CHÚA JESUS BỊ ĐÓNG ĐINH TRÊN CÂY THẬP TỰ (Lu-ca 22:66-23:49)

CHÚA JESUS BỊ ĐÓNG ĐINH TRÊN CÂY THẬP TỰ

Lu-ca 22:66-23:49

Ngày nay chúng ta thấy các ca sỹ, những người nổi tiếng đeo một sợi dây chuyền và trên đó có gắn một cây thập tự giá nhỏ. Đó là một trang sức, một cách làm đẹp. Nhưng có ai để ý rằng cây thập tự chính là một công cụ hành hình khủng khiếp nhất trong thế giới cổ đại. Nếu ngày hôm nay tôi đeo lên cổ tôi một chiếc máy chém, hay là một chiếc ghế điện, bạn có thấy đẹp hay không? Thế thì tại sao thập tự giá, một công cụ hành hình dã man, lại trở thành biểu tượng của vinh dự?

Thập tự giá… Ngày nay có hàng triệu cơ đốc nhân hát những bài hát ca ngợi thập tự giá. Bởi vì nơi đó 2000 năm trước đây có một con người vô tội đã bị đóng đinh, đã chết, nhưng đã phục sinh từ cõi chết, và hiện giờ vẫn sống. Đó là Chúa Jesus Christ.

Hôm nay chúng ta sẽ nói về sự chết của Chúa Jesus, về việc Ngài bị đóng đinh trên thập tự giá. Một con người vô tội, luôn làm điều tốt. Thậm chí tất cả những kẻ thù của Ngài cũng công nhận điều đó. Tại sao Ngài lại có một kết cục như vậy sau 3 năm truyền giáo? Ai đã có lỗi trong vụ án oan sai lớn nhất trong lịch sử nhân loại? Ai đã đóng đinh Chúa Jesus?

Vào ngày lễ lá Chúa Jesus đã đi vào thành Jerusalem. Những thầy tế lễ cả, người pha-ri-si, các thầy thông giáo đã từ rất lâu muốn bắt Chúa Jesus và xử tử Ngài. Nhưng họ không bắt được Ngài vì ban ngày luôn có đoàn dân đông bao quanh Ngài, còn ban đêm thì Ngài rời khỏi thành Jerusalem và không ai biết được nơi Ngài qua đêm. Thế rồi xuất hiện một cơ hội: Juda Iscariot đã quá hám tiền và biết rằng thầy của mình đã quyết định sẽ không trở thành vua, mà sẽ chết. Hắn ta biết rằng hy vọng trở thành bộ trưởng bộ tài chính tan thành mây khói, và muốn trục lợi một chút nên đã quyết định bán thầy của mình lấy 30 đồng bạc. 30 đồng bạc là giá trả cho một nô lệ. Đêm hôm đó là đêm mà Chúa Jesus không rời khỏi thành Jerusalem, Ngài đã ở lại cầu nguyện trong vườn Ghết-sê-ma-nê. Và đó là nơi Ngài bị bắt.

Luật pháp không cho phép lập ban xét xử vào ban đêm, các vụ án xét xử phải thi hành vào ban ngày. Các thầy tế lễ cả, các thầy thông giáo, người pha-ri-si đã phá luật. Họ đã triệu tập khẩn tòa công luận gồm 70 người để xét xử Chúa Jesus. Nhiệm vụ của vụ xét xử này là khép Chúa Jesus vào tội chết, tử hình.

Trong luật pháp của Môi-se có khoảng 15 tội lỗi bị khép vào tội tử hình: tội gian dâm, ngoại tình, loạn luân, không nghe lời cha mẹ, thờ thần tượng, quan hệ tình dục với thú vật… Khi xét tất cả các tội này để khép tội Chúa Jesus, thì không tìm được đủ nhân chứng hay vật chứng. Ma-thi-ơ 26:59-60 “Bấy giờ các thầy tế lễ cả và cả tòa công luận kiếm chứng dối về Ngài, cho được giết Ngài. 60 Dầu có nhiều người làm chứng dối có mặt tại đó, song tìm không được chứng nào cả.” Cuối cùng họ tìm được lý do để kết án Ngài: tội phạm thượng.

