CHÚA JESUS CHIẾN THẮNG TRƯỚC TÒA CÔNG LUẬN
Mác 14: 43-72
Câu khóa 14: 61-62 “Nhưng Đức Chúa Jêsus làm thinh, không trả lời chi hết. Thầy cả thượng phẩm lại hỏi: Ấy chính ngươi là Đấng Christ, Con Đức Chúa Trời đáng ngợi khen phải không? 62 Đức Chúa Jêsus phán rằng: Ta chính phải đó; các ngươi sẽ thấy Con người ngồi bên hữu quyền phép Đức Chúa Trời, và ngự giữa đám mây trên trời mà đến.”
Qua bài học tuần trước chúng ta biết được cầu nguyện là chìa khóa đem đến chiến thắng cho Chúa Jesus, Ngài chiến thắng được tranh đấu nội tâm để vâng phục theo ý muốn Đức Chúa Trời. Với quyết định vâng phục đó Chúa Giê-xu được tiếp thêm sức trong lòng, nhận được sức mạnh từ Đức Chúa Trời, Ngài sẵn sàng chịu khổ nạn vác thập tự giá đến cùng với sự bình an lạ lùng. Đó là kết quả của sự cầu nguyện theo ý muốn của Đức Chúa Trời.
Phân đoạn kinh thánh ngày hôm nay là tiếp nối của bài học tuần trước. Khi Chúa Giê-su chiến thắng trong lời cầu nguyện, Ngài đứng dậy và đi gặp những người đã đến bắt Ngài.
Bài học hôm nay có 3 sự kiện xảy ra: 1/ việc bắt giữ Chúa Giê-su trong vườn Ghết-sê-ma-nê. 2/ xét xử Chúa Giê-su trước Tòa công luận và 3/ việc Phi-e-rơ chối bỏ Chúa.
Cầu xin Chúa Thánh Linh ban cho chúng ta linh của sự khôn ngoan và sự khải thị để mỗi chúng ta nhận được lời Chúa ngày hôm nay cho cá nhân mình. Amen.
I. CHÚA JESUS bị bắt (43-52)
Chúng ta xem câu “Ngài đang còn phán, tức thì Giu-đa, là một trong mười hai sứ đồ thoạt đến với một toán đông cầm gươm và gậy, bởi các thầy tế lễ cả, các thầy thông giáo, và các trưởng lão phái đến. 44 Vả, đứa phản Ngài đã cho chúng dấu hiệu nầy: Hễ tôi hôn ai, ấy là người đó; hãy bắt lấy và điệu đi cho cẩn thận. 45 Vậy, khi Giu-đa đến rồi, liền lại gần Ngài mà nói rằng: Lạy thầy! Rồi nó hôn Ngài. 46 Chúng bèn tra tay bắt Đức Chúa Jêsus. 47 Có một người trong những kẻ ở đó rút gươm ra, đánh một đứa đầy tớ của thầy cả thượng phẩm, chém đứt tai đi. 48 Đức Chúa Jêsus cất tiếng phán cùng chúng rằng: Các ngươi đem gươm và gậy đến bắt ta như ta là kẻ trộm cướp. 49 Ta hằng ngày ở giữa các ngươi, giảng dạy trong đền thờ, mà các ngươi không bắt ta; nhưng điều ấy xảy đến, để lời Kinh Thánh được ứng nghiệm. 50 Bấy giờ, mọi người đều bỏ Ngài và trốn đi cả. 51 Có một người trẻ tuổi kia theo Ngài, chỉ có cái khăn bằng gai trùm mình; chúng bắt người. 52 Nhưng người bỏ khăn lại, ở truồng chạy trốn khỏi tay chúng.” Trong bức tranh này Mác miêu tả 5 nhóm nhân vật khác nhau. Chúng ta cùng xem xét mỗi nhóm nhân vật.
