Niên đại các bản văn quan trọng nhất của Tân Ước

(Lược theo Những chứng cớ không thể chối cãi, Josh McDowell)

Niên đại các bản văn quan trọng nhất của Tân Ước

Quá trình xác định tuổi

Độ tuổi của các thủ bản được xác định theo những dấu hiệu sau:

  1. Chất liệu
  2. Kích cỡ và hình dáng chữ viết
  3. Cách ngắt câu
  4. Cách chia đoạn
  5. Màu mực
  6. Cách bài trí
  7. Các kết cấu và màu sắc của giấy da.

Đoạn văn cổ xưa nhất của Tân Ước là thủ bản John Ryland (năm 130) được lưu trữ trong thư viện của John Ryland ở thành phố Manchester của Anh. “Độ tuổi của bản văn này, nơi phát hiện ra nó (Ai Cập) nằm xa nơi nó được viết nên (Tiểu Á) – tất cả điều này giúp chúng ta phải thừa nhận rằng đoạn văn Phúc Âm Giăng này khẳng định ý kiến chung cho rằng thời gian Tân Ước được viết ra rơi vào cuối thế kỷ 1.”

Thủ bản trên giấy chỉ thảo Bodmer II (khoảng năm 150-200), được lưu giữ ở thư viện văn học thế giới Bodmer, bao gồm phần lớn sách Phúc Âm của Giăng.

Theo Bruce Metzger, thủ bản này là “văn bản quan trọng nhất của Tân Ước, được tìm thấy kể từ thời điểm phát hiện ra bản chỉ thảo của Chester Beatty …”

Thủ bản trên giấy chỉ thảo Chester Beatty (200) được lưu giữ tại Bảo tàng Beatty Chester ở Dublin, và Đại học Michigan. Bộ sưu tập này bao gồm các bản văn trên giấy chỉ thảo, ba trong số đó là những phân đoạn lớn của Tân Ước.

Trong cuốn sách “Kinh Thánh và Khoa học hiện đại” Frederic Kenyon viết: “Kết quả cuối cùng của phát hiện này vẫn là quan trọng nhất từ thời điểm phát hiện ra bản cổ văn Si-nai – đã thu hẹp khoảng cách thời gian giữa các bản cổ văn và cách xác định tuổi truyền thống của các tác phẩm Tân Ước đến mức mà khoảng cách này trở nên ngắn và không còn ý nghĩa nào trong cuộc tranh luận về tính xác thực của Phúc Âm. Không cuốn sách cổ nào có số lượng thủ bản được giữ lại đến ngày nay lớn như vậy, và không một học giả thiên vị nào sẽ tranh cãi về tính xác thực của các thủ bản cổ của Tân Ước được giữ lại đến thời nay.”

Thủ bản Vatican (năm 325-350) được lưu giữ trong thư viện Vatican bao gồm gần như toàn bộ đầy đủ bản văn của Kinh Thánh.

Thủ bản Sinai (năm 350) tại Bảo tàng Anh. Bản thảo này, trong đó có gần như toàn bộ văn bản của Tân Ước và hơn một nửa trong số các văn bản của Cựu Ước, đã được tìm thấy bởi Tiến sĩ Konstantin Von Tischendorf trong một tu viện trên núi Sinai, vào năm 1859, được tu viện tặng cho Sa-hoàng Nga, và vào dịp Giáng sinh năm 1933 đã được Chính phủ và nhân dân Anh mua lại từ Liên Xô với giá 100 nghìn bảng Anh (510 nghìn đô-la).

Bruce Metzger đã chép lại lịch sử kinh ngạc về việc phát hiện ra  bản thảo này như sau: “Năm 1844, khi vẫn chưa đến tuổi ba mươi, trợ lý giáo sư của Đại học Leipzig ngài Tischendorf đi một hành trình dài đến Trung Đông để tìm kiếm các bản thảo Kinh Thánh. Trong chuyến viếng thăm tu viện Catherine trên núi Sinai, ông tình cờ nhận thấy một số tấm giấy da nằm trong một cái giỏ cùng với một số các giấy tờ khác, với mục đích sẽ được ném vào lò sưởi của tu viện. Sau khi nghiên cứu các tấm giấy da, ông đã tin chắc rằng ông đang cầm trong tay một bản sao của bản Sep-tu-a-gint, một trong những bản dịch của Cựu Ước, được viết bằng ngôn ngữ Hy Lạp cổ đại. Ông đã lôi từ trong giỏ không nhiều hơn cũng không ít hơn bốn mươi ba cuộn giấy da. Và một tu sỹ đã kịp thông báo  với ông rằng hai giỏ giấy như vậy đã kịp bị thiêu trong lò. Khi Tischendorf tìm thấy những mảnh còn lại của bản thảo, chứa toàn bộ cuốn sách của Isaiah, cuốn 1 và 2 Maccabees, ông không thể không nói với các tu sỹ rằng bản thảo này là quá quý giá để sử dụng chúng làm nhiên liệu. Bốn mươi ba tấm giấy da, mà người ta cho phép ông được được mang đi, bao gồm các phân đoạn của sách Sử ký 1, Jeremiah, Nehemiah và cuốn sách của Ru-tơ. Khi trở lại châu Âu, ông trao chúng cho các thư viện của Đại học Leipzig, nơi chúng được lưu giữ cho đến ngày nay. Năm 1846, ông công bố nội dung của các thủ bản này, đặt tên là bản văn của Frederick Augustus, theo tên của vị vua và người bảo hộ của mình, vị vua của Saxon.”

