Câu khóa 2:8
Sáng thế ký chương 1 cho chúng ta biết Đức Chúa Trời là ĐẤNG sáng tạo nên vũ trụ vạn vật. Trong năm ngày đầu tiên NGÀI tạo dựng đầy đủ mọi điều kiện vật chất, và những quy luật vật lý để con người có thể tồn tại được trên mặt đất. Ngày thứ sáu Đức Chúa Trời tạo dựng nên con người. Việc đầu tiên Ngài làm cho con người là Ngài dựng nên vườn Địa đàng Ê-đen, Thiên đàng trên mặt đất. Điều này có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với chúng ta, bởi vì nó giải thích cho chúng ta biết bí mật của cuộc sống hạnh phúc. Cầu xin Chúa ban phước để chúng ta nhận được Thiên đường của Ngài vào đời sống của chúng ta. Amen.
1. Bản chất con người và nguồn gốc sự sống:
Sáng 2:7 “Giê-hô-va Ðức Chúa Trời bèn lấy bụi đất nắn nên hình người, hà sanh khí vào lỗ mũi; thì người trở nên một loài sanh linh.” Đất trong tiếng Do-thái là “adama”, con người được tạo dựng nên từ đất adama là Adam. Ở đây chúng ta biết về bản chất con người. Kinh thánh cho chúng ta biết có con người bề ngoài và con người bề trong. Bề ngoài con người có thể xác làm từ cát bụi. Nhưng cát bụi chỉ là hình người. Con người không hơn gì cát bụi nếu như Đức Chúa Trời không hà sanh khí vào. Thánh Linh của Đức Chúa Trời làm cho nắm bụi trở thành một loài sanh linh.
Con người bề ngoài là con người xác thịt, được tạo dựng nên từ bụi đất. Con người xác thịt có những bản năng sinh lý, nhưng vì được tạo nên từ đất, cho nên nó thuộc về đất và không có sự sống đời đời. Chúng ta cũng cần phải thỏa mãn những nhu cầu sinh lý của xác thịt như ăn, mặc, lấy vợ lấy chồng,… Chúng ta cần phải học hành, làm việc kiếm tiền, mua quần áo, ô-tô, nhà cửa. Nhưng cuộc sống vật chất đời này cũng chỉ là để thỏa mãn con người xác thịt, được làm nên từ bụi đất. Nếu chúng ta chỉ sống cho đời này, thì chúng ta sẽ chỉ thỏa mãn những nhu cầu tạm thời, ngắn hạn của con người xác thịt. Ví dụ: nhu cầu ăn uống. Khi tôi đói, tôi cần thức ăn. Sau khi tôi ăn, khoảng 4 tiếng sau đồ ăn bị tiêu hóa hết, tôi lại phải ăn tiếp. Đây là một nhu cầu thật là ngắn hạn và tạm thời.
Kinh Thánh cho biết còn có con người bề trong nữa. Đó là con người tâm linh. Nếu không cho thể xác ăn uống về thể xác sẽ chết. Tâm linh của chúng ta cũng vậy cần phải được nuôi dưỡng. Thức ăn tâm linh là Lời Chúa và sự tương giao với Đức Chúa Trời. Nếu tâm linh không được ăn, nó sẽ ốm yếu và chết. Do đó, người nào chỉ sống để thỏa mãn nhu cầu thể xác, không bao giờ đạt được sự thỏa lòng. Một đời sống thật sự hạnh phúc, là một đời sống hài hòa cả 2 phần: về thể xác phải làm việc và ăn mặc, về phần tâm linh phải học Lời Chúa và thờ phượng Chúa.
Có câu nói: “người dại là người sống chỉ cho đời này, người không sẽ sống không chỉ cho đời này, mà cho cả đời sau nữa”.
2. Niềm hạnh phúc thật của con người:
Sáng 2:8 “Ðoạn, Giê-hô-va Ðức Chúa Trời lập một cảnh vườn tại Ê-đen, ở về hướng Ðông, và đặt người mà Ngài vừa dựng nên ở đó.” Đức Chúa Trời quan tâm đến cuộc sống của loài người mà Ngài tạo dựng nên, và Ngài tạo nên vườn Ê-đen cho loài người, đặt người vào đó. Ê-đen có nghĩa là “niềm vui”. Ê-đen là biểu mẫu của đời sống hạnh phục trọn vẹn. Việc này cho chúng ta biết 2 điều:
– Đức Chúa Trời rất yêu loài người.