Đây là vụ án hy hữu có một không hai trong lịch sử ngành tư pháp: Chúa Jesus là người duy nhất bị kết tội tử hình vì tội Ngài tự xưng Ngài là Đức Chúa Trời. Khi một người tự xưng mình là Thượng Đế thì chỉ có 3 phương án xảy ra: 1. Điên khùng, 2. Nói dối, 3. Thật sự. Chỉ có người điên khùng hoặc thật sự mất trí mới sẵn sàng chết vì bị xử tử vì xưng mình là Đức Chúa Trời. Nhưng Chúa Jesus không phải là người điên khùng hoặc mất trí. Chúa Jesus cũng không phải là kẻ nói dối. Không có ai nói dối để nhận án xử tử cả. Như vậy thực sự Chúa Jesus là Thượng Đế. Cho nên khi thầy cả thượng phẩm và quan tổng trấn Bôn-xơ Phi-lát hỏi Ngài: “ngươi có phải là Đấng Christ, Con Đức Chúa Trời không? Ngươi có phải là Vua dân Giu-đa không?”, Ngài đáp “thật như lời: Ta là”. Chúng ta cũng cần phải biết về cụm từ đặc biệt trong tiếng Do-thái “Ta là”. Đây là cụm từ mà chỉ Đức Chúa Trời dùng để nói về chính bản thân Ngài, đó là tên riêng của Đức Chúa Trời, đó là cụm từ mà khi Môi-se hỏi “Ngài tên gì”, Chúa đã trả lời “Ta là Đấng tự hữu hằng hữu”. Con người được phép dùng cụm từ “tôi là”, nhưng chỉ Đức Chúa Trời mới có quyền sử dụng “Ta là”. Khi Chúa Jesus nói “Ta là…nước hằng sống…sự sáng…gốc nho thật…sự sống lại và là sự sống…” thì Chúa Jesus đang sử dụng cụm từ này, và người Do-thái hiểu ngay rằng Chúa Jesus đang xưng Ngài chính là Thượng Đế, là Đức Chúa Trời, là Đấng đã nói chuyện với Abraham, với David… Các thầy thông giáo, người pha-ri-si, các thầy tế lễ cả đã tức điên lên cứ mỗi khi Chúa Jesus nói “Ta là”. Và vì cớ đó họ luôn tìm cách để giết hại Ngài (Gi. 5:18; 8:58). Người Do-thái nói “chúng tôi là dòng dõi của Abraham”, nhưng Chúa Jesus nói thẳng vào mặt họ “cha của các ngươi là ma quỷ, vì nó là kẻ nói dối và là cha của sự nói dối”. Chúa Jesus là vị Mục sư không tế nhị nhất! Nếu ai đó dối trá, thì điều đó đến từ ma quỷ. Đức Chúa Trời là sự sáng, trong Ngài chỉ có lẽ thật.

Khi thầy tế lễ cả nghe Chúa Jesus nói “Ta là”, ông ta đã xé áo ra và và hét lên: “Chúng ta nào có cần chứng cớ nữa làm chi? Chính chúng ta đã nghe từ miệng nó nói ra rồi.” (Mat. 22:71) Và thế là họ biểu quyết, trong số 70 thành viên tòa công luận, 68 người bỏ phiếu thuận, có 2 người bỏ phiếu trắng: Ni-cô-đem và Giô-sép từ A-ri-ma-thê. Như vậy tòa án của người Do-thái đã kết án Chúa Jesus tội tử hình.

Nhưng nước Do-thái lúc đó là thuộc địa của Đế quốc La-mã, và người La-mã không cho phép người Do-thái quyền tử hình. Cho nên sau khi xét xử Chúa Jesus, họ lại điệu Chúa Jesus đến cho Phi-lát, là quan tổng trấn của La-mã. Đó là lý do Chúa Jesus có 2 phiên tòa. Điều đó nói lên rằng không chỉ người Do-thái có lỗi trong sự chết của Chúa Jesus, mà cả người ngoại cũng có lỗi. Điều đó có nghĩa là tất cả thế gian đều đã kết án Chúa Jesus, tất cả nhân loại đều có lỗi trong cái chết của Ngài.

