ, 

Nhưng chúng ta được xưng công bình cách nhưng không bởi ân điển của Ngài. Sự cứu chuộc trong Chúa Jesus Christ, sự cứu chuộc là thuật ngữ được sử dụng trong các chợ nô lệ ở Rome. Nếu một nô lệ muốn được tự do, ai đó phải trả tiền chuộc mua anh ta. Khi đó, người mua nô lệ không yêu cầu anh ta trả lại số tiền đã trả, nhưng chỉ đơn giản là giải phóng người nô lệ mãi mãi. Đây là luật pháp Rô-ma để giải phóng nô lệ. Sự cứu chuộc này đã xảy ra với tôi trong Chúa Jesus Christ.

  1. Đức Chúa Trời đã lập Chúa Jêsus làm của lễ gì bởi huyết của Ngài (25,26)? Tại sao huyết cần thiết để con người được hòa giải với Đức Chúa Trời? (Lê-vi Ký 17:11; Hê-bơ-rơ 9:22)? Huyết của Chúa Jêsus làm gì? (Hê-bơ-rơ 9:12-15; 1 Phi-e-rơ 1:18,19)

25 là Đấng Đức Chúa Trời đã lập làm của lễ chuộc tội, bởi đức tin trong huyết Đấng ấy. Ngài đã bày tỏ sự công bình mình như vậy, vì đã bỏ qua các tội phạm trước kia, 

*của lễ chuộc tội là một thuật ngữ Do Thái trong lễ thờ phượng. Mục đích của tế lễ này -một con sinh tế là để chuộc tội cho dân sự và khôi phục mối quan hệ của họ với Chúa. Ở đây chúng ta phải chú ý đến từ “Đức Chúa Trời đã lập làm”. Chính Đức Chúa Trời đã dâng tế lễ này (Chúa Jesus) thay cho dân sự, do đó hiệu quả của nó là hoàn hảo. Mọi tế lễ mà chúng ta dâng cho Chúa (những việc làm tốt, đạo đức, nghi lễ và lễ tế của chúng ta) đều không hoàn hảo trước mặt Ngài. Mọi tôn giáo đều bắt nguồn từ con người trên trái đất. Đây là tế lễ từ con người. Do đó, chính Đức Chúa Trời đã dâng Con của Ngài làm tế lễ chuộc tội.

Ngài đã bày tỏ sự công bình mình như vậy, vì đã bỏ qua các tội phạm trước kia

Đức Chúa Trời đã bày tỏ sự công bình của Ngài khi tha thứ những tội lỗi đã phạm trước đó. “Sự tha thứ tội lỗi” trong bản gốc: bỏ qua tội lỗi của chúng ta. Phao-lô giải thích về sự hy sinh chuộc tội thông qua sự kiện Lễ Vượt Qua. Thiên sứ của sự chết, khi nhìn thấy huyết, đã vượt qua. Và chính bởi điều này, Đức Chúa Trời đã bày tỏ sự công bình của Ngài. Câu 26 giải thích điều này rất hay.

26 trong buổi Ngài nhịn nhục; tức là Ngài đã tỏ sự công bình Ngài trong thời hiện tại, tỏ ra mình là công bình và xưng công bình kẻ nào tin đến Đức Chúa Jêsus. 

Trong từ này, thời gian chịu đựng lâu dài của Đức Chúa Trời có hai ý nghĩa: 1) Đức Chúa Trời thương xót, khác với con người. Đức Chúa Trời chờ đợi lâu dài và đến tận cùng, để tất cả chúng ta đều ăn năn, và không ai bị diệt vong trong tội lỗi. 2) Mặt khác, đối với những người không ăn năn đến cùng, đây là thời kỳ tích tụ cơn thịnh nộ của Đức Chúa Trời, đến vào ngày phán xét.

Sự công bình của Đức Chúa Trời có được thực thi trong Cựu Ước không? Thật ra, sự công bình của Đức Chúa Trời không được thực thi trong một thời gian dài, bởi vì Đức Chúa Trời thánh khiết đã chờ đợi con người ăn năn, dung thứ cho tội lỗi của họ. Cũng vậy trong Cựu Ước, bởi người Do Thái, sự công bình của Đức Chúa Trời bị tổn thương, bởi vì huyết của các loài vật không thể chuộc tội cho con người. Đức Chúa Trời là Đấng thánh khiết, và Ngài không thể ở với tội lỗi. Theo sự thánh khiết của Ngài, Ngài phải phán xét mọi người. Sự công bình có nghĩa là “tiêu chuẩn” (standard) để phán xét. Nghĩa là, nếu Đức Chúa Trời thánh khiết phán xét tội lỗi theo tiêu chuẩn công bình tuyệt đối của Ngài, thì tất cả mọi người đều phải tuyệt diệt. Sự công bình mà không thể cứu rỗi con người không phải là sự công bình của Đức Chúa Trời. Đây là tình thế tiến thoái lưỡng nan. Đức Chúa Trời yêu thương những người mà Ngài tạo dựng theo hình ảnh của Ngài. Ngài đã làm gì để cứu rỗi con người? Theo tình yêu thương vĩ đại của Ngài, Ngài đã ban Con Ngài trên thập tự giá như một của lễ chuộc tội. Thập tự giá của Chúa Jesus là sự khôn ngoan của Đức Chúa Trời, và là bằng chứng về tình yêu thương vô hạn của Đức Chúa Trời. Chúa Jesus đã bị đóng đinh trên thập tự giá, và huyết của Ngài đã xoa dịu cơn thịnh nộ của Đức Chúa Trời và tha thứ tội lỗi của chúng ta. Nghĩa là, huyết của Chúa Jesus đã thiết lập sự công bình của Đức Chúa Trời và ban sự công bình cho những người tin vào Chúa Jesus.