1/ Kẻ phản bội Giu-đa. Khi Chúa Jesus cùng 3 môn đồ lên núi cầu nguyện, cũng lúc đó Giu-đa đi ra đón quân lính đến từ các thầy tế lễ cả, các thầy thông giáo và các trưởng lão để đến bắt Chúa Jesus. Anh ta biết rằng mọi người ai cũng đã từng nhìn thấy Chúa và biết mặt Chúa, nhưng anh ta sợ rằng trong sự chạng vạng tranh tối tranh sáng các tên lính có thể bắt nhầm người, cho nên anh ta đưa ra dấu hiệu thật đáng ghê sợ, đó là nụ hôn. Trong văn hóa Do thái đây là cách để người ta bày tỏ sự tôn kính với thầy rabbi yêu mến. Giu-da nói “Hễ tôi hôn ai, ấy là người đó”. Bình thường người ta dung động từ “philein” – nụ hôn xã giao. Nhưng ở đây tác giả Mác dùng động từ “kataphilein”, nghĩa là hôn người rất yêu dấu. Dấu hiệu của sự phản bội lại là nụ hôn của người yêu. Đây là chi tiết ảm đạm và kinh tởm nhất trong cả sách Tin Lành theo Mác.
2/ Đám đông đến bắt Chúa. Mác chép là đám đông được các thầy tế lễ cả, các thầy thông giáo, và các trưởng lão phái đến. Đó là 3 nhóm người chính của Tòa công luận. Mác nhấn mạnh đó là họ được sai đến bởi tòa công luận. Họ cầm gậy gộc đến, vì họ sẵn sàng manh động gây đổ máu.
3/ Có một người le lói chút hy vọng nên đã rút gươm đánh tôi tớ của thầy tế lễ thượng phẩm và cắt tai ông ta. Giăng 18:10 chép đó là Phi-e-rơ. Thực đó không phải là cách phản ứng nên có của môn đồ của CHÚA JESUS. Tuy nhiên điều đáng khích lệ ở đây là đã có một người dám đứng lên chiến đấu vì Chúa trong hoàn cảnh nguy hiểm như vậy. Nhưng CHÚA JESUS đã dừng cuộc xung đột đó lại, Ngài đã dùng quyền năng siêu nhiên để chữa lành cái tai bị chặt đứt mọc lại như cũ.
4/ Các môn đồ. Chúng ta xem câu 50-52 “50 Bấy giờ, mọi người đều bỏ Ngài và trốn đi cả. 51 Có một người trẻ tuổi kia theo Ngài, chỉ có cái khăn bằng gai trùm mình; chúng bắt người. 52 Nhưng người bỏ khăn lại, ở truồng chạy trốn khỏi tay chúng.” Đây là một cơn ác mộng đối với các môn đồ, tất cả mọi người đều vô cùng kinh hoàng. Một vài giờ trước, tất cả họ đều thề trung thành với Chúa Giê-su, nhưng bây giờ đứng trước sự nguy hiểm tất cả đều bỏ Chúa Jesus. Các môn đồ chưa sẵn sàng theo Chúa Giê-su, họ sợ phải chia sẻ chung số phận giống Thầy mình. Nỗi sợ hãi bao trùm lấy họ. Vì vậy, họ bỏ chạy, tất cả không trừ một ai. Mác đề cập đến một thanh niên trẻ tuổi đã thoát ra bằng cách lột quần áo của mình và trần truồng bỏ chạy. Trong các sách Tin Lành khác không có ai miêu tả lại sự việc này. Tại sao chỉ có Mác kể về nó, vì đó chính là ông. Và ông đang muốn nói: “vào lúc đó tôi đã ở đó, và tôi không thể nào quên được cái đêm hôm đó”.
5/ Chính CHÚA JESUS. Thật ngạc nhiên là trong sự hỗn loạn lúc đó chỉ có Chúa Jesus mới có sự bình tĩnh, như thể Ngài đang tể trị hoàn cảnh và mọi sự phải xảy ra như thế. Cuộc tranh đấu nội tâm đã được chiến thắng qua sự cầu nguyện ở vườn Ghết-sê-ma-nê. Giờ đây tâm hồn Ngài không bị xáo động nữa, Ngài biết rõ phải thực hiện ý muốn của Đức Chúa Cha.
