TIN LÀNH CỦA CHÚA JESUS
Câu khóa: “Đầu Tin Lành của Đức Chúa Jêsus Christ, là Con Đức Chúa Trời.”
I. Giới thiệu về sách Tin Lành theo Mác:
- Tác giả: Mác là thông dịch viên và là thư ký riêng của sứ đồ Phi-e-rơ đã ghi chép lại những gì sứ đồ Phi-e-rơ giảng. Papias of Hierapolis (khoảng 60–163 AD) là giám mục ở Hierapolis xứ Phri-gi, theo ghi chép lại của nhà sử học Eusebius Pamphilus người Hy-lạp vào thế kỷ 4 , đã có làm chứng rằng: “Mác, vị thư ký riêng của Phi-e-rơ, đã ghi chép lại tường tận một cách chính xác những lời nói và việc làm của Chúa Jesus, nhưng không theo thứ tự…” Những ghi chép của hội thánh thời đầu đều làm chứng về quyền tác giả của Mác. Tuy vậy những câu 16:9-20 theo nhiều nhà nghiên cứu là được thêm vào khoảng cuối thế kỷ 2. Những câu này không có trong các thủ bản Si-nai và Va-ti-can. Theo một số nhân chứng như Eusebius, Hỉeonymus,… thì vào thời của họ sách Mác kết thúc bằng câu 8. Chính trong sách Mác 14:51-52 có ghi chép về một sự kiện cá nhân, mà các sách khác không có. Công vụ 12:12 cho chúng ta biết Mác, còn gọi là Giăng là cháu của Ba-na-ba. Ông đã cùng đi với cậu mình và sứ đồ Paul trong chuyến truyền giáo đầu tiên. Công vụ 15:37-39 kể lại việc Mác yếu lòng, yếu đức tin nên không chịu khổ được, ông đã rời bỏ sứ mệnh, đứt gánh giữa đường. Nhưng một con người như vậy sau này Chúa lại vực dậy và sử dụng để viết nên sách Tin Lành đầu tiên. Trong CHÚA JESUS ai cũng có hy vọng và cơ hội trở thành người vĩ đại, được Chúa sử dụng. Sau này sứ đồ Paul lại tha thứ và gọi ông quay lại (2 Tim. 4:11).
- Đối tượng và thời gian: Đa số các học giả đều cho rằng Mác viết sách này vào khoảng từ năm 60-70 tại Rô-ma, cho các tín hữu người Rô-ma và ở Ý đang nằm dưới sự bắt bớ bách hại. Do đó tiếp theo ông sẽ phải chọn từ ngữ hợp với nhóm thính giả này để truyền thông đến họ sứ điệp của mình. Tuy nhiên theo dẫn chứng của sử gia Eusebius Pamphilius of Caesarea (260/265-339AD) thì sách Mác được viết vào năm 43. Nhưng chắc rằng sách Mác được viết ra đầu tiên, cho nên nó phải được viết ra trước năm 50 AD.
- Đặc điểm: Đây là cuốn sách Tin Lành ngắn nhất, cô đọng nhất. Đây cũng là cuốn Tin Lành đầu tiên trong 4 cuốn sách Tin Lành. Nên nó thành viên gạch nền đầu tiên cho các sách Tin Lành tiếp theo.
- Thể loại văn: Vào thế kỷ 1, các sách Tin Lành chưa được chép lại thành văn bản. Trong Hội thánh đầu tiên phần lớn các tín hữu là người nghèo, thuộc tầng lớp bần cùng, thất học, mù chữ. Do đó Hội thánh là một đoàn thể nơi người ta kể lại, thuật lại những câu chuyện. Các nhà truyền đạo chuyển tải sứ điệp của họ bằng phương pháp thuật chuyện stories-telling, cho bạn bè, người thân, trong các buổi nhóm họp. Sách này nhấn mạnh về những công việc của Chúa Jesus, hơn là đến những sự dạy dỗ của Ngài. Sách được viết rất ngắn gọn, đơn giản, đi từ những sự kiện này đến những sự kiện khác, sống động và nhanh chóng. Nó giống như một vở kịch hay là bộ phim hành động với các hồi (episod) diến ra nhanh. Do đó sách Tin Lành theo Mác không nên nghiên cứu như một tác phẩm văn học, để đưa ra những phân tích bình giảng triết lý sâu sắc, mà đó là tuyển tập những câu chuyện về CHÚA JESUS được tường thuật lại. Chúng ta nên học sách này với mục đích qua những sự kiện, câu chuyện để gặp được CHÚA JESUS.
