CA-IN VÀ A-BÊN (Sáng-thế Ký 4)
Đây là sự kiện xảy ra ngoài vườn Ê-đen. Bắt đầu từ đây là những nét vẽ đầu tiên của xã hội loài người không có Đức Chúa Trời. Cain rời bỏ Chúa và xây dựng một thành phố. Loài người đánh mất Paradise và sau này được phục hồi bởi Chúa Jesus Christ. Và ở giữa khoảng đó trên mặt đất là nền vương quốc thế gian do con người dựng nên. Thì sách Sáng thế ký nhìn nhận những sự kiện này là những sự kiện quan trọng, vì đó là kết luận của dòng dõi (toledot) đầu tiên. Thành phố Cain – là vương quốc loài người tiếp diễn cho đến khi Paradise được phục hồi bởi Chúa Jesus Christ.
- Tại sao loài người lại bắt đầu dâng của lễ cho Đức Chúa Trời?
Chúng ta xem câu 1-4 “A-đam ăn ở với Ê-va, là vợ mình; người thọ thai sanh Ca-in và nói rằng: Nhờ Ðức Giê-hô-va giúp đỡ, tôi mới sanh được một người. 2. Ê-va lại sanh em Ca-in, là A-bên; A-bên làm nghề chăn chiên, còn Ca-in thì nghề làm ruộng. 3. Vả, cách ít lâu, Ca-in dùng thổ sản làm của lễ dâng cho Ðức Giê-hô-va. 4. A-bên cũng dâng chiên đầu lòng trong bầy mình cùng mỡ nó…” Đây là buổi lễ thờ phượng lần đầu tiên được Kinh thánh chép lại thông qua việc dâng của lễ. Con chiên sinh tế mà A-ben dâng cho Đức Chúa Trời tượng trưng cho Chúa Jesus Christ.
Sau khi phạm tội, loài người bị đuổi khỏi vườn Ê-đen. Mối liên hệ với Đức Chúa Trời bị gãy đổ. Loài người rất cần Chúa vì Ngài là nguồn sự sống, phước hạnh, hạnh phúc… Nhưng tội nhân không thể đến được trước mặt Đức Chúa Trời vì Đức Chúa Trời là Đấng thánh khiết. Rô-ma 6:23 chép “Vì tiền công của tội lỗi là sự chết.” Nhưng vì cớ sự thương xót, Đức Chúa Trời ban cho con người phương cách đến với Ngài qua sự dâng của lễ. Hê-bơ-rơ 9:22 chép “Theo Kinh Luật, hầu hết mọi vật đều được tẩy thanh bằng huyết, vì không đổ huyết thì không có sự tha tội.” Lê-vi 17:11 chép “Vì sự sống của xác thịt ở trong huyết và Ta đã ban huyết cho các ngươi trên bàn thờ để chuộc tội lỗi linh hồn các ngươi; chính huyết, tức là sự sống sẽ chuộc tội các ngươi.” Để được tha tội thì tội nhân cần một con sinh tế đổ huyết tức mạng sống ra làm của lễ chuộc tội. Thời Cựu Ước hình thức thờ phượng luôn phải đi cùng với việc đổ huyết của con sinh tế, có thể là 1 con chiên đực, dê đực, bò đực, còn người nghèo thì được dùng chim bồ câu. Nhưng huyết của thú vật không hoàn hảo và chỉ giải quyết nan đề tội lỗi một cách tạm thời, giải quyết phần ngọn, không đến tận gốc. Hê-bơ-rơ 9:13 chép “huyết của dê đực và bò đực cùng tro bò cái tơ đem rảy trên người ô uế còn thánh hóa họ cho được thanh sạch về thân xác”. Để giải quyết tận gốc vấn đề thì con sinh tế phải hoàn hảo, và phải do chính tay Đức Chúa Trời chọn. Giăng 1:29 nói “Ngày hôm sau, khi thấy Đức Giê-su đến với mình, Giăng nói: “Đây là Chiên Con của Đức Chúa Trời, Đấng xóa tội lỗi cho nhân loại!” Chúa Jesus phải xuống thế gian, mặc lấy thân thể của một con người, để có thể trở thành con sinh tế hoàn hảo chuộc tội cho cả nhân loại.
