Giới thiệu Thư gửi tín hũu Rô-ma

2025 Rô-ma 1

Giới thiệu Thư gửi tín hữu Rôma

Trước khi đọc sách Rô-ma, chúng ta cần biết sách này được viết khi nào, như thế nào và tại sao. Sách Rô-ma là một bức thư. Khi đọc một lá thư, chúng ta chỉ có thể hiểu đúng nếu biết được hoàn cảnh của người gửi và hoàn cảnh của người nhận. Thư gửi tín hữu Rô-ma là bức thư mà Sứ đồ Phao-lô viết cho Hội thánh Rô-ma vào năm 58 sau Chúa.

  1. Hoàn cảnh của Phao-lô

Sứ đồ Phao-lô là ai? Gia đình ông là người Do Thái gốc Galilee. Khi Pompey tấn công Palestine, gia đình ông chuyển đến Tarsus. Tarsus là một hòn đảo lớn, nơi có tuyến đường thương mại quan trọng đi qua. Cha của Phao-lô có tài sản và địa vị xã hội đáng kể, ông đã mua quyền công dân Rô-ma , vì vậy Phao-lô tự động trở thành công dân Rô-ma khi sinh ra. Cha của Phao-lô đã gửi ông đến Jerusalem để học với Rabbi Gamaliel nổi tiếng. Tuy nhiên, việc gặp Chúa Jesus trên đường đến Damascus đã trở thành bước ngoặt trong cuộc đời ông. Tarsus là một trong ba trung tâm văn hóa chính, cùng với Athens và Alexandria, và là một thành phố đại học của Hy Lạp. Phao-lô sống tại một thành phố quốc tế ở Địa Trung Hải với trình độ trí tuệ và văn hóa cao. Ông là một người Do Thái di cư và nói tiếng Hy Lạp lưu loát từ khi còn nhỏ. Sau khi trở thành tín đồ, ông trở về Tarsus và ở lại đó 10 năm, rao giảng cho cha mẹ và một người chị gái sống ở Jerusalem. Nhiều người thân của ông sống ở Rô-ma (Rô-ma 16:7,11) và họ tin vào Chúa Giê-su trước Phao-lô và là thành viên của Hội thánh Rô-ma.

  1. Hoàn cảnh của Hội thánh Rô-ma

Phao-lô viết sách Rô-ma vào cuối năm 55 – đầu năm 58 CN tại Cô-rinh-tô, ông đã ở đó ba tháng (Công vụ 1:18, 20:3), ngay trước khi rời đi Giê-ru-sa-lem. Vào thời điểm đó, Hội thánh Rô-ma là một cộng đoàn mà Phao-lô chưa bao giờ đến thăm, nhưng ông đã có một số lượng lớn người quen trong đó, và ông có hiểu biết đáng kể về tính cách và nhân sự của Hội thánh Rô-ma thời đó. (Rô-ma 7:1, 3:8, 16:17)

1). Hội thánh Rô-ma bao gồm những người ngoại và người Do Thái. Sách Rô-ma đưa ra sự dạy dỗ tốt về mối quan hệ giữa hai nhóm này. (Rô-ma 15:8-12). Vào thời điểm đó có hơn 10 giáo đường Do Thái ở Rô-ma. Người ta ước tính có khoảng 40.000 đến 50.000 người Do Thái sống ở Rô-ma.