Thầy cả thượng phẩm muốn bắt Chúa Giê-su và các môn đồ của Ngài và quy cho họ là kẻ cướp và có lẽ họ đã chuẩn bị thông cáo: “Đêm qua, có một nhóm cướp có vũ trang tấn công vào đội bảo vệ của Tòa công luận, Chúa Giê-su Nazareth và một số môn đồ của Ngài đã bị bắt gọn…” Thầy cả thượng phẩm đã dựng nên vở kịch này để dễ dàng kết tội và giết CHÚA JESUS. Nhưng Chúa Giêsu đã ngăn vở kịch này lại. “Các ngươi đem gươm và gậy đến bắt ta như ta là kẻ trộm cướp. Ta hằng ngày ở giữa các ngươi, giảng dạy trong đền thờ, mà các ngươi không bắt ta; nhưng điều ấy xảy đến, để lời Kinh Thánh được ứng nghiệm.” CHÚA JESUS bày tỏ lẽ thật “để lời Kinh Thánh được ứng nghiệm”. Chúa Giêsu bị bắt không phải vì Giu-đa quyết định phản Ngài, và không phải vì lòng căm thù của các thầy tế lễ, mà vì đó là ý muốn của Đức Chúa Trời. Chúa Giê-xu hạ mình xuống và phó chính Ngài trong tay những kẻ đến bắt Ngài, vì Ngài đã hoàn toàn chấp nhận chén này.
II. CHÚA JESUS trước Tòa Công luận (53-65)
Chúng ta xem câu 53. “Chúng điệu Đức Chúa Jêsus đến nơi thầy cả thượng phẩm, có hết thảy thầy tế lễ cả, trưởng lão, và thầy thông giáo nhóm họp tại đó.” Mọi chuyện rồi cũng phải đi đến hồi kết. Một cuộc họp bất thường của Tòa Công luận đã diễn ra trong nhà của thầy tế lễ thượng phẩm. Như chúng ta đã biết, Tòa công luận là nơi tập hợp những người có ảnh hưởng nhất ở Y-sơ-ra-ên, những người nắm trong tay quyền lực to lớn. Trong một số vấn đề tôn giáo, thậm chí còn cao hơn cả vua. Từ lâu họ đã căm ghét Chúa Giê-su vì Ngài đã mạnh dạn tố cáo họ về tội giả hình và đạo đức giả. Chẳng hạn, Ngài đã can thiệp vào công việc kinh doanh của họ bằng cách lật tung bàn đổi tiền trong đền thờ. Ngài dạy người chăn chiên chân chính phải như thế nào, và do đó làm hình ảnh thầy tế lễ của họ trở nên xấu xí. Ngài chữa bệnh miễn phí cho mọi người. Nhiều lần họ muốn bắt Ngài để hạ nhục Ngài trước dân chúng. Nhưng mỗi lần họ bắt bớ Ngài Chúa Giê-su với sự khôn ngoan từ trời, luôn chiến thắng trước họ. Không những thế Chúa còn tố cáo họ, chẳng hạn: “Trong ngày Sa-bat nên làm điều lành hay làm điều dữ, nên cứu người hay giết người?” Họ biết Chúa nói đúng nên họ im lặng. Tuy nhiên, họ không muốn ăn năn nên lòng họ càng ngày càng tràn đầy sự căm thù và muốn giết Chúa Giê-su.
Chúng ta xem câu 55-59 “Vả, các thầy tế lễ cả, cùng cả tòa công luận đều tìm chứng gì để nghịch cùng Đức Chúa Jêsus đặng giết Ngài, song không kiếm được chi hết. 56 Vì có nhiều kẻ làm chứng dối nghịch cùng Ngài; nhưng lời họ khai chẳng hiệp nhau. 57 Bấy giờ có mấy người đứng lên làm chứng dối nghịch cùng Ngài rằng: 58 Chúng tôi có nghe người nói: Ta sẽ phá đền thờ nầy bởi tay người ta cất lên, khỏi ba ngày, ta sẽ cất một đền thờ khác không phải bởi tay người ta cất. 59 Song về điều nầy, lời chứng của họ cũng chẳng hiệp nhau nữa.”
