TIN LÀNH LÀ QUYỀN PHÉP CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI ĐỂ CỨU MỌI NGƯỜI TIN (Rô-ma 1:1–17)

2025 Rô-ma 2

TIN LÀNH LÀ QUYỀN PHÉP CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI ĐỂ CỨU MỌI NGƯỜI TIN

Rô-ma 1:1–17

Câu gốc: 1:16

Giới thiệu và chào thăm (1:1–17)

  1. Phao-lô tự giới thiệu bản thân như thế nào (1)? Tin lành của Đức Chúa Trời là gì và nói về ai? (2-4)

Câu 1: – Là tôi tớ của Chúa Giê-su, mối quan hệ giữa Chủ và đầy tớ.

– Apostolos – sứ giả, người đại diện của Vua, người được sai đi với một nhiệm vụ, sứ mạng. Từ (Sứ đồ) chỉ được dùng khi người chủ là vua: Tôi là Phao-lô được Vua Jesus gọi làm đại sứ. Là sứ đồ được gọi, được chọn để rao giảng Tin Lành từ trước khi sinh ra.

Từ quan trọng nhất trong câu 1 là Tin Lành của Đức Chúa Trời và các câu 2-5 là lời giải thích về Tin Lành.

Tin Lành là điều Đức Chúa Trời đã hứa trong Cựu Ước – về Con Ngài:

Sanh bởi dòng dõi Đa-vít (theo xác thịt). Điều này không phải là ngẫu nhiên, mà Đức Chúa Trời đã hứa trước qua các tiên tri của Ngài trong Kinh Thánh. Chúa Jesus đã hoàn thành khoảng hơn 400 lời tiên tri trong Cựu Ước về Đấng Mesiah. Theo lý thuyết toán học xác xuất sai số bằng 0.

Về mặt thuộc linh, Ngài không có bản chất tội nhân nhưng sinh bởi Đức Thánh Linh, và được tỏ ra là Con Đức Chúa Trời qua sự phục sinh từ cõi chết. Ngài đã làm gì theo tâm Linh thánh khiết?

1) Ngài chết trên thập tự giá vì tội lỗi của thế gian. Tất cả con người đều chết vì tội lỗi của mình. Chỉ có người vô tội mới có thể chết để chuộc tội, gánh lấy tội lỗi của người khác. Chúa Giê-xu là Con Đức Chúa Trời, được sinh ra theo Thánh Linh để có thể chết trên thập tự giá vì tội lỗi chúng ta. Cái chết của Ngài là chết thế.

2) Ngài đã sống lại từ cõi chết. Đức Chúa Trời đã chấp nhận sự hy sinh của Chúa Jesus. Trên thập tự giá, Chúa Giê-su đã phán: Mọi sự đã hoàn tất! Đức Chúa Trời đã đáp lời này (Amen) bằng sự phục sinh của Chúa Giê-su. * Sự chết thế và sự phục sinh cứu chuộc chỉ có thể thực hiện được thông qua Tâm Linh thánh khiết. Và qua sự phục sinh, Chúa Jesus được mặc khải là Con Đức Chúa Trời, và Ngài là Chúa Cứu Thế của chúng ta. Có nhiều vị thần và chúa tể trên thế giới này, nhưng chỉ có một Đức Chúa Trời và Chúa trên tất cả, đó là Chúa Jesus. Chúa Giêsu là Chúa duy nhất của tôi, là chủ duy nhất của tôi và tôi là nô lệ của Ngài. Chúa Jesus đã làm gì? Ngài là Đấng Christ. Đấng Christ có nghĩa là Đấng được xức dầu, tức là Đấng Messiah. Chúa Giêsu là Cứu Chúa của tôi, là Đấng Trung Gian giữa Đức Chúa Trời và tôi, là Đấng Tiên Tri truyền đạt cho tôi lời của Đức Chúa Trời. Đây là Chúa Giê-su. A-men

  1. Phao-lô đã nhận được điều gì qua Chúa Giê-xu (5)? Giải thích ý nghĩa của các cụm từ “vì danh Ngài” và “ sự vâng phục của đức tin”. Những người nhận thư gửi tín hữu Rô-ma là ai và Phao-lô cầu nguyện gì cho họ (6-7)?