– Đức Chúa Trời muốn con người hạnh phúc sung sướng.
Câu 9-14 cho chúng ta biết vườn Ê-đen thật là đẹp và đầy đủ mọi sự. Con người đã từng sống trong Ê-đen – là Thiên đàng trên mặt đất, nhưng do tội lỗi con người đã đánh mất. Con người đã từng sống trong Thiên đàng, cho nên con người có bản năng hướng về Thiên đàng trong mã gen di truyền. Con người luôn có ước mơ cháy bỏng tìm lại Thiên đường đã mất, vì nơi đó con người đã từng được hạnh phúc trọn vẹn. Người ta nỗ lực đủ mọi cách để tái tạo lại Thiên đường trong đời sống của mình. Nhưng điều kiện cần thiết để Thiên đàng tồn tại là có Chúa. Khi con người đánh mất Chúa thì cũng đánh mất Thiên đường. Con đường duy nhất để phục hồi lại Thiên đường, đó là ăn năn tội và tin nhận CHÚA JESUS.
Câu 15: “Giê-hô-va Ðức Chúa Trời đem người ở vào cảnh vườn Ê-đen để trồng và giữ vườn”. Đức Chúa Trời tạo dựng con người là loài phải lao động. Chúng ta thường nghĩ rằng trong Thiên đàng chẳng phải làm gì. Cứ ngồi mát ăn bát vàng – thì là Thiên đường. Nhưng chúng ta thấy, ngay trong vườn Ê-đen con người vẫn phải lao động. Tuy nhiên ở đây con người lao động không vì miếng ăn, mà vì sứ mệnh, vì niềm vui. Do đó trong vườn Ê-đen lao động không phải là nặng nhọc vất vả, mà là phước hạnh. Khi chúng ta hầu việc Đức Chúa Trời, thì sự hầu việc Chúa là phước hạnh, bởi vì nó đem đến cho chúng ta niềm vui, mục đích sống.
3. Điều răn của Đức Chúa Trời:
Câu 16-17 “Rồi, Giê-hô-va Ðức Chúa Trời phán dạy rằng: Ngươi được tự do ăn hoa quả các thứ cây trong vườn; 17. nhưng về cây biết điều thiện và điều ác thì chớ hề ăn đến; vì một mai ngươi ăn chắc sẽ chết.” Đây là điều răn đầu tiên mà Đức Chúa Trời ban cho loài người. Và được các nhà thần học gọi là Kinh thánh của A-đam, Người ta thường hiểu sai về điều răn của Chúa, dường như Chúa đang hạn chế ngăn cản quyền tự do của con người. Vd: Như cha mẹ răn dạy con cái “con không được sờ vào ổ điện, không được nhảy từ cao xuống” điều đó không phải là ngăn cản quyền tự do của trẻ em, mà là biểu hiện cho tình yêu của cha mẹ dành cho con cái. Cũng vậy điều răn là sự bày tỏ tình yêu của Chúa. Bởi vì Chúa là Đấng tạo dựng nên con người, nên Ngài biết điều gì là tốt và không tốt đối với chúng ta, Ngài biết những hậu quả để lại mà chúng ta không nhìn thấy trước được. Chúa biết rằng khi loài người ăn cây biết điều thiện ác thì rất có hại và sẽ làm cho con người chết về tâm linh. Cho nên Chúa phải cảnh báo cho con người biết. Cũng như việc tà dâm ngoại tình sẽ phá hoại hạnh phúc hôn nhân gia đình, cho nên Chúa phải răn cấm cảnh báo. Nhưng Chúa không có đứng kè kè bên cạnh và ngăn cản chúng ta phạm tội. Ngài vẫn rất tôn trọng quyền tự do lựa chọn của chúng ta, kể cả khi chúng ta lựa chọn phạm tội.
Thường người ta hay hỏi: “Đức Chúa Trời biết trước là con người sẽ ăn trái cấm, tại sao Ngài lại không rào cây này lại?” Đức Chúa Trời tôn trọng quyền tự do của con người mà Ngài tạo nên theo hình Ngài. Ngài tôn trọng quyền tự do – tôn trọng hình của Chúa trong con người. Ngài không tạo nên loài người là người máy, hay là những con người nô lệ sai gì làm nấy. Nhưng NGÀI tạo nên con người có ý chí tự do.