Hê-bơ-rơ 9:12-14, 26-28 chép “12Ngài không dùng huyết của dê đực hay bò con nhưng dùng chính huyết Ngài mà bước vào nơi chí thánh một lần đủ cả và được sự chuộc tội đời đời. 13Vì nếu huyết của dê đực và bò đực cùng tro bò cái tơ đem rảy trên người ô uế còn thánh hóa họ cho được thanh sạch về thân xác, 14thì huyết Chúa Cứu Thế là Đấng nhờ Thánh Linh đời đời dâng hiến chính mình Ngài như một sinh tế không tì vết cho Đức Chúa Trời càng có hiệu lực muôn phần hơn, để thanh tẩy lương tâm chúng ta khỏi những công việc chết để phụng vụ Đức Chúa Trời hằng sống. 26 Nhưng bây giờ, Ngài xuất hiện chỉ một lần vào thời kỳ cuối cùng, hy sinh chính mình để tiêu trừ tội lỗi. 27Như đã được ấn định, loài người phải chết một lần, sau đó phải chịu xét đoán. 28Vậy Chúa Cứu Thế đã hy sinh một lần để xóa bỏ tội lỗi của nhiều người. Ngài sẽ xuất hiện lần thứ nhì, không phải để gánh tội lỗi nữa, nhưng để cứu rỗi những người trông đợi Ngài.” Sau khi Chúa Jesus đổ huyết trên thập tự giá, Ngài lấy tư cách của Thầy tế lễ thượng phẩm vào nơi chí thánh trong đền thờ và giải quyết hoàn toàn nan đề tội lỗi trước mặt Đức Chúa Trời thánh khiết, cho nên lúc đó đã xảy ra một sự việc đặc biệt: bức màn che trong đền thờ bị xé làm đôi từ trên xuống dưới. Điều đó có nghĩa là nghi lễ thờ phượng thông qua việc dâng con sinh tế chấm dứt mãi mãi. Đó cũng là ý nghĩa của Ma-thi-ơ 5:17 “Đừng nghĩ rằng Ta đến để hủy bỏ Kinh Luật và Kinh Tiên Tri; Ta đến không phải để hủy bỏ mà để hoàn thành.”
Thế nhưng, có phải việc thờ phượng dâng của lễ đã chấm dứt không? Không. Theo ý nghĩa và bản chất, việc thờ phượng Đức Chúa Trời vẫn đòi hỏi việc dâng của lễ, vẫn đòi hỏi của lễ hy sinh. Rô-ma 12:1-2 chép “Thưa anh chị em, vì thế tôi nài xin anh chị em, do lòng thương xót của Đức Chúa Trời, hãy dâng hiến chính mình như những sinh tế sống, thánh khiết, đẹp lòng Đức Chúa Trời, đó là sự thờ phượng hợp lẽ của anh chị em.” Sinh tế trong sự thờ phượng thì luôn luôn phải bị hy sinh, phải chết. Nhưng sứ đồ Phao-lô lại nói rằng chúng ta phải làm sinh tế sống, Nghĩa là gì? Nghĩa là để có sự thờ phượng phải lẽ, thờ phượng đúng đắn thì chúng ta phải chết khi thờ phượng. Con người tội lỗi, bản chất xác thịt tư dục, sự dâm dục phải chết. Nghĩa là phải ăn năn.