1) nhờ Ngài chúng ta đã nhận lãnh ân điển và chức sứ đồ, để đem mọi dân ngoại đến sự vâng phục của đức tin, vì danh Ngài, (5) Nhờ Ngài, chúng ta đã nhận được ân sủng cứu rỗi và đồng thời nhận được chức vụ sứ đồ. Ân điển, sự cứu rỗi và chức vụ Sứ đồ là một. Chúng luôn luôn ở bên nhau, giống như hai mặt của một đồng xu. Chúng ta làm gì với chức vụ này? Chinh phục mọi dân tộc cho đức tin. Nghĩa là tin tưởng và tuân theo mạng lệnh của chức vụ. Hãy tin vào Chúa và vâng lời Chúa .

2) trong các dân ấy anh em cũng đã được gọi bởi Đức Chúa Jêsus Christ, (6) Không những Phao-lô đã nhận được ân điển và chức vụ sứ đồ, nhưng cả những tín đồ ở Rô-ma cũng được Đức Chúa Jêsus Christ kêu gọi nữa. Vì thế họ cũng phải tham gia vào mục vụ sứ đồ.

3) gởi cho hết thảy những người yêu dấu của Đức Chúa Trời tại thành Rô-ma, được gọi làm thánh đồ. Nguyền cho anh em được ân điển và sự bình an từ nơi Đức Chúa Trời, Cha chúng ta, và từ nơi Đức Chúa Jêsus Christ! (7) Đây là lời chào của Phao-lô. Sự bình an – hòa bình – làm hòa (shalom) là kết quả của sự tha thứ tội lỗi. Hòa bình với Chúa và với mọi người. Hòa bình này không đến với chúng ta nhờ công của chúng ta. Người Do Thái tin rằng shalom đến thông qua luật pháp, nhưng Phao-lô nói rằng nó đến với chúng ta hoàn toàn nhờ ân điển. Vì vậy (shalom) đã trở thành lời chào chung của hội thánh sơ khai, của những người “được gọi làm thánh đồ”. Đây là một từ thú vị. Ông gọi những tín hữu ở Rô-ma là thánh đồ. Vào thời điểm được cứu rỗi, chúng ta trở thành thánh nhân. Sự xưng công bình (sự bào chữa, biện minh) ngay lập tức thay đổi địa vị thuộc linh của tín đồ. Đức Chúa Trời không nhìn tội nhân là tội nhân, mà nhìn họ là các thánh nhân.

  1. Lời cảm tạ và cầu nguyện của Phaolô cho các thánh đồ ở Rô-ma là gì (câu 8–10)? Tại sao Phaolô lại tha thiết muốn gặp họ như vậy (câu 11–13)? Ân tứ thiêng liêng là gì?

Trước hết, tôi nhờ Đức Chúa Jêsus Christ, vì hết thảy anh em mà tạ ơn Đức Chúa Trời tôi về đức tin anh em đã đồn khắp cả thế gian. (8)