Trong chuyến viếng thăm thứ hai của mình đến tu viện vào năm 1853, Tischendorf không tìm thấy bản thảo mới: sự nhiệt tình của nhà nghiên cứu khi lần đầu tiên ghé thăm tu viện đã làm cho các tu sĩ nghi ngờ. Năm 1859, ông đến tu viện lần thứ ba, dưới sự bảo trợ của Hoàng đế Alexander II. Không lâu trước khi rời khỏi tu viện, nhà nghiên cứu đã tặng cho cha tu viện trưởng một phiên bản của bản văn Septuagint, được ông xuất bản ở Leipzig.

Cha tu viện trưởng nói rằng ông cũng có một bản sao của bản văn Septuagint, và lôi ra từ tủ quần áo của mình bản cổ văn bọc trong vải màu đỏ. Trước mặt nhà bác học đang bị chấn động là một kho báu mà ông chỉ có thể mơ ước. Giấu diếm cảm xúc của mình, Tischendorf xin phép được xem xét cẩn thận hơn các bản thảo vào buổi tối. Tu viện trưởng cho phép, và cả đêm Tischendorf nghiên cứu bản văn trong tâm trạng hưng phấn.

Như ông đã viết trong nhật ký của mình (đã được chép lại như một cuốn nhật ký của nhà bác học bằng tiếng Latinh), “giấc ngủ lúc đó dường như là một sự phạm thượng thực sự.” Chẳng bao lâu Tischendorf phát hiện ra rằng các bản văn chứa nhiều tài liệu hơn là ông có thể mong đợi: không chỉ có một phần rất lớn của Cựu Ước, mà Tân Ước hoàn toàn nguyên vẹn, cộng với việc bổ sung hai cuốn sách đầu thế kỷ II: thư của Barnabas, mà cho đến khi đó chỉ tồn tại trong các bản dịch Latinh nghèo nàn, cũng như các phân đoạn lớn của cuốn “Người chăn chiên Germass”, chỉ được biết đến bởi tên gọi của nó. ”

Thủ bản của Alexandria (năm 400) được lưu giữ tại Bảo tàng Anh. Theo Bách khoa toàn thư Anh, nó được viết bằng tiếng Hy Lạp ở Ai Cập. Nó bao gồm gần như toàn bộ văn bản của Kinh Thánh.

Thủ bản của Ephraim (năm 400-410) được lưu trữ tại Thư viện Quốc gia ở Paris. Bách khoa toàn thư Anh nói rằng “nó thuộc về thế kỷ thứ 5 và các thông tin mà nó chứa đựng là một nguồn quan trọng của các văn bản Tân Ước.”

Trong bản thảo này có tất cả các sách của Kinh Thánh, ngoại trừ 2 Thessalonians và thư 2 của John.

Thủ bản Beza (sau 450) được lưu trữ trong thư viện của Đại học Cambridge và bao gồm các sách Phúc Âm và sách Công Vụ không chỉ bằng tiếng Hy Lạp mà còn cả tiếng Latin.

Thủ bản của Washington (năm 450) có chứa các văn bản của bốn sách Phúc Âm.

Thủ bản Klaromontansky (năm 500-510) – Bản thảo song ngữ chứa các thư của Phaolô.

Bản Masoret (năm 500-900) từ “masora” có nghĩa “truyền thống”. Phong trào masoret nhận trách nhiệm chỉnh sửa và tiêu chuẩn hoá các bản văn Thánh Kinh. Trung tâm  masoret được đặt ở Tiberiad. Bản văn sau khi được hoàn thiện được đặt tên là bản Masoret.

Be the first to comment

Leave a Reply