2). Hội thánh Rô-ma có nguồn gốc từ cộng đồng Do Thái. ① Công vụ 2:10 cho thấy rằng trong thời gian Lễ Ngũ Tuần người Do Thái đến từ Rô-ma là những người đầu tiên nghe lời loan báo về sự phục sinh của Chúa Giêsu. ② Những người tin Chúa ở Rô-ma đã từng là một chi nhánh của Do Thái giáo và đã từng là thành viên của giáo đường Do Thái. ③ Trong số họ có những người ngoại không cắt bao quy đầu vì kính sợ Chúa nên đã cải đạo sang Do Thái giáo. Vào thời điểm Phao-lô viết sách Rô-ma, thì vào năm 59 SCN ở Rô-ma và Giê-ru-sa-lem đã xảy ra tình trạng căng thẳng leo thang giữa Do Thái giáo và Cơ đốc giáo. Vào thời điểm này, Phao-lô tham gia Đại giáo hội nghị ở Giê-ru-sa-lem và đặt dấu chấm hết cho vấn đề cắt bì giữa những người ngoại theo Cơ Đốc giáo. Và trong Hội thánh văn hóa ẩm thực của những người ngoại theo Chúa đã trở thành rào cản đối với những Cơ đốc nhân người Do Thái, những người đang trở thành thiểu số. (14:1-15:6) ④ Vào năm 58 SCN một cuộc tranh chấp đã nảy sinh trong cộng đồng Cơ đốc giáo ở Rô-ma về thuế sau trận hỏa hoạn lớn thời Nero. Những người theo Chúa ở Rô-ma bị đàn áp thường có xu hướng từ chối nộp thuế. Phao-lô khuyên các tín đồ Đấng Christ ở Rô-ma phải cẩn thận, đừng để cộng đồng Cơ Đốc rơi vào tình trạng hỗn loạn (Rô-ma 13:6-10). Phao-lô nhấn mạnh rằng quyền lực của nhà nước đến từ Đức Chúa Trời.

  1. Mục đích của Thư gửi tín hữu Rôma

1) Mục đích truyền giáo (15:18-24, 28)

Để hiểu đúng một bức thư chúng ta cần biết hoàn cảnh của tác giả và người nhận. Sứ đồ Phao-lô có khải tượng rao giảng Tin Lành đến tận Tây Ban Nha – thời đó được xem là nơi tận cùng trái đất (Rô-ma 15:23–24). Sứ đồ Phao-lô mơ ước sử dụng Hội thánh Rô-ma như một Hội thánh truyền giáo. Nhưng trên cơ sở nào để Hội thánh Rô-ma sai ông đi? Đó là đức tin chung của họ – vì Phao-lô và người Rô-ma đều được cứu bởi đức tin.

2) Mục đích biện chứng

Khi làm chứng với những người theo Chúa ở Rô-ma về “Phúc âm cứu rỗi qua đức tin”, ông đã cố gắng giải quyết vấn đề cứu rỗi cho cả người ngoại và người Do Thái. Phao-lô, vượt ra ngoài quan điểm của người Do Thái về sự cứu rỗi, vốn nhấn mạnh vào luật pháp, đặc biệt nhấn mạnh đến sự cứu rỗi phổ quát thông qua đức tin vào Phúc âm. Trước cơn thịnh nộ của Do Thái giáo, Phao-lô, khi thực hiện cuộc hành trình nguy hiểm và khó khăn đến Jerusalem, mong muốn trên hết của ông là thiết lập sự hiệp nhất đức tin trong Hội thánh Rô-ma và muốn giành được sự ủng hộ của cả những người ngoại đạo và người Do Thái. Vì mục đích này, ông đã viết bức thư này, trong đó ông giải thích Phúc âm theo hình thức biện giáo. Vì vậy, Thư gửi tín hữu Rô-ma mô tả mối quan hệ giữa Phúc Âm và luật pháp, giữa dân ngoại và dân Do Thái, và ý nghĩa của sự dâng hiến mà anh chị em người ngoại sẽ gửi đến Giê-ru-sa-lem.

Thư gửi tín hữu Rô-ma được viết chủ yếu để hiệp nhất đức tin giữa Hội thánh dân ngoại và Hội thánh tại Giê-ru-sa-lem. Bởi vì ông có kế hoạch truyền bá Phúc Âm đến tận Tây Ban Nha sau khi hoàn thành công việc truyền giáo ở Tiểu Á. Sự thống nhất này rất quan trọng vì nó sẽ trở thành bàn đạp cho sứ mệnh toàn cầu trong tương lai. Vì vậy, Phao-lô, mặc dù đã được báo trước về những khổ nạn, vẫn quyết định đi đến Jerusalem với quyết tâm chết như một vị tử đạo. (Công vụ 20:22-24; Rô-ma 15:25,28).