Tại sao con người không được ăn cây biết điều thiện và điều ác? Cây biết điều thiện và điều ác tượng trưng cho việc là chỉ có Đức Chúa Trời mới có quyền xác định tiêu chuẩn cái gì là thiện, cái gì là ác. Chỉ có Đức Chúa Trời là Đấng có quyền định ra mục đích tồn tại của tạo vật, mục đích sống của con người. Mục đích sống của con người là sống để làm vinh hiển Chúa, làm sáng danh Chúa.
Tại sao ở vườn Ê-đen lại cần có cây biết điều thiện và điều ác, và lại cần có điều răn của Chúa?
Cây biết điều thiện ác và điều răn tượng trưng cho sự hiện diện của Chúa. Khi con người nhìn đến cây, sẽ nhớ đến điều răn và nhớ đến Chúa. Khi đó lòng con người phải tràn đầy sự tạ ơn. Điều răn là điều kiện giữ cho Ê-đen là Ê-đen là vườn địa đàng đem đến sự thỏa lòng hạnh phúc thật cho con người, nhưng khi con người phạm điều răn thì con người đánh mất Ê-đen. Con người có quyền tự do đưa ra quyết định, nhưng con người phải chịu trách nhiệm cho sự tự do và quyết định của mình. Đó chính là sự phán xét. Nền tảng của tòa án đặt trên điều kiện tiên quyết là quyết định lựa chọn của ý chí tự do.
Con người trong ý chí tự do đã lựa chọn nghe lời con rắn là satan, phạm tội phản nghịch lại Đức Chúa Trời, phản bội lại tình yêu của Ngài. Vì cớ tội lỗi con người đánh mất Ê-đen, phá hủy mối liên hệ với Đức Chúa Trời là nguồn sự sống và hạnh phúc thật. Vì cớ tội lỗi con người đáng bị trừng phạt đời đời dưới hỏa ngục. Nhưng Đức Chúa Trời đã rất yêu thương con người là tạo vật duy nhất mang hình Ngài. Ngài đã hy sinh Con Một của Ngài là Giê-xu trên thập tự giá. Ngài ban ân điển rằng nếu ai mở lòng tin nhận Chúa Jesus sẽ được tha tội, được cứu rỗi và sẽ được phục hồi lại Ê-đen trong đời sống của họ. A-men.
4. Đức Chúa Trời là Đấng tạo dựng hôn nhân:
Câu 18: “loài người ở một mình thì không tốt; ta sẽ làm nên một kẻ giúp đỡ giống như nó.»
Từ “loài người” ở đây là A-đam. Từ “không tốt” không có nghĩa là “tồi tệ”, mà có nghĩa là “chưa hoàn thiện, chưa trọn vẹn”. Đức Chúa Trời tạo nên A-đam, Ngài biết rõ A-đam ở một mình thì không trọn vẹn, vì cớ tình yêu thương đối với con người mà Ngài tạo dựng nên, Ngài mới thiết lập nên hôn nhân.
Ngài tạo dựng nên người nữ để giúp đỡ người nam. Theo trình tự sáng tạo thì chỉ khi người nữ được tạo dựng nên, thì tiến trình tạo dựng thế giới mới hoàn thành. Sự sáng tạo nên “người nữ” mới là tuyệt đỉnh của tiến trình sáng tạo. Người nam trước đó chỉ là “người”, chưa phải là đàn ông, chưa phải là người hoàn thiện, trọn vẹn. Anh ta chưa có sự hài hòa harmony. Anh ta chưa biết cộng tác là gì, khiêm nhường, chịu đựng người khác là gì. Chỉ qua hôn nhân người nam mới trở thành người “hoàn thiện”.
“Kẻ giúp đỡ” nói về chức năng của người nữ, cũng như là trật tự trong gia đình. Người nam sẽ là người lãnh đạo, người nữ là người giúp đỡ người nam thực hiện sứ mệnh Chúa giao. Trong gia đình Chúa đặt ra người chồng là đầu gia đình, là lãnh đạo, còn người nữ giúp đỡ và vâng phục sự lãnh đạo của chồng. 1 Cor. 11:8-9 “Bởi chưng không phải đờn ông ra từ đờn bà, bèn là đờn bà ra từ đờn ông; 9 không phải đờn ông vì cớ đờn bà mà được dựng nên, bèn là đờn bà vì cớ đờn ông vậy.”