II. Tin Lành của Đức Chúa Jêsus Christ, là Con Đức Chúa Trời
Mỗi một cuốn sách Tin Lành được viết theo quan điểm riêng của từng tác giả và dành cho nhóm thính độc giả riêng. Đó là bài giảng của nhà truyền đạo và là quan điểm của riêng ông. Có thể nói đó là bức phác họa chân dung CHÚA JESUS mà mỗi họa sỹ vẽ nên. Đó không phải là bức ảnh chụp, mà là bức phác họa chân dung. Do đó nó chứa đựng phong cách riêng, cách nhìn riêng của mỗi tác giả. 4 sách Phúc âm là 4 bức phác họa chân dung khác nhau về CHÚA JESUS. Từ đây chúng ta thấy:
- 4 sách Phúc âm là sự dạy dỗ lành mạnh, đầy đủ, không có gì là huyễn tưởng. Tất cả là những câu chuyện có thật.
- 4 bức chân dung cho chúng ta thấy CHÚA JESUS từ nhiều phương diện khác nhau. Đó là bức tranh hoàn chỉnh về CHÚA JESUS.
Bây giờ chúng ta nói về Tin Lành theo Mác.
Chúng ta cùng xem câu 1:1 “Đầu Tin Lành của Đức Chúa Jêsus Christ, là Con Đức Chúa Trời.” Chữ “đầu” ở đây là khởi đầu, giống như Sáng thế ký, và Tin Lành theo Giăng. Mác muốn nhấn mạnh là bắt đầu một trang sử hoàn toàn mới trong lịch sử thế giới: kỷ nguyên Tin Lành của CHÚA JESUS.
Ở đây chúng ta thấy quan điểm của Mác: “tôi bắt đầu viết về Tin Lành, tôi đang viết Tin Lành”. Mác gọi cuốn sách của mình là Tin Lành (tin mừng, tin tức tốt lành). Trước Mác chưa có ai gọi CHÚA JESUS là Tin Lành cả. Sau Mác người ta mới bắt đầu sử dụng thuật ngữ này. Các sách Tin Lành khác lúc đầu không gọi là Tin Lành.
Ma-thi-ơ gọi cuốn sách của mình là ghi chép về gia phả, tài liệu lịch sử. “Gia phổ Đức Chúa Jêsus Christ.” (Mathio 1:1) Mác không ghi chép về gia phả vì người ngoại không quan tâm đến chuyện này. Trong sách Mác có một số những từ ngữ La-tinh (centurion, legion, dinarius) mà không có trong sách Ma-thi-ơ.
Lu-ca đặt tên là bản tiểu sử (report), bản báo cáo thống kê. “Hỡi Thê-ô-phi-lơ quí nhân, vì có nhiều kẻ dốc lòng chép sử về những sự đã làm nên trong chúng ta, 2 theo như các người chứng kiến từ lúc ban đầu và trở nên người giảng đạo đã truyền lại cho chúng ta, 3 vậy, sau khi đã xét kỹ càng từ đầu mọi sự ấy, tôi cũng tưởng nên theo thứ tự viết mà tỏ ra cho ông.” (Lu-ca 1:1-3)
Giăng – chỉ chép lại 7 phép lạ chọn lọc, nên có thể gọi là “bộ sưu tập phép lạ” (biblion). Giăng 20:30-31 “Đức Chúa Jêsus đã làm trước mặt môn đồ Ngài nhiều phép lạ khác nữa, mà không chép trong sách nầy. Nhưng các việc nầy đã chép, để cho các ngươi tin rằng Đức Chúa Jêsus là Đấng Christ, tức là Con Đức Chúa Trời, và để khi các ngươi tin, thì nhờ danh Ngài mà được sự sống.” (Giăng 20:30-31).