  1. Tại sao chúng ta không thể khoe khoang rằng chúng ta đã được xưng công bình (27,28)? Đức Chúa Trời là Đấng như thế nào và Ngài xưng công bình cho loài người trên cơ sở nào (29,30)? Mối liên hệ giữa đức tin và luật pháp là gì (31)?

27 Vậy thì sự khoe mình ở đâu? Đã bị trừ bỏ rồi. Bởi luật pháp nào? Luật pháp của việc làm chăng? Không phải, nhưng bởi luật pháp của đức tin; 28 vì chúng ta kể rằng người ta được xưng công bình bởi đức tin, chớ không bởi việc làm theo luật pháp. 

Tại sao người tin Chúa không có gì để khoe khoang? Mọi thứ đều được ban cho chúng ta bởi ân điển lớn lao của Chúa.

  • Không phải con người cầu xin Chúa cứu rỗi. Con người đã bị cắt đứt khỏi Chúa vì tội lỗi và không thể giao tiếp với Ngài.
  • Chính Đức Chúa Trời đã ban cho con người một của lễ chuộc tội. Không phải chúng ta đã dâng của lễ của mình cho Đức Chúa Trời. Nhưng chính Đức Chúa Trời đã hoạch định, chính Ngài đã chuẩn bị, và chính Ngài đã ban cho chúng ta Chúa Jêsus vào thời điểm của Ngài. Chính Đức Chúa Trời đã hứa, và chính Ngài đã thực hiện.
  • Không có việc làm nào của chúng ta trong việc này, không có công trạng nào của chúng ta. Con người không có gì để khoe khoang. Chúng ta muốn nói: tôi đã tiếp nhận lời Chúa tốt như thế nào, tôi thông minh như thế nào! Tôi đã cố gắng như thế nào! Tôi đã phục vụ các con chiên tốt như thế nào! Tôi đã vâng lời tốt như thế nào! Tôi đã kiếm được bao nhiêu công lao! Nhưng ngay khi chúng ta nói điều này, ân điển của Chúa bị vô hiệu hóa và hóa ra tôi đã nhận được sự cứu rỗi bởi chính công lao của mình. Khi chúng ta khoe khoang về các việc làm của mình, đức tin biến mất và Cơ đốc giáo sụp đổ.
  • Nếu ai đó khoe khoang về bản thân mình, thì điều này cho thấy rằng người đó không sống bởi đức tin mà sống bởi những việc làm của chính mình. Nếu bạn muốn khoe khoang nhiều như vậy, bạn có thể khoe khoang về lòng thương xót của Chúa.

29 Hay là, Đức Chúa Trời chỉ là Đức Chúa Trời của dân Giu-đa sao? Há chẳng phải cũng là Đức Chúa Trời của dân ngoại ư? Phải, Ngài cũng là của dân ngoại nữa; 30 Vì chỉ có một Đức Chúa Trời, là Đấng làm cho kẻ chịu cắt bì được xưng công bình bởi đức tin, cũng làm cho kẻ không chịu cắt bì được xưng công bình bởi đức tin nữa. 

Đức Chúa Trời là Đức Chúa Trời của toàn thế giới, vì chỉ có một Đức Chúa Trời, là Đấng sẽ xưng công bình cho những người chịu phép cắt bì (người Do Thái) bởi đức tin và cho những người không chịu phép cắt bì (dân ngoại) bởi đức tin. Điều kiện để trở thành con cái Đức Chúa Trời chỉ là duy nhất đức tin.

31 Vậy, chúng ta nhân đức tin mà bỏ luật pháp hay sao? Chẳng hề như vậy! Trái lại, chúng ta làm vững bền luật pháp.

Câu 31 –liên quan đến câu 21. Vì sự công bình đã được bày tỏ ngoài luật pháp, vậy có nghĩa là luật pháp giờ đây không còn quan trọng nữa không? Chúng ta có nên vứt luật pháp vào thùng rác vì chúng ta được cứu bởi đức tin không? Phao-lô nói rằng không phải vậy, mà đức tin làm trọn luật pháp. Đức tin thực hiện luật pháp của Môi-se như thế nào? Trước tiên, vì những đòi hỏi của luật pháp đã được đáp ứng trong đức tin. Luật pháp nói rằng tiền công của tội lỗi là sự chết. Nó đòi hỏi cái chết để trả giá cho tội lỗi. Chúa Giê-xu đã chết trên thập tự giá thay cho chúng ta, hoàn thành những đòi hỏi của luật pháp và làm trọn luật pháp. Thứ hai, người được xưng công bình bởi đức tin sẽ nhận được ân điển và Đức Thánh Linh ngự trong người đó. Bây giờ người đó là một tạo vật mới. Trước đây, người đó không có quyền năng để làm trọn luật pháp, nhưng bây giờ người đó đầy ân điển và làm những gì luật pháp đòi hỏi. Rô-ma 8:4 “Để sự đòi hỏi công bình của luật pháp được trọn vẹn trong chúng ta, là những người không sống theo xác thịt nhưng theo Thánh Linh.”

Be the first to comment

Leave a Reply