Buổi lễ thờ phượng ngày chủ nhật của chúng ta chỉ là một phần, là sự cô đọng của đời sống thờ phượng. Hàng ngày chúng ta sống thế nào với Chúa, thì buổi lễ thờ phượng chủ nhật sẽ bày tỏ ra như vậy. Một thái độ thờ phượng đúng đắn – đó là dâng mình làm của lễ thánh sống để hầu việc Chúa, chứ không phải đến với Chúa để nhận được điều gì đó. Chúng ta thường đi dự lễ thờ phượng với tấm lòng và động cơ sai trật: chúng ta chờ đợi nhận được sự hưng phấn qua âm nhạc sôi động, chúng ta muốn người khác để ý quan tâm chúng ta, chúng ta muốn một bài giảng nổ như sấm, … Những điều này không có gì sai, nhưng vấn đề là khi chúng ta không nhận được điều mong muốn thì chúng ta phán xét hội thánh, rồi bỏ đi tìm một hội thánh khác thích hợp hơn. Thay vì tích cực tham gia làm một cái gì đó, chúng ta chỉ ngồi xem hưởng thụ với thái độ của những người tiêu dùng. Khái niệm này được các nhà thần học đặt tên là “chủ nghĩa tiêu dùng trong thờ phượng”.
- Có sự khác nhau gì giữa của lễ dâng của Ca-in và A-bên?
Chúng ta xem “4b…Ðức Giê-hô-va đoái xem A-bên và nhận lễ vật của người; 5. nhưng chẳng đoái đến Ca-in và cũng chẳng nhận lễ vật của người;..” Có điều gì đó không đúng trong Cain, do đó Đức Chúa Trời đã nhìn thấy điều ẩn giấu trong lòng.
1 Sa-mu-ên 16: 7. Nhưng Ðức Giê-hô-va phán cùng Sa-mu-ên rằng; Chớ xem bộ dạng và hình vóc cao lớn của nó, vì ta đã bỏ nó. Ðức Giê-hô-va chẳng xem điều gì loài người xem; loài người xem bề ngoài, nhưng Ðức Giê-hô-va nhìn thấy trong lòng.
Cái gì là điều khác biệt giữa Cain và Aben?
Hê-bơ-rơ 11:4 Bởi đức tin, A-bên đã dâng cho Ðức Chúa Trời một tế lễ tốt hơn của Ca-in, và được xưng công bình, vì Ðức Chúa Trời làm chứng về người rằng Ngài nhậm lễ vật ấy; lại cũng nhờ đó dầu người chết rồi, hãy còn nói.
Như vậy Kinh thánh cho chúng ta biết điều khác biệt là A-bên đến với Đức Chúa Trời bằng đức tin, còn Cain thì không có đức tin. Như vậy đức tin là gì?
Ca-in có tin vào sự tồn tại của Đức Chúa Trời không? Có. Anh ta có biết Đức Chúa Trời không? Có. Ca-in vẫn tham gia lễ thờ phượng Đức Chúa Trời. Anh ta vẫn dâng hiến. Vẫn nghe thấy tiếng phán của Chúa. Vẫn cầu nguyện với Chúa. Nhưng Kinh thánh nói rằng anh ta không có đức tin. Vậy đức tin thật – đó là tình trạng của tấm lòng. Thế thì tấm lòng như thế nào mới là đẹp lòng Chúa?
Thi-thiên 51: 17. Của lễ đẹp lòng Ðức Chúa Trời, ấy là tâm thần đau thương: Ðức Chúa Trời ôi! lòng đau thương thống hối Chúa không khinh dẻ đâu.
Đây là tấm lòng ăn năn. Sự thờ phượng thật làm đẹp lòng Chúa – là sự ăn năn. Chỉ khi một người biết nhận ra tội lỗi của mình, khiêm nhường đến trước Chúa ăn năn thống hối về tội lỗi để nhận sự tha tội, thì đó là đức tin thật.
- Tại sao Ca-in lại giận? Nan đề của anh ta là gì?
Chúng ta xem câu 6. “Ðức Giê-hô-va phán hỏi Ca-in rằng: Cớ sao ngươi giận, và cớ sao nét mặt ngươi gằm xuống?” Phản ứng tiêu cực này của Ca-in bày tỏ thái độ bên trong của anh ta. Cain giận, tự ái, tổn thương vì cớ Chúa. Điều này cho thấy rằng Cain luôn nghĩ mình là người hoàn hảo, không bao giờ làm điều gì sai cả.