Thuật ngữ “Tin Lành” – tiếng Hy-lạp ευαγγελιον evangelio, là tin tức về chiến thắng khải hoàn trong chiến trận. Xuất xứ của từ ngữ này có từ thời Hy-lạp cổ đại. Thời đó Hy-lạp chưa phải là một quốc gia thống nhất, mà mỗi thành phố là một quốc gia nhỏ. Các thành- tiểu quốc thường tranh chiến với nhau. Năm 490TCN xảy ra trận Marathon lịch sử giữa quân đội Ba tư (Phe-rơ-sơ, Persian empire) và quân dân Athens. Quân Ba Tư có 72.000 quân gồm 60.000 bộ binh và 12.000 kỵ binh. Trong khi đó quân Athens chỉ có 11.000 người. Tuy nhiên quân Athens sẽ chiến đấu một mất một còn vì không muốn thành nô lệ và để bảo vệ quê hương (“bàn thờ và bếp” – như cách nói của họ). Khi trận đánh bắt đầu, tất cả dân Hy-lạp, dân thành Athens đều đi ra khỏi nhà, đứng ngóng trông tin tức. Tại sao? Bởi vì nếu họ thua trận, tất cả đều trở thành nô lệ, họ sẽ mất tất cả: gia đình, con cái, tài sản, đất đai,… Hàng ngày họ bỏ hết công ăn việc làm, đứng nhìn về phía đồng bằng Marathon. Bỗng một hôm họ nhìn thấy một chấm đen nhỏ chuyển động. Càng đến gần thì hiện ra đó là một người lính đang chạy đến.
Ngay sau chiến thắng lịch sử tại Marathon, một người lính được lệnh truyền tin thắng trận đến kinh thành Athens. Tại kinh thành người Athens đang rất nóng lòng chờ tin từ Marathon, bởi nếu thất bại họ sẽ trở thành những nô lệ cho quân Ba Tư. Cố báo tin vui thật nhanh, người lính đã phải chạy qua quãng đường 42 km rừng núi. Tới được kinh thành thì người lính kiệt sức nhưng vẫn kịp hét to lên rằng “Chúng ta đã chiến thắng!” rồi gục xuống. Hình ảnh đó đã mãi khắc sâu trong trái tim người Hy Lạp đến tận ngày nay.. Tất cả dân chúng vô cùng phấn khích reo mừng chiến thắng đã cứu số phận tương lai của họ, con cháu họ. Tin tức về chiến thắng này là “evangelio”. Thế vận hội Olympics lần đầu tiên tổ chức vào năm 1896 ở thủ đô Athens của Hy Lạp. Tại Thế vận hội này người Hy Lạp đã đưa môn chạy Marathon vào tranh tài nhằm tưởng nhớ đến trận đánh lịch sử trên cánh đồng Marathon.
Mác đã sử dụng thuật ngữ này để miêu tả CHÚA JESUS. Chính trong từ ngữ này có ý nghĩa “chiến thắng”. Evangelio – là tin mừng về chiến thắng. Đây chính là quan điểm riêng của Mác. Mác giống như người lính chạy marathon để công bố tin mừng chiến thắng: “Tin Lành của Đức Chúa Jêsus Christ, là Con Đức Chúa Trời, Ngài đã chiến thắng! Halleluijah! Hura!” Giả sử CHÚA JESUS thất bại, tất cả chúng ta, tất cả nhân loại sẽ đời đời kiếp kiếp trở thành nô lệ cho sa-tan, tội lỗi và sự chết. Nhưng CHÚA JESUS đã chiến thắng! CHÚA JESUS là Con Đức Chúa Trời, Ngài là Đấng chiến thắng. Mọi sự kiện trong Tin Lành theo Mác đều miêu tả CHÚA JESUS là Đấng chiến thắng. CHÚA JESUS chiến thắng sự cám dỗ trong đồng vắng. CHÚA JESUS chiến thắng bệnh tật. CHÚA JESUS chiến thắng tà linh. CHÚA JESUS chiến thắng thậm chí thiên nhiên. CHÚA JESUS chiến thắng tất cả quyền lực của tội lỗi bằng sự chết trên thập tự giá. Ngài đã phục sinh. CHÚA JESUS chiến thắng sự chết. Chiến thắng của Ngài là chiến thắng của chúng ta. Chúng ta được cứu để cùng Ngài cai trị trong sự sống đời đời. Nội dung của Tin Lành theo Mác là như vậy. Chủ đề chính của sách này là – chiến thắng. Như vậy Mác muốn khích lệ và làm vững tin trước những sự bách hại kinh khủng và dạy dỗ các tín hữu làm môn đồ Chúa nghĩa là như thế nào.