Phao-lô khen ngợi các thánh đồ ở Rô-ma mà ông chưa từng gặp. Ông nói rằng ông đã cầu nguyện không ngừng cho họ và xin Chúa cho được đến thăm họ càng sớm càng tốt. Điều này là sự thực. Đức Chúa Trời làm chứng cho ông (9-10). Hội thánh Rô-ma có thể có những câu hỏi: Tại sao Phao-lô lại háo hức đến gặp chúng ta như vậy? Anh ta muốn gặp chúng ta với mục đích gì? Trong câu 11, ông nói, Để Ngài có thể ban cho anh em một số ân tứ thuộc linh để anh em được mạnh mẽ, Phao-lô nói, Tôi đã nhận được nhiều ân tứ thuộc linh, và tôi muốn chia sẻ cùng anh em, và qua sự thông công với anh em để anh em được mạnh mẽ. (11) Nghĩa là tôi muốn được an ủi với anh em bởi đức tin chung, rằng tôi và anh em có cùng một đức tin, trong sự hiệp nhất của đức tin chúng ta. (12) Ở đây, Phao-lô vẫn chưa nêu rõ ông muốn gì từ Hội thánh Rô-ma. Ông sẽ tiết lộ mong muốn trong lòng mình vào cuối bức thư này. Tuy nhiên, trong câu 13, ông đã gợi ý cho họ: Hỡi anh em, tôi không muốn anh em không biết rằng, đã nhiều lần tôi có ý định đến thăm anh em, nhưng cho đến bây giờ vẫn bị ngăn trở, để tôi cũng có thể gặt hái được chút hoa trái giữa anh em, như tôi đã gặt hái được giữa dân ngoại vậy. Ông muốn họ sinh hoa kết trái, cũng như các dân khác. Loại trái quả mà Phao-lô muốn họ có là gì? Đây là một sứ mệnh toàn cầu. Ý định trong lòng ông được nêu rõ trong Rô-ma 15:28. Và ông đưa ra một gợi ý khác ở các câu 14-15.

  1. Theo lời Phaolô, ông mắc nợ với ai (14)? Tại sao ông lại nói như vậy? Là một con nợ, Phaolô muốn làm gì (15)?

Tôi mắc nợ cả người Gờ-réc lẫn người giã man, cả người thông thái lẫn người ngu dốt. 15 Ấy vậy, hễ thuộc về tôi, thì tôi cũng sẵn lòng rao Tin Lành cho anh em, là người ở thành Rô-ma.

Phao-lô nói rằng ông là con nợ. Ông nợ ai? Nợ tất cả mọi người, cả người Hy Lạp lẫn người man rợ, cả người khôn ngoan lẫn kẻ ngốc. Điều này có nghĩa là gì? Từ khi nào mà ông lại mắc nợ nhiều người như vậy? Phao-lô gặp Chúa Giê-su trên đường đến Đa-mách. Chúa Giê-su giải thích cho ông lý do tại sao Ngài gặp Phao-lô: Ta đã chọn con làm sứ đồ cho dân ngoại. Vậy, nhờ ai mà Phao-lô nhận được sự cứu rỗi? Nhờ những người ngoại. Vì thế, Phao-lô mắc nợ họ.

→ Đức Chúa Trời luôn kêu gọi con người vào mối quan hệ với người khác – chúng ta là người được sai phái cho người khác. Tôi đã nhận được sự kêu gọi và sự cứu rỗi, nhờ có những sinh viên thanh niên sống không có mục đích lang bạt trên khắp thế giới. Sự kêu gọi của Chúa dành cho chúng ta luôn gắn liền với ai đó. Đây là nhiệm vụ của chúng ta. Nếu tôi không trả được món nợ này thì khốn khổ cho tôi . Đây là quan điểm của Sứ đồ Phao-lô. Nghĩa là, Ngài kêu gọi ông làm người đại diện. Chúa không chỉ gọi một người. Đức Chúa Trời luôn kêu gọi con người vào mối liên hệ với người khác. Vì vậy, một người được Chúa kêu gọi phải truyền đạt tin mừng cho những người mà mình có mối quan hệ trong Chúa. Vì vậy, Phao-lô nói: Tôi sẵn sàng rao giảng Tin Lành cho anh em ở Rô-ma.

  1. Tại sao Phaolô không hổ thẹn về Tin lành (câu 16)? Tin lành bày tỏ điều gì (câu 16)? “Bởi đức tin đến đức tin” và “người công chính sẽ sống bởi đức tin” có nghĩa là gì (câu 17)?

Thật vậy, tôi không hổ thẹn về Tin Lành đâu, vì là quyền phép của Đức Chúa Trời để cứu mọi kẻ tin, trước là người Giu-đa, sau là người Gờ-réc; 17 vì trong Tin Lành nầy có bày tỏ sự công bình của Đức Chúa Trời, bởi đức tin mà được, lại dẫn đến đức tin nữa, như có chép rằng: Người công bình sẽ sống bởi đức tin.