Bây giờ chúng ta cùng xem xét Kinh thánh đã kể lại cụ thể ai đã tham dự vào cái chết của Chúa Jesus.

1. Chúng ta xem câu 1-6. Các nhà lãnh đạo tôn giáo, các lãnh đạo thuộc linh thời bấy giờ, bao gồm các thầy tế lễ cả, các thầy thông giáo, thầy dậy luật, các trưởng lão của dân Do Thái. Phần lớn trong số họ thuộc hàng ngũ người Pha-ri-si. Trong các sách Phúc Âm chúng ta thấy rằng đây là những con người luôn đối đầu với CHÚA GIÊ-XU. NGÀI thường xuyên mắng những người này vì sự giả hình của họ. Bên ngoài thì họ luôn tỏ ra đạo đức và vâng giữ luật pháp nhưng bên trong thì đầy dẫy những điều gian ác. Bởi sự kiêu ngạo nên họ cứng lòng và không ăn năn tội lỗi của mình. Vì vậy mà họ rất căm ghét CHÚA GIÊ-XU khi NGÀI động đến tội lỗi của họ.Tội lỗi của họ là kiêu ngạo thuộc linh. Đáng ra họ phải luôn khiêm nhường và tạ ơn Chúa đã cho họ ân điển được hầu việc Chúa. Đáng ra họ phải trở thành những người mục sư là những người chăn chiên hiền lành cho đàn chiên của Chúa, nhưng họ đã không có tấm lòng thương yêu chiên giống Chúa Jesus. Chiên của Chúa bị thiếu đói, bị ốm đau, thiếu lời Chúa… Họ không quan tâm đến chiên, mà chỉ quan tâm đến bộ mặt của mình, đánh bóng tên tuổi bản thân. Họ thích ngồi ở chỗ đầu, thích được người ta gọi bằng thầy. Họ chỉ quan tâm đến lợi ích cá nhân, họ bảo vệ cấu trúc tổ chức hoặc những luật lệ cứng nhắc của giáo hội, họ không quan tâm đến linh hồn của con chiên. Khi Chúa Jesus đến bày tỏ ân điển và tình yêu thương, thì chiên gặp được người chăn hiền lành bèn theo Chúa Jesus, thì họ ghanh tỵ, đố kỵ. Họ cảm thấy bị mất tầm ảnh hưởng của mình, cảm thấy quyền lực và tầm kiểm soát của mình bị mất. Khi Chúa Jesus đến, thay vì ăn năn, họ lại tìm cách bắt bớ người chăn chiên hiền lành Jesus, và tìm cách giết hại Ngài.

2. Chúng ta xem câu 7-12. Nhân vật thứ hai được miêu tả ở đây là vua Hê-rốt. Đây là một kiểu người rất thú vị: ông ta thật vui mừng hớn hở khi gặp được Chúa Jesus. Ông ta rất mong muốn tìm gặp Chúa. Ngày nay thật khó tìm được một người hớn hở vui mừng tìm gặp Chúa Jesus như vua Hê-rốt. Nhưng động cơ ẩn dấu bên trong tấm lòng của ông ta lại là “mong muốn được xem Chúa làm phép lạ”. Ông ta coi Chúa Jesus như một công cụ để giải trí, mua vui. Khi ông ta không thấy phép lạ, không nhận được phép lạ, thái độ của ông ta thay đổi 180 độ. Câu 11 chép “Bấy giờ vua Hê-rốt và quân lính hầu vua đều đãi Ngài cách khinh dể và nhạo báng Ngài; đoạn, họ mặc áo hoa hòe cho Ngài, rồi giao Ngài về cho Phi-lát”. Ông ta quay ra nhạo báng Chúa. Ngày nay có rất nhiều người thậm chí cả cơ đốc nhân nữa, rất mong muốn thấy Chúa Jesus làm phép lạ, họ cầu nguyện khẩn thiết để Chúa làm phép lạ cho họ. Khi không thấy phép lạ, họ từ bỏ Chúa. Hoặc là khi cơ đốc nhân đi hội thánh cho vui, chứ không phải là để làm đẹp lòng Chúa, và khi hết vui, thì bỏ hội thánh.