Ca-in khinh lờn Chúa, anh ta nghĩ rằng Chúa mù, không nhìn thấy tấm lòng của anh ta.
Ca-in kiêu ngạo. Anh ta nghĩ rằng mùa màng hoa lợi là công sức của anh ta, mà quên đi rằng mùa màng đều phụ thuộc vào Đức Chúa Trời. Anh ta là người làm ruộng, mưa thuận gió hoà là nhờ trời ban. Khi chúng ta dâng hiến, đều phải nhớ rằng mọi thứ là do Đức Chúa Trời ban cho: sức khoẻ, trí thông minh, việc làm, cơ hội, khách hàng… và cần phải dâng hiến với lòng tạ ơn. Còn Ca-in dâng hiến như thể anh ta đang bố thí cho Đức Chúa Trời.
Ca-in phủ nhận quyền tối cao của Đức Chúa Trời. Ngài có quyền nhận hay không nhận của lễ dâng. Ca-in hành động như thể Đức Chúa Trời bắt buộc phải nhận ơn huệ của anh ta. “Tôi đem của tế lễ đến, mà thế nào Ngài lại không nhận?” Anh ta cho rằng mọi việc anh ta làm đều đúng, đều là tốt. Đây là thái độ của một người tự xưng công bình. Đức Chúa Trời phải lắng nghe và trả lời tất cả mọi lời cầu nguyện của tôi. Cain không hề có khái niệm rằng Đức Chúa Trời là Đấng Sáng Tạo, còn tôi chỉ là một tạo vật.
Khi Đức Chúa Trời không nhận, thì Ca-in cần phải nhìn nhận suy xét lại bản thân có làm điều gì sai trước Chúa để ăn năn. Nhưng anh ta lại tức giận và đố kỵ với anh em của mình.
- Đức Chúa Trời khuyên Ca-in làm gì? Làm thế nào Ca-in có thể quản trị được tội lỗi?
Chúng ta xem câu 7. “Nếu ngươi làm lành, há chẳng ngước mặt lên sao? Còn như chẳng làm lành, thì tội lỗi rình đợi trước cửa, thèm ngươi lắm; nhưng ngươi phải quản trị nó.” Đức Chúa Trời tế nhị nhắc khéo Ca-in rằng anh ta đang không làm điều lành, anh ta đang tự bị tự ái tổn thương bởi chính sự kiêu ngạo của mình. Anh ta tự ái với Đức Chúa Trời, anh ta tự ái với anh em của mình. Sự kiêu ngạo tự ái đang sẵn sàng mở cánh cửa cho sa-tan bước vào đời sống của Ca-in. Sự tự ái, tự tôn luôn luôn là trái của sự kiêu ngạo.
Chúng ta xem câu 3:16 “sự dục vọng ngươi phải xu hướng về chồng, và chồng sẽ cai trị ngươi.” Cấu trúc câu và các động từ ở câu này trong tiếng Do-thái giống hệt trong câu 4:7 “tội lỗi rình đợi trước cửa, thèm ngươi lắm; nhưng ngươi phải quản trị nó.” Điều đó có nghĩa gì? Nghĩa là xung đột tội lỗi giữa Adam và Eva giờ này thể hiện ra trong mối quan hệ giữa Cain và Aben. Tội lỗi đã thành gen di truyền lây lan trong dòng dõi của Adam. Không những thế tội lỗi càng cường đại lên, lan rộng ra.
- Tại sao Ca-in lại giết em mình?
