Câu khóa 2:22
Phân đoạn Kinh thánh hôm nay nói về việc CHÚA JESUS chiến thắng trong những cuộc tranh luận (argument). CHÚA JESUS so sánh Ngài là chàng rể và là rượu mới, còn Cơ đốc nhân là bạn hữu của chàng rể và là bầu da đựng rượu. Chúng ta cùng cầu xin Chúa Thánh Linh soi sáng dạy dỗ chúng ta qua Lời Chúa hôm nay. Amen.
I. CHÚA JESUS là chàng rể (18-22)
1. Tại sao người ta lại phán xét các môn đồ của CHÚA JESUS? (18) Hãy suy nghĩ về nan đề của người pha-ri-si.
Chúng ta xem câu 18 “Vả, môn đồ của Giăng và người Pha-ri-si đều kiêng ăn. Có người đến thưa cùng Đức Chúa Jêsus rằng: Bởi cớ nào môn đồ của Giăng và môn đồ của người Pha-ri-si đều kiêng ăn, còn môn đồ của thầy không kiêng ăn?” Có rất nhiều lý do để kiêng ăn. Chúng ta kiêng ăn để tìm kiếm ý muốn Chúa, để dành thời gian ra đọc Kinh thánh. Kiêng ăn giúp chúng ta khống chế được con người xác thịt, con người cảm xúc. Thường thì Kinh thánh gọi người bị cảm xúc ảnh hưởng điều khiển, thì gọi đó là người có tánh xác thịt. Khi gặp phải một nan đề khó, thì chúng ta nên kiêng ăn cầu nguyện. Khi mắc phải một tội lỗi dai dẳng hay một thói quen tội lỗi, để ăn năn cai dứt chúng ta kết hợp kiêng ăn và cầu nguyện. Và khi có một người nào đó bị ma quỷ và tội lỗi khống chế, thì chúng ta kiêng ăn cầu thay cho người đó. Mác 9:28-29 chép “Khi Đức Chúa Jêsus vào nhà rồi, môn đồ hỏi riêng Ngài rằng: Sao chúng tôi đuổi quỉ ấy không được? 29 Ngài đáp rằng: Nếu không kiêng ăn cầu nguyện, thì chẳng ai đuổi thứ quỉ ấy ra được.”
Khi gặp được CHÚA JESUS những kẻ thu thuế và tội nhân bắt đầu một cuộc đời mới, thường xuyên tổ chức ăn uống vui vẻ và mời CHÚA JESUS cùng các môn đồ của Ngài đến làm khách. Từ khi gặp CHÚA JESUS ngày nào đối với họ cũng vui như tết, họ nói với nhau: “chúng ta thật may mắn vì gặp được Chúa và được tha tội”. Nhưng không phải ai cũng vui với họ. Những người pha-ri-si rất tức giận khi thấy tội nhân vui mừng và sống tự do trong ân điển, thấy các môn đồ Chúa cùng kẻ thu thuế ăn uống thoải mái toàn đồ ngon, lại không giữ sự kiêng ăn theo luật pháp của tôn giáo nên đã phán xét họ. “Bởi cớ nào môn đồ của Giăng và môn đồ của người Pha-ri-si đều kiêng ăn, còn môn đồ của thầy không kiêng ăn?”
Nhưng tại sao người ta lại hỏi CHÚA JESUS như vậy? Bởi vì người pha-ri-si cho rằng nghi thức kiêng ăn mới là tín ngưỡng thật. Trong phần lớn trường hợp họ thường cố tình để cho người khác nhìn thấy sự kiêng ăn của mình. Họ còn bôi mặt mình bằng vôi trắng, mặc quần áo xộc xệch và làm vẻ mặt nghiêm trọng để cho người ta nhìn thấy sự trung thành đối với tín ngưỡng của mình. Sự kiêng ăn đối với người pha-ri-si biến thành một nghi lễ tôn giáo quan trọng để cho người khác nhìn thấy. Sự kiêng ăn thật không phải là một nghi lễ tôn giáo, mà là nhu cầu của tấm lòng chân thành trước Chúa.
2. Tại sao các bạn của chàng rể lại không thể kiêng ăn? Khi nào thì họ sẽ kiêng ăn? (19,20) Bạn hữu của chàng rể và chàng rể có nghĩa gì?