Chúng ta xem câu 1 “Đầu Tin Lành của Đức Chúa Jêsus Christ.” CHÚA JESUS là ai theo xác thịt? Ngài chỉ là một ông thầy nhà quê vùng Nazareth. Đây là một vùng quê nghèo hèn, và bị khinh bỉ. Nhưng Jesus người Na-xa-ret là Ai? Ngài là Đấng Christ (tiếng hy-lạp Christos, tiếng Do-thái Messiah, nghĩa là Đấng chịu xức dầu.)
Văn hóa và tục lệ của người Do-thái thấm đẫm khái niệm này. Đức Chúa Trời đổ Thần của Ngài lên một người, biệt riêng khỏi những người khác ra làm thánh để sử dụng người đó cho một trong 3 chức vụ: 1/Vua 2/ Thầy tế lễ 3/ Nhà tiên tri. Trong xã hội Do-thái vua và thầy tế lễ đóng vai trò là đảng cầm quyền, còn nhà tiên tri là đảng đối lập. Đảng cầm quyền luôn rời xa khỏi Lời Chúa, lúc đó từ hoang mạc dấy lên nhà tiên tri cáo trách họ, để họ ăn năn. Vì vậy các nhà tiên tri thường chết trong tay của các thầy tế lễ và vua là đảng cầm quyền.
Nhưng người Hy-lạp không thể hiểu được khái niệm “người chịu xức dầu”. Trong văn hóa của họ không có tục lệ như vậy. Ngôn ngữ của họ cũng không có khái niệm này. Do đó Mác cần phải tìm ra một thuật ngữ khác để thay thế thuật ngữ “Christos”, để cho người ngoại, người Rô-ma hiểu được. Ví dụ như sứ đồ Paul sử dụng từ “CHÚA JESUS Christ là Chúa (Chúa tể = the Lord). Bởi vì trong văn hóa Hy-lạp cho rằng có nhiều thần khác nhau. Mỗi một vị thần cai trị một lĩnh vực. Thần cao nhất là Zeus. Paul nói: Jesus Christ là The Lord, là Đấng chỉ có một, Chúa trên muôn chúa, Vua trên muôn vua (1 Cor. 8:5-6). Các tín hữu người Hy-lạp hiểu ngay Phao-lô đang nói gì.
Chúng ta nhớ rằng sách Tin Lành theo Mác được viết cho đối tượng thính giả là người Rô-ma. Mác đã sử dụng từ “Con Đức Chúa Trời” (trong tiếng La-tinh Divi Filius) cho người Rô-ma. Khái niệm này họ hiểu quá rõ. Đối với người Rô-ma hoàng đế Caesar là con Đức Chúa Trời, là thiên tử. Dân Rô-ma gọi Juliy Caesar là Divus Julius (nghĩa là Thần tối cao). Sau đó con nuôi của ông ta là Octavian được gọi là Divi Filius. Từ đó các hoàng đế khác đều tự xưng mình là Divi Filius – con Thượng đế. Họ quỳ lạy trước tượng hoàng đế. Đó là tín ngưỡng của họ. Khi Mác dùng thuật ngữ này “CHÚA JESUS là Con Đức Chúa Trời”, thì các tín hữu ở Rô-ma hiểu ngay Mác đang muốn nói gì: “CHÚA JESUS mới là Vua thật sự, là Đấng đã chiến thắng quyền lực của tội lỗi, sự chết, quyền lực của sa-tan và vương quốc tối tăm, Ngài đã phục sinh và trở thành Con Đức Chúa Trời vĩnh hằng, đời đời!”