Bồi thẩm đoàn gồm có 71 người. Những người này bao gồm người Sa-đu-sê (tất cả các thầy tế lễ đều là người Sa-đu-sê), người Pha-ri-si và thầy thông giáo, chuyên gia pháp lý, và các trưởng lão được kính trọng. Tòa ngồi hình bán nguyệt để mỗi thành viên trong tòa có thể nhìn thấy tất cả các thành viên khác. Nơi họp chính thức của Tòa công luận là phòng Gazzite, nằm trong sân của đền thờ. Và phán quyết chỉ được coi là hợp lệ khi nó được đưa ra ở đó.
Toà án cũng không được xét xử vào ban đêm, hay là trong những ngày đại lễ. Những lời chứng phải được lấy cung từng người một cách riêng rẽ, rồi sau đó được đối chiếu, và chỉ những lời khai nào trùng hợp với nhau trong những chi tiết nhỏ nhặt nhất mới được công nhận là hợp lệ. Sau đó từng thành viên của bồi thẩm đoàn được quyền nói lên ý kiến cá nhân. Nếu Tòa Công luận tuyên án tử hình thì chỉ có thể được tiến hành sau khi hết hạn một đêm, tức là vào ngày hôm sau, để tòa có cơ hội xem xét lại quyết định của mình và ân xá cho người bị kết án. Nhưng trong vụ án xét xử CHÚA JESUS Tòa công luận đã vi phạm một loạt lỗi trong trình tự tố tụng xử án. Phiên tòa diễn ra lúc ban đêm, và không diễn ra trong phòng Gazzite. Phán quyết không được tất cả bồi thẩm đoàn biểu quyết. Từ lúc đưa ra án quyết đến lúc thi hành chỉ có 1 đêm. Trong nỗ lực trừ khử CHÚA JESUS các lãnh đạo Do thái đã không ngần ngại phạm luật. Rồi thì những nhân chứng giả mạo đưa ra những lời khai giả mạo, không khớp. Hãy xem câu 57,58. “Bấy giờ có mấy người đứng lên làm chứng dối nghịch cùng Ngài rằng: 58 Chúng tôi có nghe người nói: Ta sẽ phá đền thờ nầy bởi tay người ta cất lên, khỏi ba ngày, ta sẽ cất một đền thờ khác không phải bởi tay người ta cất.” Những nhân chứng giả đã buộc tội Chúa Giê-su nói rằng Ngài sẽ phá hủy đền thờ. Có thể ai đó tình cờ nghe được CHÚA JESUS phán trong Giăng 2:19 “Đức Chúa Jêsus đáp rằng: Hãy phá đền thờ nầy đi, trong ba ngày ta sẽ dựng lại!” và căn bản làm sai lệch nó, biến những gì Ngài đã nói thành mối đe dọa phá hủy đền thờ. Chúng ta biết ý nghĩa thực sự của Chúa Giê-su trong câu Kinh thánh này, Chúa Giê-su không có ý định phá hủy đền thờ. Nhưng sự thật là trong ba ngày nữa Ngài sẽ dựng lên một ngôi đền vĩnh cửu không phải do tay con người làm nên. Sự khổ nạn, thập tự giá và cái chết của Chúa Giê-xu là một đền thờ vĩnh cửu, trong đó chúng ta có thể nhận được sự tha thứ tội lỗi và bình an từ Đức Chúa Trời. Nhưng kết quả của những lời chứng giả mạo là gì? Câu 59 “Song về điều nầy, lời chứng của họ cũng chẳng hiệp nhau nữa.”