Hội thánh Rô-ma chủ yếu gồm người ngoại. Tín hữu Do Thái gặp khó khăn khi chấp nhận người ngoại không chịu cắt bì và có văn hóa ẩm thực khác biệt, làm khó cho sự hiệp một. Vấn đề này phải được giải quyết để thực hiện sứ mạng toàn cầu – cứu rỗi cả nhân loại. Vì vậy, Phao-lô sẵn sàng chịu bắt và tử vì đạo tại Giê-ru-sa-lem vì sứ mạng ấy (Công vụ 20:22–24).

Trước khi đi Giê-ru-sa-lem, ông viết thư này tại Cô-rinh-tô, với mục tiêu: hiệp nhất tín hữu Do Thái và người ngoại trong Tin Lành.

  1. Chủ đề của Thư gửi tín hữu Rôma

“Sự công bình của Đức Chúa Trời trong Phúc Âm” (The righteousness of God in Gospel). Nhưng, sự công chính của Đức Chúa Trời đã xuất hiện – không đến từ loài người, mà từ Đức Chúa Trời. Đó là Đức Chúa Giê-su Christ, và nhân loại chỉ được xưng công chính bởi đức tin. Không có sự phân biệt Do Thái hay người ngoại– đó là Tin Lành.

Phao-lô nhắc đến Áp-ra-ham trong chương 4 như một ví dụ điển hình về một người được cứu bởi đức tin. Phao-lô nhấn mạnh rằng Áp-ra-ham được xưng công bình chỉ bởi đức tin mà thôi . Điều này được ghi lại trong Sáng thế ký 15, thậm chí trước khi ông được cắt bì. Sau đó, ông chịu phép cắt bì trong Sáng thế ký 17. Ông nói rằng Áp-ra-ham là tổ phụ của đức tin đối với dân ngoại và đồng thời là tổ phụ của đức tin đối với người Do Thái. Điều này có nghĩa là cả người Do Thái và người ngoại đều nhận được sự cứu rỗi chỉ nhờ đức tin. Điều này cho thấy rõ mục đích của bức thư này:

→ Phao-lô, với tư cách là sứ đồ cho dân ngoại, muốn giải quyết triệt để xung đột giữa các tín hữu Do Thái và ngoại bang, đồng thời giành được sự ủng hộ của cả dân ngoại và Do Thái.

→ Thư Rô-ma không phải là luận văn thần học, mà là thư của một giáo sĩ truyền giáo cho sứ mạng toàn cầu.

Nội dung thần học trọng tâm:

Chương 1: Mọi người ngoại là tội nhân.

Chương 2: Mọi người Do Thái là tội nhân.

Chương 3: Tất cả nhân loại đều dưới cơn thịnh nộ của Đức Chúa Trời, không ai được xưng công bình bởi luật pháp.

Chủ đề của Thư gửi tín hữu Rô-ma: Chủ đề của Thư gửi tín hữu Rô-ma là “sự công bình của Đức Chúa Trời” (The righteousness of God). Có tồn tại 2 khái niệm:

Justice – sự công bình của Đức Chúa Trời được bày tỏ trong luật pháp: phơi bày tội lỗi, nhưng không cứu được tội nhân. Nhưng sự công bình trong luật pháp này không thể tồn tại mãi mãi vì nó không hoàn hảo. Bởi vì con người có tội và không thể tuân giữ được luật pháp. Vậy thì nó được trở nên hoàn hảo như thế nào? Luật pháp ngụ ý điều này. Luật pháp đã làm gì với những người vi phạm luật pháp? Liệu nó có bắt mọi người tuân thủ luật pháp lại lần nữa và lại nữa không? Không, luật pháp bày tỏ ra cho con người của lễ hy sinh chuộc tội. Luật pháp dạy mọi người rằng tội lỗi được chuộc bằng huyết. Đây là việc xưng công bình (một sự biện minh).