Chúa Jesus là Đấng làm phép lạ, ngày hôm qua hôm nay và đời đời Ngài luôn làm phép lạ, Ngài vẫn tiếp tục chữa lành bệnh tật, đuổi quỷ, khiến người chết sống lại. Nhưng những phép lạ mà Chúa Jesus làm có mục đích để chỉ ra Ngài là ai và dẫn đến với Ngài, dẫn người ta đến với đức tin. Tự thân phép lạ sẽ vô nghĩa nếu người ta qua phép lạ không có đức tin vào Đấng làm phép lạ. Và khi người ta có đức tin vào Chúa Jesus là Đấng Tạo Hóa, thì đức tin thay đổi mục đích sống: trước đây tôi sống để vinh danh bản thân, bây giờ tôi sống vì vinh hiển của Chúa. Đức tin cũng dẫn người ta đến sự vâng phục lời Chúa. Và đây là điều thú vị: sự vâng phục lời Chúa sẽ tạo nên phép lạ. Nếu chúng ta tin Chúa Jesus,thì không có phép lạ chúng ta vẫn tin và vâng phục Ngài. Nhưng khi chúng ta tin Chúa Jesus cách chân thành, Chúa Jesus thường xuyên làm phép lạ.

3. Chúng ta xem câu 13-21. Ở đây chúng ta nhìn thấy nhóm người thứ ba đã tham dự vào sự đóng đinh Chúa. Đó là dân chúng, đám đông. Đây là những con người sống theo cảm xúc và bản năng bầy đàn. Họ dễ bị kích động, xúi giục và làm theo đám đông thay vì làm theo chân lý.  Một tuần trước đây, khi Chúa Jesus cưỡi lừa đi vào thành Jerusalem, họ đã rải lá cọ trên đường Chúa đi qua và tung hô Ngài “Hosana, con vua David”. Vì thế chúng ta có ngày lễ lá. Giờ thì chúng ta nghĩ đây là điệp khúc của một số bài hát. Nhưng lúc đó “hosanna” có nghĩa đơn giản “hãy giải phóng chúng tôi, tự do”. Người Do-thái tin rằng Chúa Jesus là Đấng Messiah chỉ dành cho người Do-thái, họ tin rằng Cứu Chúa của họ là một Đấng Christ chính trị, kinh tế, xã hội. Họ tin rằng Chúa Jesus đến để phục hồi lại một thời kỳ thịnh vượng huy hoàng cho Israel, giống như dưới thời trị vì của vua David. Vì thế họ chờ đợi Chúa Jesus sẽ đến để làm cuộc cách mạng, cuộc đảo chính lật đổ vua Hê-rốt, lật đổ ách thống trị của dân ngoại, cụ thể là của Đế quốc La-mã, đem lại sự tự do chính trị, xây dựng một chế độ an sinh xã hội tuyệt vời, đem lại sự thịnh vượng vật chất cho dân chúng. Ngày nay vẫn tồn tại những người theo Tin lành thịnh vượng. Họ dạy dỗ rằng Chúa Jesus đến để thay đổi chính trị, thay đổi xã hội, đem đến một đời sống khỏe mạnh, thịnh vượng giàu có, vợ con đề huề. Họ coi Chúa Jesus không khác gì một ông “thần tài”. Tin lành thịnh vượng không mới, nó có từ thời Chúa Jesus và bởi người Do-thái sáng tạo ra. “Chẳng có điều gì mới ở dưới mặt trời”.