Chúng ta xem câu 8. “Ca-in thuật lại cùng A-bên là em mình. Vả, khi hai người đương ở ngoài đồng, thì Ca-in xông đến A-bên là em mình, và giết đi.” Trong nguyên tác động từ “thuật lại” có hàm ý “mỉa mai, cười nhạo, khinh thường”. Ca-in thay vì ăn năn, thì lại ghanh tức đố kỵ, rồi dùng lời lẽ mỉa mai em mình. Từ tình trạng tấm lòng không đúng trước Đức Chúa Trời, anh ta đã chuyển đến sự ghanh tỵ, rồi dẫn đến hành động giết người. Đây là tên sát nhân đầu tiên trong lịch sử nhân loại. Tội lỗi bắt đàu từ tư tưởng, rồi từ 1 ý nghĩ sinh ra nhiều ý nghĩ tội lỗi, rồi tội lỗi nung nấu trong ý nghĩ sẽ biến thành hành động.
Chúng ta xem câu 9. “Ðức Giê-hô-va hỏi Ca-in rằng: A-bên, em ngươi, ở đâu?” Câu hỏi này là để Ca-in nhận ra tội lỗi và ăn năn. Nhưng Ca-in đã rất xấc xược trả lời: “Tôi không biết; tôi là người giữ em tôi sao?” Câu trả lời của Ca-in nêu ra 2 vấn đề: 1/ Đây là bản chất lưu manh xấc xược của tội nhân, anh ta cứ tưởng rằng mình làm gì không ai thấy, không ai biết. 2/ Đây là sự vô trách nhiệm đối với anh em mình. Đáng ra Ca-in chính là người phải giữ em mình, quan tâm săn sóc.
Chúng ta xem câu 10. “Ðức Giê-hô-va hỏi: Ngươi đã làm điều chi vậy? Tiếng của máu em ngươi từ dưới đất kêu thấu đến ta.” Huyết của người công bình đổ xuống sẽ kêu thấu đến Đức Chúa Trời đòi hỏi sự trừng phạt. Chúng ta cũng thấy điều này được nhắc đến trong Khải 6:9-10 “9Khi Chiên Con mở ấn thứ năm, tôi thấy dưới bàn thờ có những linh hồn của kẻ đã chịu giết vì đạo Đức Chúa Trời và vì lời chứng họ đã làm. 10Chúng đều kêu lên lớn tiếng rằng: Lạy Chúa là Đấng thánh và chân thật, Chúa trì hưỡn xét đoán và chẳng vì huyết chúng tôi báo thù những kẻ ở trên đất cho đến chừng nào?”
Thực ra Đức Chúa Trời không cần phải hỏi, không cần phải dài dòng văn tự như vậy, mà phải trừng phạt Cain ngay lập tức. Điều này cho chúng ta thấy sự nhân từ và ân điển lạ lùng của Ngài đối với tội nhân.
- Hậu quả của tội lỗi. Cuộc sống của Ca-in sau khi phạm tội lỗi.
Chúng ta xem câu 11-12 “11. Bây giờ, ngươi sẽ bị đất rủa sả, là đất đã hả miệng chịu hút máu của em ngươi bởi chính tay ngươi làm đổ ra. 12. Khi ngươi trồng tỉa, đất chẳng sanh hoa lợi cho ngươi nữa; ngươi sẽ lưu lạc và trốn tránh, trên mặt đất.” Ở đây chúng ta biết rằng trái quả hoa lợi không phụ thuộc vào sức lao động, mà phụ thuộc vào sự ban phước của Chúa. Sự phán xét của Đức Chúa Trời – đó là xua đuổi để tội nhân sẽ bị lưu lạc. Đó là phương cách phán xét của Chúa. Sau này trong lịch sử chúng ta sẽ luôn nhìn thấy phương cách phán xét trừng phạt này của Đức Chúa Trời. Dân Israel bị trừng phạt bằng cuộc lưu đày, qua đó họ ăn năn quay về với Chúa. 2 Tesalonica 1:9 địa ngục – đó là đời đời bị xua đuổi khỏi mặt Chúa.