Đức Chúa Trời là Đấng tạo dựng nên hôn nhân. Ngài là chủ tể hôn nhân. Vì vậy muốn biết được mục đích của hôn nhân chỉ có qua lời Chúa. Mục đích của hôn nhân theo Kinh thánh là để thực hiện sứ mệnh. Mục đích tạo dựng nên A-đam đầu tiên rất thiêng liêng. Và mục đích Chúa tạo nên người nữ cũng rất thiêng liêng. Đức Chúa Trời tạo dựng nên người nữ để làm người giúp đỡ người nam thực hiện sứ mệnh. Theo Kinh thánh, chỉ người nam nào thực hiện sứ mệnh Chúa giao, thì mới cần đến người giúp đỡ. Hạnh phúc trong Ê-đen đó là thực hiện sứ mệnh, là hầu việc Chúa. Điều đó đem đến niềm vui mục đích sống. Cũng vậy nếu một đời sống không có sứ mệnh, thì đời sống đó không bao giờ được hạnh phúc và thoả lòng thật sự. Bởi khi không có sứ mệnh con người chỉ sống và thoả mãn thể xác nhưng tâm linh thì chết, bởi vậy luôn có khoảng trống thiếu thốn trong tâm hồn làm người ta không thể nào thoả lòng được.
“Giống như nó” có nghĩa là người nữ cũng có hình của Đức Chúa Trời, vì vậy người nam cần phải biết tôn trọng người nữ. Trước mặt Đức Chúa Trời vợ chồng nam nữ đều bình đẳng về giá trị, về nhân phẩm. Nhưng vai trò và vị trí thì không bình đẳng. Chức vụ “giúp đỡ” không có nghĩa là người nữ ít giá trị hơn, nó chỉ nói về vai trò và trật tự trong gia đình mà thôi.
Lu-ca 10:6-12 “Nhưng từ lúc đầu sáng thế, Đức Chúa Trời làm ra một người nam và một người nữ. 7 Vì cớ đó, người nam lìa cha mẹ mình mà dính díu với vợ; 8 và hai người cùng nên một thịt mà thôi. Như thế, vợ chồng chẳng phải là hai nữa, mà chỉ một thịt. 9 Vậy, người ta không nên phân rẽ những kẻ mà Đức Chúa Trời đã phối hiệp. 11 Ngài phán rằng: Ai để vợ mình mà cưới vợ khác, thì phạm tội tà dâm với người; 12 còn nếu người đàn bà bỏ chồng mình mà lấy chồng khác, thì cũng phạm tội tà dâm.” Lẽ thật của hôn nhân là chỉ một vợ một chồng. Những chế độ cho phép nhiều vợ, nhiều chồng là những văn hóa chống lại Chúa, văn hóa phi Kinh thánh. Chúa không cho phép ly dị, trước mặt Chúa ly dị là tội lỗi.
Chúa Jesus phán là hôn nhân giữa một người nam và một người nữ, chứ không phải giữa anh John và cô Micheal, hay là giữa Rebeca và Jennifer.
Có một bài viết về phụ nữ như sau:
“Ta cho phép người đàn ông say giấc để anh ta không quấy rầy sự sáng tạo và để ta có thể kiên trì hoàn thiện vẻ ngoài của ngươi…
Ta chọn phần xương sườn, dùng bảo vệ cuộc đời người đàn ông, bảo vệ trái tim và lá phổi của anh ta, Trái tim là trung tâm của người đàn ông, lá phổi cho anh ta hơi thở. Điểm đặc biệt của ngươi là một cái xương sườn, mạnh mẽ lẫn yếu đuối và mỏng manh. Ngươi phải bảo vệ phần mỏng manh nguyên thủy nhất trong người đàn ông – đó là trái tim anh ta. Xương sườn là phần xương nâng đỡ anh ta – đúng nghĩa với điều ngươi phải làm.