Khi Ngài đi từ núi Ô-li-ve vào thành, Ngài phải đi qua cửa Đông.  Cửa Đông của đền thờ, còn được gọi là Cửa Vàng hay Cửa thương xót, là 1 trong hai cổng vào duy nhất của thành cổ Jerusalem, là lối vào từ phía đông. Đáng ra Ngài phải rẽ phải, đi về phía pháo đài của lính La-mã, nhưng Ngài lại rẽ trái đi vào đền thờ. Điều đó hoàn toàn bất ngờ, đám đông lặng thinh vì ngỡ ngàng. Ở bên ngoài đền thờ có một cái sân, là nơi duy nhất của đền thờ mà dân ngoại có thể đến để cầu nguyện, đó là nhà cầu nguyện cho tất cả các dân. Toàn bộ nơi đó biến thành một cái chợ. Rồi ở đó Ngài làm những hành động rất không đẹp mắt: Ngài lật đổ bàn của những người đổi tiền, đuổi những người buôn bán chim bồ câu và vật hiến tế, là những thứ dưới sự bảo kê của các thầy tế lễ cả được bán với giá cắt cổ…Họ không hiểu một vị Vua Cứu Thế đang làm gì? Đáng ra Ngài phải ngồi lên ngai và kêu gọi tổng động viên để chiến đấu vì tự do của đất nước chứ!? Đây là lý do vài ngày sau họ đòi đóng đinh Ngài. Họ đã hy vọng vào một vị Vua đắc thắng đến đánh đuổi giặc ngoại xâm. Nhưng giờ đây Ngài lại đánh đuổi người Do-thái, phá công việc kinh doanh buôn bán của họ, mà công việc buôn bán này phục vụ cho việc hầu việc Chúa, cho việc dâng các con sinh tế trong sự thờ phượng.

Và đám đông hoàn toàn thất vọng vì hy vọng và sự chờ đợi của họ không thành hiện thực. Khi bị các lãnh đạo tôn giáo kích động, họ đã chạy theo bản năng bầy đàn và kêu la: “Đóng đinh nó trên thập tự đi”. Chúng ta nhìn thấy hiệu ứng của đám đông, của bản năng bầy đàn. Một tuần trước họ hân hoan reo mừng hớn hở: “Hosanna”, một tuần sau đó mắt họ long lên sòng sọc sùi bọt mép vì tức giận và la lớn: “đóng đinh nó đi”.

Khi một người không học lời Chúa, không có hiểu biết lời Chúa, thì sẽ không có sự nhất quán, không có chính kiến kiên định đặt nền trên  lẽ thật lời Chúa, và sẽ rất dễ bị kích động hùa theo người khác, lập bè kết phái trong hội thánh.

4. Chúng ta xem câu 22-25. Tội đồ tiếp theo đã đóng đinh Chúa Jesus, đó là Bôn-xơ Phi-lát. Trước đây người ta cứ luôn cho rằng đây là một nhân vật không có thật. Nhưng đến năm 1920 khi các nhà khảo cổ tìm được một viên đá ở Sê-sa-rê có khắc tên Bôn-xơ Phi-lát thì người ta mới tin rằng đó là nhân vật lịch sử có thật. Ông ta có xuất thân từ nô lệ, bằng nhiều thủ đoạn ông ta đã leo lên chức quan tổng trấn của La-mã. Ông ta đã đóng đinh khoảng 3000 người. Ở xứ Israel ông ta đã làm nhiều việc không được lòng dân chúng. Đã có nhiều cáo trạng của người Do-thái chống lại ông ta được gửi đến Hoàng đế Ceasar. Và Hoàng đế đã nói với ông ta, rằng nếu cứ tiếp diễn như thế ông ta sẽ bị mất chức. Cho nên, vì động cơ chính trị, vì lợi ích cá nhân, mặc dù biết rõ lẽ thật Chúa Jesus vô tội, nhưng Bôn-xơ Phi-lát đã thỏa hiệp với tội lỗi. Thậm chí vợ ông ta đã nhắn nhủ rằng đừng làm hại gì đến Jesus. Vì bảo vệ sự nghiệp công danh chính trị của mình, ông ta đã rửa tay. Ông ta đã nhắm mắt lại làm ngơ với lẽ thật, và để lấy lòng đám đông, ông ta đóng đinh Chúa Jesus thay cho một kẻ sát nhân là Ba-ra-ba. Điều đáng kinh ngạc là tên thứ nhất của người này cũng là Jesus. Đó là một sự trớ trêu. Cả 2 người đều có tên là Jesus. Tội lỗi thỏa hiệp vì lợi ích cá nhân đã khiến cho tên Bôn-xơ Phi-lát bị nguyền rủa mỗi chủ nhật, bởi các cơ đốc nhân trên toàn thế giới khi họ tuyên xưng bài tín điều các sứ đồ. Chúng ta nghĩ rằng thỏa hiệp không phải là một tội lỗi lớn. Chúng ta thường hay thỏa hiệp: chúng ta thỏa hiệp bỏ buổi thờ phượng Chúa để đi chơi, đi du lịch,đi ăn sinh nhật,…