Chúng ta xem câu 19 “Đức Chúa Jêsus phán rằng: Bạn hữu của chàng rể có kiêng ăn được trong khi chàng rể còn ở cùng mình chăng? Hễ chàng rể còn ở với họ đến chừng nào, thì họ không thể kiêng ăn được đến chừng nấy.” Để giải thích tại sao các môn đồ của mình không kiêng ăn, CHÚA JESUS sử dụng một hình ảnh rất thú vị trong đời sống văn hóa của người Do-thái. Sau đám cưới đôi uyên ương không đi dự tuần trăng mật mà mở cửa nhà mình trong vòng một tuần. Họ mời các bạn của chàng rể và cô dâu, những người này được gọi là “Bạn hữu của chàng rể” và cùng nhau ăn uống vui vẻ suốt cả tuần. Trong suốt cuộc đời lao động vất vả thì tuần lễ cưới này là thời gian hạnh phúc nhất. CHÚA JESUS so sánh môn đồ của Ngài với bạn bè của chàng rể trong đám cưới. Thực tế là có tồn tại một nguyên tắc của các thầy rabbi như sau: “những người được mời dự đám cưới được phép không phải tuân giữ theo những nguyên tắc tôn giáo mà có thể làm giảm đi niềm vui sướng”. Khách dự đám cưới được phép không phải kiêng ăn.
CHÚA JESUS so sánh Cơ đốc giáo với đám cưới, là ngày lễ hội của tình yêu và niềm vui. Từ đây chúng ta có thể thấy tính chất đặc biệt quan trọng của Cơ đốc giáo chân thật là sự vui vẻ. Cuộc đời của Cơ đốc nhân không phải là gánh nặng của việc phải tuân giữ những nghi lễ tôn giáo, mà luôn tràn ngập niềm vui và ân điển. Chìa khóa của niềm vui này ở chỗ là chúng ta đã được cứu rỗi, và CHÚA JESUS giờ này ở trong mỗi chúng ta. Ngài biết tất cả những gì đang xảy ra, và Ngài sẽ làm cho mọi sự hiệp lại để làm ích cho chúng ta. Vì vậy mặc dù chuyện gì xảy ra đi chăng nữa, thì mọi thứ đều có ích cho chúng ta. Chúng ta có thể luôn vui mừng và cảm tạ Chúa vì mọi sự.
Nhưng trong câu 20 “Song tới kỳ chàng rể phải đem đi khỏi họ, trong ngày đó họ sẽ kiêng ăn” CHÚA JESUS cũng nói về ngày mà chàng rể phải đem đi khỏi họ. Lúc đó không có ai hiểu điều đó có nghĩa là gì. Nhưng ngay từ đầu CHÚA JESUS đã nhìn thấy thập tự giá. Cái chết trên thập tự giá không phải là tai nạn ngẫu nhiên. Ngài đã tự nguyện lựa chọn con đường đó để cứu nhân loại.
3. Tại sao không có ai vá miếng vải mới vào cái áo cũ? (21) Tại sao phải rót rượu mới vào bầu mới? (22) Miếng vải mới và rượu mới có nghĩa là gì?
Chúng ta xem câu 21-22 “21 Không ai vá miếng nỉ mới vào cái áo cũ; nếu vậy thì miếng nỉ mới chằng rách áo cũ, mà đàng rách càng xấu thêm. 22 Cũng không ai đổ rượu mới vào bầu da cũ; nếu vậy, rượu làm vỡ bầu, rượu mất và bầu cũng chẳng còn.”
CHÚA JESUS biết rất rõ Phúc Âm mà Ngài đem đến cho thế giới này là điều hoàn toàn mới mẻ, khác hẳn với những sự dạy dỗ của các thầy thông giáo và pha-ri-si. Nó không thể hiểu nổi bằng lý trí. Để giải thích cho ý mình, CHÚA JESUS sử dụng 2 hình ảnh.
1/ CHÚA JESUS nói về sự nguy hiểm của việc vá miếng vải mới vào cái áo cũ. Miếng vải mới là loại chưa giặt lần nào, khi giặt thì nó sẽ co lại. Nếu chiếc áo bị cũ, thì sự co lại của miếng vải mới sẽ làm bung chỗ nào bị vá, làm cho chỗ rách lại càng to hơn và tệ hại hơn. CHÚA JESUS đang nói về việc Cơ đốc giáo và Tin Lành sẽ phải tách hẳn ra khỏi Do thái giáo. Cái áo cũ của Do thái giáo không thể đổi mới, hay sửa lại, mà nó phải được thay thế. Lúc đầu Hội thánh Jerusalem vẫn là 1 phần của Do thái giáo. Nhưng đến Công vụ chương 11, khi Đại bản doanh truyền giáo chuyển sang Hội thánh Antioch, thì từ đây Cơ đốc giáo đã hoàn toàn tách rời khỏi Do thái giáo. Thời Trung cổ lúc Martin Luther đến, không thể nào mà vá hết những chỗ rách của Giáo hội Vatican, và điều tất yếu xảy ra – đó là thời kỳ Phục hưng Tin Lành cải chánh.