Cuối cùng, thầy tế lễ thượng phẩm đã tự mình giải quyết vấn đề. Ông ta đưa ra những câu hỏi mà luật pháp không cho phép hỏi, là những câu hỏi “mớm”, mà nếu đương sự trả lời thì sẽ tự kết án mình. Ông công khai hỏi Chúa Giê-su rằng Ngài có phải là Đấng Messiah không. Chúng ta xem câu 61-62. “Thầy cả thượng phẩm lại hỏi: Ấy chính ngươi là Đấng Christ, Con Đức Chúa Trời đáng ngợi khen phải không? 62 Đức Chúa Jêsus phán rằng: Ta chính phải đó; các ngươi sẽ thấy Con người ngồi bên hữu quyền phép Đức Chúa Trời, và ngự giữa đám mây trên trời mà đến.” Rõ ràng là Chúa Giê-su cho rằng đã đến lúc phải chấm dứt toàn bộ cảnh tượng đáng xấu hổ này, đã không ngần ngại trả lời rằng có, Ngài là Đấng Messiah. Và đây là cơ sở cho lời cáo buộc tội báng bổ, một sự phạm thượng đến Đức Chúa Trời: Tòa Công luận đã đạt được điều mình muốn.
Một lần nữa, chúng ta thấy có hai đức tính tuyệt vời của Chúa Giê-xu. 1/ Sự dũng cảm của Ngài. Ngài biết rằng một câu trả lời như vậy sẽ khiến Ngài phải trả giá bằng mạng sống của mình, nhưng Ngài đã không ngần ngại trả lời theo cách đó. Nếu Ngài bác bỏ lời buộc tội này, họ sẽ không thể làm gì được với Ngài. Nhưng đây là lẽ thật duy nhất có thể cứu họ và chúng ta. Đó là lý do Ngài công bố lẽ thật. Chúa Giê-xu là Đấng Christ, Đấng chiến thắng đích thực và là Vua đời đời. 2/ Sự tin quyết của Ngài. Ngay cả bây giờ khi thập tự giá đã trở thành điều không thể tránh khỏi, thì Ngài vẫn tiếp tục nói với sự tin tưởng hoàn toàn vào chiến thắng cuối cùng của Ngài.
Tòa Công luận tượng trưng cho quyền lực chính trị của thế gian này. Họ không sợ ai cả. Do đó, chỉ có một thứ có thể cứu họ – sự sợ hãi trước sự phán xét của Đức Chúa Trời. Sau khi chết, chỉ có hỏa ngục và thiên đường. Mỗi người sẽ đi đến thiên đường hoặc hỏa ngục. Cả thiên đường và hỏa ngục sẽ tồn tại mãi mãi. Và chỉ có một con đường bảo đảm đến thiên đàng. Chúa Jesus Christ là con đường duy nhất lên thiên đường! Chúa Giê-su không sợ Tòa Công Luận, trái lại Ngài sợ họ có thể bị sa xuống hỏa ngục. Vì vậy, Ngài đã công bố lẽ thật, qua đó có thể họ tiếp nhận và được cứu. Như chúng ta biết, ít nhất 2 người từ Tòa công luận đó là Nicodem và Joseph ở thành Arimathea là thành viên của Tòa công luận, là những người có địa vị cao ở thành Jerusalem đã trở thành tín đồ của Chúa Jesus. Trong Công vụ 6:7 chúng ta đọc “Đạo Đức Chúa Trời càng ngày càng tràn ra, số môn đồ tại thành Giê-ru-sa-lem thêm lên nhiều lắm. Cũng có rất nhiều thầy tế lễ vâng theo đạo nữa.”
Một ngày kia, mọi người sẽ thấy Chúa Jesus ngồi bên hữu quyền phép Đức Chúa Trời, và ngự giữa đám mây trên trời mà đến. Đây là lẽ thật có thể thức tỉnh bất cứ ai, ngay cả những người phạm tội kinh khủng nhất. Chúa Giê-xu đã sống lại từ cõi chết, Ngài thăng thiên và vào thời kỳ cuối cùng Ngài sẽ đến với tư cách là Đấng phán xét. Mọi người sẽ thấy Ngài, nhưng làm thế nào gặp Chúa Giê-xu? Tôi sẽ vui mừng vì tôi đã có đời sống trung tín với Chúa Jesus, hoặc tôi sẽ vò đầu, nghiến răng và hối tiếc, rằng tôi đã từ chối lời kêu gọi của Chúa hàng trăm lần. Vào ngày đó, những bức tường thành vững chắc, của cải vật chất, quyền lực chính trị, quân đội hay thậm chí cả vũ khí hạt nhân sẽ không thể chống lại Ngài. Ngài là Vua thực sự của toàn thế giới, và mọi đầu gối phải quỳ trước Ngài.