5. Quân lính. Đây là những con người vô cảm, tàn nhẫn. Họ đối xử với người khác cách tàn nhẫn, nhận được sự khoái cảm bệnh hoạn khi hành hạ người khác, khi làm người khác đau đớn. Khi lột trần truồng Chúa Jesus, họ đánh đập Ngài, bện một cái vương miện từ gai rồi đội lên đầu Chúa Jesus, rồi ấn mạnh xuống để cho những chiếc gai nhọn đâm sâu vào đầu Ngài khiến máu chảy ra, rồi thích thú cười nhạo: “Vua Gia-đa hả!” Sau khi đóng đinh treo Ngài trên thập tự giá, những tên lính vô cảm này bắt thăm để xem ai may mắn nhận được tấm vải choàng của Ngài.

Khi chúng ta vô cảm với nỗi đau của người khác, khi chúng ta không quan tâm đến anh chị em của mình, sống chết mặc bay, thì chúng ta đang hành xử giống với quân lính La-mã.

Như vậy ai đã có lỗi trong cái chết của Chúa Jesus? Ai là người đã tham gia vào vụ oan sai này và đóng đinh Ngài, một con người vô tội lên thập tự giá? Chúng ta cùng nhớ lại: đó là các lãnh đạo tôn giáo, các lãnh đạo thuộc linh giả hình. Đó là vua Hê-rốt coi Chúa Jesus như một công cụ giải trí. Đó là đám đông coi Chúa như một ông “thần tài”. Đó là một Bôn-xơ Phi-lát luôn thỏa hiệp. Đó là đám quân lính tàn nhẫn và vô cảm. Trong danh sách này của Kinh thánh tác giả không chép về một người đã đóng cây đinh to nhất tàn nhẫn nhất vào tay chân Chúa Jesus, đó là tôi.

Tôi, Hoàng Quốc Bảo, bằng tội lỗi kiêu ngạo, ích kỷ, dâm dục, trộm cắp, lừa dối, tàn nhẫn, nói hành nói tỏi, chửi tục nói bậy, nghiện thuốc, nghiện rượu… đã đóng đinh Chúa Jesus lên thập tự giá. Không có một điều răn nào mà tôi chưa phạm, nếu không phải là hành động thì đã từng trong lời nói hoặc tư tưởng. Chỗ xứng đáng dành cho tôi là phải bị hình phạt trên thập tự giá cách trần truồng nhục nhã. Nhưng bởi tình yêu bao la, sự nhân từ và ân điển vô đối của Đức Chúa Trời tôi đã được Chúa tha tội, Ngài biến đổi địa vị tôi từ tội nhân thành hoàng tử con Vua trên muôn vua. Ngài ban cho tôi quyền thừa kế Vương quốc đời đời của Ngài.  Tôi ngợi khen Cứu Chúa yêu kính của tôi, và nguyện cả đời rao giảng Tin lành và tình yêu của Ngài. Amen.

Be the first to comment

Leave a Reply