Justification – sự xưng công bình bởi huyết Chúa Giê-su: sự tha thứ trọn vẹn. Sự công bình của Đức Chúa Trời – công chính của Đức Chúa Trời được bày tỏ trong luật pháp. Nhưng huyết của Chúa Jesus đã ban cho chúng ta sự công chính hoàn hảo. Đức Chúa Trời muốn nhìn thấy sự công chính nào nơi chúng ta? Đó là sự công bình (luật pháp) + sự biện minh (huyết của Chúa Jesus). Con người phải tìm kiếm sự công chính (công lý) và phải tìm sự biện minh trên thập tự giá của Chúa Giê-su (trong tình yêu của Thiên Chúa).

Công bình (luật pháp justice) + sự biện minh (sự xưng công bình justification) = sự công chính của Chúa (righteousness). Justice + Justification = Righteousness.

Sứ đồ Phao-lô nói: trong sự công bình của Đức Chúa Trời (The righteousness of God) hai lĩnh vực sự công chính của Đức Chúa Trời (The justice) và sự xưng công bình (biện minh, sự bào chữa) của Đức Chúa Trời (The justification) hoàn toàn hòa hợp và thống nhất. Vì sự công chính của con người (sự công chính theo luật pháp) không thể đạt tới sự công chính tuyệt đối của Đức Chúa Trời, nên sự công chính của Đức Chúa Trời (sự xưng công bình dựa trên lòng thương xót của Đức Chúa Trời) đã được mặc khải dưới dạng Phúc Âm. Sự làm hòa với Đức Chúa Trời đạt được thông qua sự biện minh này. Sự biện minh này là sự công chính bởi đức tin, trái ngược với sự công chính theo luật pháp. Đức tin này là “sự công bình được ban cho” (imputed righteousness) dựa trên sự công bình của Chúa Giê-xu Christ. Qua sự biện minh này (The justification of God), sự công chính của Đức Chúa Trời đạt được hoàn hảo, và sự bình an của Vương quốc Đức Chúa Trời đến. Sự công bình này của Đức Chúa Trời cứu cả người Do Thái và người Hy Lạp khỏi tội lỗi của họ và bào chữa cho họ thoát khỏi sự phán xét của luật pháp và lương tâm. Đây là Tin lành, là sự công bình của Đức Chúa Trời, được mặc khải trong Thư gửi tín hữu Rôma.

Trái của Tin Lành là gì?

Bông trái của Tin Lành là gì? Mọi người đều nghĩ rằng đây là con đường để được cứu rỗi. Nhưng bông trái đích thực của Tin Lành là cuộc sống yêu thương sau khi được cứu rỗi. Yêu thương, phục vụ lẫn nhau, và sống đời sống nên thánh – ấy là trái của đức tin.

Phao-lô muốn hội thánh tại Giê-ru-sa-lem thấy được trái quả của đức tin mà Tin Lành đã mang lại giữa dân ngoại. Đó là sự thay đổi trong cuộc sống của họ. Vào thời điểm đó, đang xảy ra hạn hán toàn cầu. Những tín đồ người ngoại ở Macedonia và Achia đã quyên góp tiền để giúp đỡ Hội thánh ở Jerusalem. Phao-lô muốn trao cho Hội thánh tại Giê-ru-sa-lem. (Rô-ma 15:25-29)

Bố cục thư Rô-ma:

Giới thiệu và chào thăm (1:1–17)

Cơn thịnh nộ của Đức Chúa Trời (1:18–3:20)

Con đường cứu rỗi (3:21–5:21)

Sự nên thánh (6:1–8:17)

Sự vinh hiển (8:18–39)

Thẩm quyền của Đức Chúa Trời (9–11)

Đời sống tín hữu (12:1–14:23)

Kết luận – khải tượng truyền giáo toàn cầu (15–16)

Be the first to comment

Leave a Reply