Giờ này, chúng ta vẫn còn có cơ hội để ăn năn và phục hồi mối quan hệ của chúng ta với Đấng Christ: “Nếu ai muốn theo ta, phải liều mình, vác thập tự giá mình mà theo ta.” (Mác 8:34)
Chúng ta xem câu 63. “Bấy giờ thầy cả thượng phẩm xé áo mình ra mà rằng: Chúng ta có cần kiếm chứng cớ khác nữa làm chi?” Người Do Thái xé quần áo của họ để thể hiện đau buồn sâu sắc hoặc sự tức giận phẫn nộ của họ. Tuy nhiên, theo luật, thầy tế lễ không được xé quần áo của mình, kể cả trong trường hợp người thân cận nhất qua đời. (Lê-vi Ký 21:10 Thầy tế lễ được quyền trọng hơn các anh em mình, – đã được rưới dầu xức trên đầu mình, được biệt riêng ra thánh, để mặc mình bằng bộ áo thánh, – chẳng nên để đầu trần và xé áo mình.) Đây là một trong số ít luật chỉ liên quan đến thầy tế lễ thượng phẩm, và nó có nghĩa là thầy tế lễ thượng phẩm được thánh hóa cho Đức Chúa Trời và không nên hành động theo cảm xúc và tình cảm. Tuy nhiên, Thầy cả thượng phẩm muốn giết Chúa Giê-su đến nỗi không kiểm soát được cảm xúc của mình, ông đã làm điều chưa từng được nghe – xé quần áo của mình. Hãy xem câu 64. “Các ngươi có nghe lời lộng ngôn chăng? Các ngươi nghĩ thế nào: Ai nấy đều đoán Ngài đáng chết.” “các ngươi nghĩ như thế nào?” tại sao thầy cả thượng phẩm lại đặt ra câu hỏi này? Nếu câu trả lời của Chúa Jesus đủ để kết tội, vậy tại sao lại hỏi người khác. Trên thực tế, thầy tế lễ cả chỉ hỏi câu hỏi này để có được sự chấp thuận chính thức, để đưa Chúa Giê-su vào bản án tử hình. và tất cả đều đã đồng ý từ lâu.
Chúng ta xem câu 65. “Có kẻ nhổ trên Ngài, đậy mặt Ngài lại, đấm Ngài, và nói với Ngài rằng: Hãy nói tiên tri đi! Các lính canh lấy gậy đánh Ngài”. Tất cả những điều này đang diễn ra trong sân nhà của thầy tế lễ thượng phẩm, và có các thầy tế lễ và các trưởng lão. Không còn nghi ngờ gì nữa, thật là một bi kịch khủng khiếp khi thấy Đấng Thánh đến thế gian để hiến dâng tình yêu thương cho mọi người, nhưng đã bị tước đoạt công lý bình thường nhất và bị sỉ nhục bởi sự ngược đãi thô bạo và tàn nhẫn của các lính canh và tôi tớ của Tòa Công luận.