1) Tin Lành là quyền năng (Dunamis). Tin Lành phá hủy mọi quyền lực của tội lỗi và sự chết, mọi xiềng xích trói buộc của sa-tan bằng sức mạnh như thuốc nổ, một sức mạnh mà không ai có thể ngăn chặn được, và mang lại sự cứu rỗi cho mọi người. Tin Lành có khả năng mang lại cho chúng ta đức tin. Đức tin đến từ đâu? (Rô-ma 10:17) Từ lời Chúa (từ việc nghe lời Chúa). Khi Tin Lành được rao giảng ra bởi những người có sự vâng phục của đức tin thực hiện sứ mệnh sứ đồ (câu 5), thì Tin Lành có quyền năng siêu nhiên làm nên đức tin trong lòng người nghe. Khi người nghe Tin Lành có đức tin, thì Tin Lành hành động thông qua đức tin dẫn người ta đến sự cứu rỗi.

2) vì trong Tin Lành nầy có bày tỏ sự công bình của Đức Chúa Trời, bởi đức tin mà được, lại dẫn đến đức tin nữa (17). Sự công chính của Đức Chúa Trời = (Ân điển của Chúa biện minh cho tội nhân qua đức tin nơi Chúa Jesus Christ). Và giống như vinh quang của Chúa, nó tiêu diệt tội lỗi. Tin Lành dẫn chúng ta đến đức tin. Nó sống động và đưa chúng ta đi từ đức tin này đến đức tin khác, từ đức tin khởi đầu đến đức tin trưởng thành. Đức tin để được cứu: đức tin nhận biết tội lỗi đến đức tin tha thứ tội lỗi. Đức tin để nên thánh. Đức tin để vượt qua thử thách và sự tối tăm.

Khi chúng ta liên tục sống trong vinh quang của Tin Lành, đức tin của chúng ta sẽ ngày càng tăng trưởng. Và chúng ta liên tục tăng trưởng.

3) như có lời chép: người công chính sẽ sống bởi đức tin. Câu này trích từ sách tiên tri Habbakuk 2:4 Nầy, lòng kiêu ngạo sẽ không được an nghỉ, nhưng người công chính sẽ sống bởi đức tin của mình. Habakkuk phản đối trước mặt Chúa: Làm sao Chúa có thể trừng phạt dân Chúa bởi một dân tộc xa lạ là Babylon, một dân tộc tệ hơn họ?

Nhà tiên tri không hiểu tại sao thế giới lại trở nên đen tối hơn, tại sao lịch sử lại ngày càng tệ hơn? Nhưng Chúa cho thấy mỗi người đều có thời điểm riêng của mình. Babylon cũng sẽ phải chịu sự phán xét của Đức Chúa Trời, sự công chính của Đức Chúa Trời là đời đời và hằng sống. Tiên tri Habakkuk đã nhìn thấy sự công bình của Chúa và nhận được sức mạnh để sống bằng đức tin. Người có đức tin nơi Chúa, ngay cả khi ở trong tuyệt vọng hay trũng bón chết, cũng không nản lòng và giữ đức tin cho đến cùng. Người ấy sẽ không bao giờ phản bội đức tin của mình và sẽ sống theo đức tin đó. Người công chính, nhờ đức tin của mình, vượt qua bóng tối của thế giới này và những khó khăn của bản thân, và có thể dễ dàng sống sót qua lịch sử đen tối. Sứ đồ Phao-lô đã trích dẫn lời tiên tri của Ha-ba-cúc cho các tín đồ ở Rô-ma. Nếu chúng ta không tuyệt vọng trong những thời điểm đen tối, không thỏa hiệp với thế gian và sống bằng đức tin, chúng ta sẽ trở thành những Habakkuk thánh khiết của thời đại mình. Amen.

Be the first to comment

Leave a Reply