2/ Thời CHÚA JESUS chưa có các loại chai lọ. Và người ta giữ rượu nho trong các bầu đựng bằng da. Da mới còn co giãn, nhưng lúc cũ đi thì dễ nứt. Rượu mới thì còn lên men, và trong quá trình lên men sinh ra khí gaz, làm căng bầu da. Bầu da mới sẽ co giãn, còn bầu da cũ không chịu được áp suất nén, sẽ bị nứt vỡ, mất cả rượu, hỏng cả bầu da. Rượu mới ở đây tượng trưng cho sức mạnh của Tin Lành của CHÚA JESUS. CHÚA JESUS là Đấng chiến thắng, khi Ngài đến thì sức mạnh và quyền năng của Ngài hành động làm sạch người phong hủi, nâng người bại liệt đứng dậy. Tin Lành có quyền phép phá bỏ những cái cũ, và tạo nên lịch sử mới. Tin Lành của CHÚA JESUS đã bắt đầu hành động trong đời sống mỗi chúng ta, sẽ thay đổi gia đình chúng ta, những người xung quanh, cộng động người Việt tại Odesa, Kiev…và đến cùng trái đất mà không gì cản nổi.
CHÚA JESUS dạy rằng chúng ta cần phải luôn giữ tấm lòng mình mềm mại để có thể tiếp nhận những điều mới. Có 2 loại tội lỗi mà làm cho chúng ta có thể trở thành bầu da cũ, đó là kiêu ngạo và lười biếng thuộc linh. Nếu chúng ta không luôn học lời Chúa và tiếp nhận lời Chúa, thì tấm lòng của chúng ta có thể bị chai cứng. Càng già người ta càng không muốn thay đổi, càng không muốn từ bỏ những thói quen và cách sống.
Một số người nghĩ rằng mình biết hết rồi và không cần học hỏi nữa. Nhưng điều thú vị là chỉ những người biết ít thì lại mới kiêu ngạo thuộc linh. Chúng ta cần phải giữ lòng mình luôn luôn sẵn sàng khiêm nhường học hỏi. Chúng ta cũng đừng cho rằng mình đã hiểu biết nhiều lời Chúa. Ngược lại càng học Kinh thánh chúng ta càng thấy mình biết thật ít. Cả khi học một phân đoạn Kinh thánh nào đó nhiều lần, chúng ta nghĩ mình biết mục sư định nói gì rồi, nhưng Đức Thánh Linh ngày hôm nay vẫn phán với chúng ta một điều gì đó mới mẻ qua phân đoạn Kinh thánh quen thuộc.
II. CHÚA JESUS là chủ ngày sa-bát (23-28)
4. Tại sao người pha-ri-si lại phán xét các môn đồ của CHÚA JESUS? (23) CHÚA JESUS đã bảo vệ học trò của mình như thế nào? (1 Samuen 21:1-60)
Chúng ta xem câu 23-24 “23Nhằm ngày Sa-bát, Đức Chúa Jêsus đi qua đồng lúa mì; đang đi đường, môn đồ Ngài bứt bông lúa mì. 24 Các người Pha-ri-si bèn nói cùng Ngài rằng: Coi kìa, sao môn đồ thầy làm điều không nên làm trong ngày Sa-bát?”
Người pha-ri-si cho rằng những nguyên tắc lớn trong 10 điều răn không đủ, mà họ cho rằng những gì mà luật pháp Chúa không nói rõ ràng rành mạch, thì nó ngụ ý. Do đó họ chia những điều răn lớn ra thành hàng ngàn những quy tắc nhỏ để giúp cho người ta có thể áp dụng và vâng giữ 10 điều răn. Các thầy dạy luật và thầy thông giáo – là những người sáng tạo ra những quy tắc, quy chuẩn như vậy. Pha-ri-si – có nghĩa là “cô lập, biệt lập” – họ tự tách mình ra khỏi xã hội để giữ những luật lệ và quy chuẩn đó. Thời CHÚA JESUS người Do-thái cho rằng việc vâng giữ những quy tắc nhỏ nhặt này là liên quan đế sống chết và sự cứu rỗi đời đời. Theo luật của người pha-ri-si bứt bông lúa mì và ăn vào ngày sa-bát là phạm vào tội khủng khiếp.