Chúng ta xem câu 13-15 “13. Ca-in thưa cùng Ðức Giê-hô-va rằng: Sự hình phạt tôi nặng quá mang không nổi. 14. Nầy, ngày nay, Chúa đã đuổi tôi ra khỏi đất nầy, tôi sẽ lánh mặt Chúa, sẽ đi lưu lạc trốn tránh trên đất; rồi, xảy có ai gặp tôi, họ sẽ giết đi.15. Ðức Giê-hô-va phán rằng: Bởi cớ ấy, nếu ai giết Ca-in, thì sẽ bị báo thù bảy lần. Ðức Giê-hô-va bèn đánh dấu trên mình Ca-in, hầu cho ai gặp Ca-in thì chẳng giết.” Dấu hiệu đánh dấu trên mình Ca-in không phải là dấu hiệu của tội nhân, mà đó là dấu của sự nhân từ của Chúa đối với tội nhân: vì cớ Cain đã giết người, cho nên bất cứ ai cũng có thể giết anh ta, và Đức Chúa Trời dùng cái dấu này để cấm ai đó giết hại Cain. Đây là dấu hiệu của sự cứu rỗi và bảo vệ. Mặc dù Ca-in là 1 kẻ sát nhân ghê tởm, nhưng Đức Chúa Trời vẫn giữ mạng sống cho Ca-in, vì Ngài hy vọng rằng có thể một lúc nào đó, thậm chí lúc sắp chết, Ca-in sẽ hối hận ăn năn để Ngài tha tội cho và ban sự cứu rỗi.
Nếu như mà Cain tiếp nhận dấu sự nhân từ của Chúa, thì anh ta sẽ không bỏ đi và không xây dựng nên thành Cain.
7.Nền văn hóa vô thần của hậu duệ Ca-in
Chúng ta xem câu 16-17 “16. Ca-in bèn lui ra khỏi mặt Ðức Giê-hô-va, và ở tại xứ Nốt, về phía đông của Ê-đen. 17. Ðoạn, Ca-in ăn ở cùng vợ mình, nàng thọ thai và sanh được Hê-nóc; Ca-in xây một cái thành đặt tên là Hê-nóc, tùy theo tên con trai mình.” Cain xây cái thành này để làm gì? Cain vẫn ở trong sự sợ hãi, lo lắng, sự trống rỗng của tội nhân đã từ bỏ Chúa. Mặc dù đã được Đức Chúa Trời hứa bảo vệ, nhưng Ca-in không tin cậy vào lời hứa của Chúa, nên ông ta xây thành để tự bảo vệ. Chúng ta cần phải đưa ra 1 câu hỏi: nền văn minh của con người bắt đầu từ đâu? Đó là từ khi rời bỏ Chúa, trong tâm hồn con người đầy dẫy sự trống rỗng, không có định hướng cho ngày mai, bất an, sợ hãi, sợ sự chết. Con người muốn tự cứu mình. Cain nghĩ rằng xây thành Hê-nóc là thành của sự cứu rỗi mình. Từ động cơ này bắt đầu mọi nền văn minh của con người.