III. Phi-e-rơ chối Chúa (66-72)
Bây giờ chúng ta hãy quay lại với Phi-e-rơ. Câu 54 nói rằng “ Phi-e-rơ theo sau Ngài xa xa, cho đến nơi sân trong của thầy cả thượng phẩm; rồi ngồi với quân lính gần đống lửa mà sưởi.” Đôi khi kể lại câu chuyện này, chúng ta thường có đánh giá không công bằng về Phi-e-rơ. Nhưng chúng ta thường không để ý rằng Phi-e-rơ đã hành động cách thật dũng cảm đến tuyệt vọng. Bắt đầu từ việc ông đã dùng gươm chém đứt tai của người đầy tớ của thầy tế lễ cả. Thông minh hơn là không nên làm điều này. Rồi khi các môn đồ khác bỏ trốn, ông đã theo Chúa đi vào sân nhà thầy tế lễ cả trong sự tuyệt vọng. Ông đã giữ lời hứa, không bỏ rơi Chúa trong hoạn nạn. Nhưng sau đó thì lại thể hiện sự mâu thuẫn hai mặt của bản chất con người. Khi ông đến để sưởi ấm bên đống lửa, đột nhiên một đầy tớ gái nhận ra ông. Bởi sự sợ hãi ông đã chối bỏ ngay lập tức: “Ta không biết, ta không hiểu ngươi nói chi.” Người hèn nhát sẽ bỏ trốn ngay, nhưng ông lại không bỏ trốn. Người đầy tớ gái đó thấy ông, lại nói cùng những người ở đó rằng: Người nầy cũng là bọn đó. 70Nhưng người lại chối một lần nữa. Khỏi một chặp, những kẻ đứng đó nói cùng Phi-e-rơ rằng: Chắc thật, ngươi cũng là bọn đó, vì ngươi là người Ga-li-lê. 71 Người bèn rủa mà thề rằng: Ta chẳng hề quen biết với người mà các ngươi nói đó! 72 Tức thì gà gáy lần thứ hai; Phi-e-rơ bèn nhớ lại lời Đức Chúa Jêsus đã phán rằng: Trước khi gà gáy hai lượt, ngươi sẽ chối ta ba lần. Người tưởng đến thì khóc.
Phi-e-rơ này, đã từng nói với Chúa Giê-xu “Ngài là Đấng Christ” (Mác 8:29). Cũng chính ông trong câu 29, 31 đã thề “Dầu mọi người vấp phạm vì cớ thầy, nhưng tôi chẳng hề làm vậy.” “Dầu tôi phải chết cùng thầy, tôi cũng chẳng chối thầy đâu”. Nhưng hiện tại ông đã chối Chúa Giê-xu ba lần. Tại sao? Những lời hứa của Phi-e-rơ không có nghĩa rằng ông là người mạnh mẽ, mà là trong tấm lòng của ông ông thực sự yêu Chúa Giêsu. Tuy nhiên, bản tính con người là yếu đuối, nhu nhược và không thể trung tín. Ông yếu đuối bởi sự kiêu ngạo của bản thân. Thường sự phản bội là dấu chấm hết của một mối quan hệ. Không ai thích kẻ phản bội và không muốn tha thứ cho kẻ phản bội. Nước mắt của ông là giọt nước mắt hối hận. Phi-e-rơ tự thấy mình là kẻ phản bội và là tội nhân yếu đuối. Những giọt nước mắt này không xấu. Những giọt nước mắt này tốt hơn nhiều so với nụ hôn của Judas. Khóc trước mặt Đức Chúa Trời về tội lỗi của chúng ta là điều tốt không có gì đáng xấu hổ khi chúng ta khóc về tội lỗi cả. Đây là con đường để chữa lành và phục hồi. Ông đã ăn năn và kinh nghiệm được sự tha tội đến từ Chúa. giờ đây ông hiểu được sự yếu đuối và giới hạn của bản thân, ông không còn tự đề cao mình nữa, và câu chuyện phản bội đó là lời làm chứng của Phi-e-rơ.