Khung xương sườn sẽ bị gẫy trước khi trái tim bị hủy hoại. Nâng đỡ người đàn ông như khung xương sườn nâng đỡ cơ thể. Ngươi không được lấy ra từ chân – phần ở dưới anh ta để làm thảm chùi chân, ngươi không được lấy ra từ đầu – phần ở trên anh ta để ngồi trên đầu điều khiển anh ta. Ngươi được lấy ra từ bên cạnh, để ngươi luôn bên cạnh, bình đẳng và sát cánh với anh ta.
Vì thế, người đàn ông hãy cư xử tốt với người phụ nữ. Yêu cô ấy, tôn trọng cô ấy, bởi vì cô ấy mỏng manh. Làm tổn thương cô ấy, anh làm tổn thương ta. Làm đau đớn cô ấy, chính là anh đang hủy hoại trái tim mình, trái tim của cha anh, trái tim của cha cô ấy.
Còn người đàn bà, hãy khiêm nhường cho anh ấy thấy quyền năng của cảm xúc ta đã cho ngươi. Trong sự điềm đạm nhã nhặn, hãy chứng tỏ sức mạnh của ngươi. Trong tình yêu, hãy cho anh ta thấy, ngươi là chiếc xương sườn bảo vệ phần bên trong của anh ta.”
Khi Đức Chúa Trời tạo nên hôn nhân, thì trước đó Ngài làm cho người nam ngủ mê. Khi xác định chuẩn bị đi đến hôn nhân, thì chúng ta cần phải học cách chờ đợi người phối ngẫu do chính Đức Chúa Trời đưa đến, chứ không phải theo ý muốn cá nhân.
Hình thức bề ngoài không phải là điều kiện để lập hôn nhân. Nhiều người trót phạm tội với nhau, thì đó cũng không phải là điều kiện. Nếu những thứ đó là nền tảng của hôn nhân, thì rất mong manh, và dễ sụp đổ. Một thử thách nhỏ cũng sẽ gây đổ vỡ.
Chúng ta đọc câu 24 “Bởi vậy cho nên người nam sẽ lìa cha mẹ mà dính díu cùng vợ mình, và cả hai sẽ nên một thịt.” Lìa cha mẹ – có nghĩa là người nam cần phải ra khỏi mái nhà thuộc linh của cha mẹ mà nhận trách nhiệm lập một gia đình mới, trở thành mái nhà thuộc linh cho gia đình của mình. Động từ “dính díu” có nghĩa dán 2 tờ giấy lại với nhau. Nếu tách ra, thì cả hai sẽ bị rách, ly dị là xé rách 2 tờ giấy được dán lại với nhau, trong mọi trường hợp gây ra tổn thương cho cả 2 bên.
“Một thịt” có nghĩa là một khối thống nhất. Để đạt được sự thống nhất cả 2 vợ chồng phải có cùng chung một đức tin, một mục đích sống, một sứ mệnh. Hôn nhân chỉ được lập theo ý muốn Chúa, bằng đức tin và tình yêu agape. Quan điểm của Kinh thánh về hôn nhân mới là nền tảng vững bền của hôn nhân. Vào thời nay nhiều cuộc hôn nhân đổ vỡ, chúng ta có thể thấy do vô số nguyên nhân khác nhau. Nhưng nguyên nhân sâu xa nhất là không dựa trên lẽ thật về hôn nhân.
Có nhiều quan niệm về hôn nhân như thế này. Hôn nhân đó là đến tuổi thì xây dựng gia đình, sau đó sinh sản và nuôi dạy con cái để khi về già có chỗ để nương tựa. Còn có một số quan điểm khuyên nên lấy vợ để có người nấu nướng, được ăn uống đúng giờ để bảo vệ hệ tiêu hóa. Rồi có người giặt giũ dọn dẹp và giữ tiền, cứ lấy vợ đi là sẽ có tiền.
Nhưng qua bài học hôm nay chúng ta biết được Đức Chúa Trời là Chủ tể của hôn nhân. Hôn nhân không phải do con người xác định, không phải do có người mai mối, mà do Đức Chúa Trời là Đấng thiết lập nên hôn nhân xác định. Mục đích của hôn nhân là để phục vụ sứ mệnh, là hầu việc Chúa làm sáng danh Chúa. Để được như vậy người phối ngẫu cũng phải cùng đức tin cùng một mục đích, cùng một giá trị, cùng một tiêu chuẩn sống.
Leave a Reply
Bạn phải đăng nhập để gửi phản hồi.