Chúng ta xem câu 25-26 “25 Ngài đáp rằng: Các ngươi chưa đọc đến sự vua Đa-vít làm trong khi vua cùng những người đi theo bị túng đói hay sao? 26Thể nào trong đời A-bi-tha làm thầy cả thượng phẩm, vua ấy vào đền Đức Chúa Trời, ăn bánh bày ra, lại cũng cho những người đi theo ăn nữa, dầu bánh ấy chỉ những thầy tế lễ mới được phép ăn thôi?” Đối với người Do-thái Môi-se và David là 2 người có uy tín nhất đối với họ. CHÚA JESUS đã lấy ví dụ về vua David trong 1 Sam 21 khi chạy trốn khỏi Sau-lơ đến thành Nóp, thì đói. Trên bàn thờ có 12 cái bánh mì là của lễ dâng cho Chúa và mỗi tuần thay 1 lần. Chỉ sau khi được thay thì trở thành đồ dành cho các thầy tế lễ, và chỉ có họ mới được sử dụng (Lê-vi 24:5-9). Nhưng để cứu khỏi chết đói thì David đã lấy và ăn bánh này. CHÚA JESUS đã lấy ví dụ này trong Cựu Ước để cho người pha-ri-si thấy rằng để cứu người thì chúng ta có thể bỏ qua mọi rào cản của luật pháp.
5. CHÚA JESUS nói gì về thái độ của người ta với ngày sa-bát? CHÚA JESUS được miêu tả ở đây là ai?
Chúng ta xem câu 27-28 “27 Đoạn, Ngài lại phán: Vì loài người mà lập ngày Sa-bát, chớ chẳng phải vì ngày Sa-bát mà dựng nên loài người. 28 Vậy thì Con người cũng làm chủ ngày Sa-bát.”
Con người được tạo dựng nên không phải để trở nên vật hy sinh và nô lệ cho những nguyên tắc mà lúc đầu được lập nên để làm cho cuộc sống con người tốt hơn. Linh hồn con người quan trọng hơn hệ thống tổ chức của giáo hội. Con người quý hơn mọi nghi lễ tôn giáo. Giữ ngày thánh là điều cần thiết. Nhưng nếu chúng ta nghĩ rằng việc chỉ đến nhà thờ ngồi dự buổi lễ thờ phượng chủ nhật một cách trang nghiêm là Cơ đốc nhân tốt, thì Cơ đốc giáo thật dễ dàng. Nếu như người ta quên đi sự phục vụ, tình yêu thương, sự nhân từ và lòng thương xót là bản chất của Cơ đốc giáo thì đức tin sẽ gặp hiểm họa. Chúng ta phải có lòng thương xót đối với những tội nhân đang bị đùa xuống hỏa ngục và cứu được một linh hồn thoát khỏi hỏa ngục là việc thiện lành lớn nhất trong đời. Chúng ta phải đi ra và phục vụ tha nhân, đó là biểu hiện của tình yêu thương thật. Điều có ý nghĩa quyết định trong tất cả những việc làm của chúng ta là tình yêu thương, chứ không phải là chữ viết của luật pháp. Cách phục vụ Đức Chúa Trời tốt nhất – đó là phục vụ tha nhân.
Từ “Con người” là một trong những danh xưng của Đấng Christ, cũng như những danh xưng khác của CHÚA JESUS như: Con Đức Chúa Trời, Con vua David, Vua Israel. CHÚA JESUS là Đức Chúa Trời Đấng Tạo Hóa, Ngài là chủ luật pháp, Ngài là Đấng lập pháp, Ngài ở trên luật pháp, nên những ai trong Ngài cũng không nằm dưới sự phán xét của luật pháp nữa. Ở trong CHÚA JESUS chúng ta được thoát khỏi sự phán xét của luật pháp, do đó Cơ đốc giáo là ân điển, là niềm vui bất tận. Những ai trong CHÚA JESUS trở thành bạn hữu của chàng rể, sống một đời sống tự do, vui mừng. Đó mới là Cơ đốc giáo thật sự.
Chúng ta rất dễ trở thành những người theo chủ nghĩa luật pháp, pha-ri-si của thế kỷ 21, mà khi đó những người xung quanh sẽ khổ sở. Nếu chúng ta không ăn năn, thì tấm lòng con người rất dễ trở nên chai cứng, cũ kỹ, và rất khó để chúng ta thay đổi, tiếp nhận những điều mới. Mà Đức Chúa Trời là Đấng chuyên làm những sự mới. Rượu mới phải đựng trong bầu mới. Chúng ta cần phải mang hết những chiếc áo cũ của tội lỗi đên với CHÚA JESUS và ăn năn để Chúa làm đổi mới tấm lòng của chúng ta, để Tin Lành đắc thắng của CHÚA JESUS bày tỏ quyền năng chiến thắng của Ngài trong đời sống chúng ta. Cách chúng ta học Kinh thánh, sau đó viết suy gẫm, ăn năn và áp dụng Lời Chúa cá nhân là phương cách để luôn luôn giữ lòng mình làm bầu rượu mới. Cầu xin Chúa luôn giúp chúng ta làm mới tấm lòng qua sự ăn năn. Amen.
Leave a Reply
Bạn phải đăng nhập để gửi phản hồi.