Chúng ta cần phải đánh dấu một điểm sau: Câu chuyện Phi-e-rơ chối Chúa 3 lần chỉ có ông mới biết, chỉ được kể lại bởi chính ông. Như chúng ta biết sách Tin Lành theo Mác là tuyển tập các bài giảng của Sứ đồ Phi-e-rơ. Đã nhiều lần ông kể lại câu chuyện buồn đau về việc mình chối Chúa. Ông sử dụng quá khứ yếu đuối và tội lỗi của bản thân, như nam châm để hút những người khác đến với CHÚA JESUS. Dường như ông đang kể: “đó là chuyện tôi đã làm, mặc dù tôi như vậy nhưng Chúa Jesus vẫn yêu tôi. Tôi đã làm đau lòng Chúa và chối bỏ Ngài trong hoạn nạn, thế mà Ngài vẫn yêu tôi, Ngài tha thứ hết cho tôi – và Ngài cũng có thể làm điều đó với các bạn”. Nếu chúng ta đọc câu chuyện này với sự thông cảm, chúng ta thấy câu chuyện kể về sự hèn nhát của Phi-e-rơ trở nên bản anh hùng ca về sự gan dạ, câu chuyện kể về sự nhục nhã biến thành vinh quang. Sau này dựa trên kinh nghiệm cá nhân Phi-e-rơ đã viết: “sự yêu thương che đậy vô số tội lỗi.” (1 Phi-e-rơ 4:8)
Qua phân đoạn Kinh Thánh hôm nay, chúng ta thấy có ba loại tội nhân.
– Tội nhân thứ nhất Judas. Judas cho đến cuối cùng cũng không chịu mở lòng và không tiếp nhận lời Chúa Giêsu. anh ta chỉ tin vào bản thân, vì vậy cuối cùng anh ta đã phản bội Chúa Giê-xu.
– Tội nhân thứ hai, chúng ta thấy các nhà lãnh đạo tôn giáo. Họ lừa dối, đạo đức giả. Họ từ chối lẽ thật để biện minh cho bản thân và giữ quyền lực và vị trí của mình.
– Tội nhân thứ ba, Phi-e-rơ. Quá tự tin là điểm yếu tội lỗi của Phi-e-rơ. Ngay cả khi Chúa Giê-xu kêu gọi ông cầu nguyện, ông vẫn ngủ một cách tự tin. Vì vậy, vào lúc khó khăn, ông không biết phải làm gì và rất dễ dàng từ bỏ Chúa.
Chúng ta tự cho mình là người tốt, nhưng tại sao lại có sự phản bội, dối trá, hận thù, sợ hãi trong cuộc sống của chúng ta? Vì quyền lực của tội lỗi. Tội lỗi khiến chúng ta yếu đuối, khiến chúng ta dễ dàng trôi theo dòng chảy của thế gian, dễ dàng bị cám dỗ bởi chủ nghĩa vật chất. Những điều đó khiến chúng ta đến gần Chúa Giê-xu bằng nụ cười và cái hôn, sự giả hình và sống hai mặt, chúng ta phỉ nhổ Chúa Giê-su như những người lãnh đạo tôn giáo và không thể ăn năn và chấp nhận ý muốn của Đức Chúa Trời. Vì tội quá kiêu ngạo, chúng ta đã chối bỏ Chúa Giê-su nhiều lần, giống như Phi-e-rơ. Tội lỗi đã khiến mỗi chúng ta trở nên yếu đuối. Đôi khi chúng ta biết lẽ thật, nhưng chúng ta không thể vâng phục. Chúa Giêsu biết sự yếu đuối này. Vì thế, Chúa Giê-su không lùi bước. Ngài biết Ngài sẽ đi đâu. Ngài đã chiến thắng trong lời cầu nguyện. Vì vậy, Ngài đã mạnh dạn và tự tin bước đi trên con đường thập giá để chiến thắng quyền lực của tội lỗi và quyền lực của Satan. Để bất kỳ tội nhân nào cũng có thể đến với Chúa Giê-xu và được cứu rỗi.
Chúa Giê-xu đã đi trên con đường này để làm cho chúng ta trở nên mạnh mẽ. Khi Chúa Giê-xu Christ sống trong tôi, tôi có thể mạnh mẽ và là người chiến thắng. Khi đi theo Chúa Giê-su, quỳ gối cầu nguyện từ bỏ cái “tôi” của mình và chấp nhận ý muốn của Đức Chúa Trời, chúng ta có thể tự tin và mạnh dạn tiến về phía trước, giống như Chúa Giê-su, và chúng ta có thể chiến thắng tội lỗi. Amen!
Leave a Reply
Bạn phải đăng nhập để gửi phản hồi.