Mác đã đặt ra một thách thức dũng cảm bằng bài giảng của mình: “CHÚA JESUS là Con Đức Chúa Trời”. Trong xã hội La-mã đó giống như là cuộc khởi nghĩa vùng lên chống lại cường quyền của hoàng đế La-mã. Thậm chí người Rô-ma rất sợ phát ngôn lên điều này. Nhưng Mác đã tuyên bố cách hùng hồn với cả đức tin, rằng CHÚA JESUS là Con Đức Chúa Trời và là Đấng chiến thắng.
Mác tuyên bố điều này với những tín hữu người Rô-ma đang đau khổ dưới sự bắt bớ, bách hại của hoàng đế Ne-rôn. Mọi người nghĩ rằng Cesar có quyền lực trên cả thế gian. Mỗi ngày họ gặp đau khổ, chết chóc. Chính vậy nên Mác đã viết cho họ: “Đầu Tin Lành của Đức Chúa Jêsus Christ, là Con Đức Chúa Trời.” Hoàng đế Cesar không phải là thiên tử, không phải là con Đức Chúa Trời. CHÚA JESUS mới là Con Đức Chúa Trời, Ngài là Đấng Christ, Ngài là Đấng chiến thắng.
Ở đầu sách Mác tuyên bố điều này “Đức Chúa Jêsus Christ, là Con Đức Chúa Trời.” Ở cuối sách thầy đội là viên sĩ quan La-mã trước thập tự giá của CHÚA JESUS đã tuyên xưng: “thật Người này là Con Đức Chúa Trời” (Mác 15:39). Đối với viên sĩ quan quân đội La-mã hoàng đế mới là con Đức Chúa Trời, nhưng anh ta đã tuyên bố: “CHÚA JESUS thật là Con Đức Chúa Trời”. Đó là lời công bố chung kết về chiến thắng của CHÚA JESUS.
Cấu trúc này được gọi là “tiếng vang vọng của Kinh thánh”. Cấu trúc của sách Tin Lành theo Giăng cũng giống thế. Ở đầu Giăng tuyên bố CHÚA JESUS là Đức Chúa Trời, ở cuối Thomas tuyên bố “Ngài là Chúa và là Đức Chúa Trời” (Giăng 20:28). Như vậy sách Tin Lành theo Mác là cuốn sách về chiến thắng. Từ quan điểm này chúng ta sẽ hiểu đúng sứ điệp mà Mác muốn truyền thông.
Trong Giăng 16:33 CHÚA JESUS phán: “Ta đã bảo các ngươi những điều đó, hầu cho các ngươi có lòng bình yên trong ta. Các ngươi sẽ có sự hoạn nạn trong thế gian, nhưng hãy cứ vững lòng, ta đã thắng thế gian rồi!” Nhiều người bị thất bại trước quyền lực của tội lỗi, tội lỗi hành hạ, trói họ vào xiềng xích của nó. Nhưng CHÚA JESUS đã chiến thắng. Và chiến thắng của Ngài cũng là chiến thắng của chúng ta. Cùng với CHÚA JESUS và ở trong Ngài chúng ta là những người chiến thắng, chúng ta có thể sống một đời sống đắc thắng. CHÚA JESUS đã chiến thắng trong tôi, trong đời sống của tôi, của gia đình tôi.
Tôi cầu nguyện để qua những bài học sách Mác chúng ta sẽ nhận được chiến thắng khải hoàn trước tội lỗi, trước sự tấn công của ma quỷ, trước những cám dỗ, trước những thói hư tật xấu, nghiện ngập, rượu, thuốc lá, trước dịch bệnh covid19. Amen.
Leave a Reply
Bạn phải đăng nhập để gửi phản hồi.