Văn hoá thành thị bắt đầu từ đây. Thời đó mỗi một thành là 1 vương quốc, được bảo vệ bởi 4 bức tường thành xây chung quanh, và có 4 cửa đi vào thành. Ban ngày cư dân đi ra ngoài thành để làm việc, ban đêm cư dân đi vào thành và cửa thành đóng lại để bảo vệ. Trong thành Ca-in các kiến trúc đẹp đẽ, tiện nghi, hào nhoáng, nhưng đầy bóng sự chết. Trong bóng sự chết này vang lên bài ca của Lê-méc. Con người không có niềm vui, cho nên Chúa nhân từ cho họ âm nhạc để ít ra có thể tạm thời quên đi sự trống rỗng và tuyệt vọng của sự chết. Chúng ta xem câu 18-22 “18. Rồi, Hê-nóc sanh Y-rát; Y-rát sanh Mê-hu-da-ên; Mê-hu-da-ên sanh Mê-tu-sa-ên; Mê-tu-sa-ên sanh Lê-méc. 19. Lê-méc cưới hai vợ; một người tên là A-đa, một người tên là Si-la.20. A-đa sanh Gia-banh; Gia-banh là tổ phụ của các dân ở trại và nuôi bầy súc vật.21. Em người là Giu-banh, tổ phụ của những kẻ đánh đờn và thổi sáo.22. Còn Si-la cũng sanh Tu-banh-Ca-in là người rèn đủ thứ khí giới bén bằng đồng và bằng sắt. Em gái của Tu-banh-Ca-in là Na-a-ma. 23. Lê-méc bèn nói với hai vợ mình rằng: Hỡi A-đa và Si-la! hãy nghe tiếng ta; Nầy, vợ Lê-méc hãy lắng tai nghe lời ta: Ừ! Ta đã giết một người, vì làm thương ta, Và một người trẻ, vì đánh sưng bầm ta.24. Nếu Ca-in được bảy lần báo thù, Lê-méc sẽ được bảy mươi bảy lần báo oán.” Dấu hiệu đặc trưng của hậu duệ của Ca-in là thành công, thành đạt trên con đường danh vọng nghề nghiệp. Tội lỗi đã lan tràn trở thành một trào lưu văn hoá. Nhiều người làm thành phong trào, nhưng đó vẫn là văn hoá tội lỗi.
Ghi chép về gia phổ của Cain kết thúc bằng bài ca của Lê-méc, được ca vang trong thành Hê-nóc. Một bài ca vấy đầy máu, tôn vinh sự bạo lực và đổ máu. Chúng ta có thể tưởng tượng bức tranh Lê-méc đang vung vẩy thanh gươm đẫm máu. Bắt đầu sự cai trị đầy bạo lực của đàn ông trên đàn bà. Đàn bà trở thành đồ chơi trong tay đàn ông để thỏa mãn dục vọng của mình. Lê-méc đã có 2 vợ. Câu 24 tôn vinh thanh gươm của hắn. Thanh gươm và quyền lực của hắn trở thành thần tượng của hắn.
Đây chính là vương quốc loài người. Là đỉnh điểm của tội ác. Tất cả tội ác được hệ thống hóa, rồi được hợp pháp hóa, và nó trở thành văn hóa, thành luật pháp. Đó chính là nhà nước. Sa-tan đang sử dụng quy chế của nhà nước để dần dần biến nhà nước thành “quan phụ mẫu” nuôi nấng con người, thế chỗ cho Đức Chúa Trời. Nhà nước trả lương, lương hưu. Nhà nước thay thế cha mẹ để dạy dỗ con cái chúng ta thành những công cụ phục vụ xã hội. Chính phủ hợp pháp hóa cái gọi là juvenālis jūstitia với danh nghĩa bảo vệ trẻ em khỏi nạn bạo hành, mục đích là cướp đi quyền dạy dỗ của cha mẹ đối với con cái theo Kinh thánh. Theo Kinh thánh trẻ em phải vâng lời cha mẹ, mà để dạy vâng lời cha mẹ thì Kinh thánh cho phép sử dụng cây roi (đương nhiên có rất nhiều giới hạn khi sử dụng roi để không dẫn đến bạo hành và độc tài). Nhưng với juvenālis jūstitia thì cha mẹ không được phép đánh con cái để dạy dỗ giáo dục nữa, nhưng nhà nước thì lại có quyền đó. Và đó là một kế hoạch vô cùng tinh vi của sa-tan để chuẩn bị cho antichrist, khi Antichrist đến ngồi vào chiếc ghế cao nhất của nhà nước, thì tự động trở thành “phụ mẫu” của toàn dân. Nhân tiện đó cũng là ý tưởng của chế độ 1 Đảng cầm quyền cai trị.
Chúng ta thấy trong lịch sử thế giới những đế quốc giống thành Hê-nóc của Cain. Đế quốc Babylon, La-mã, Alexander Đại đế,… đều ca ngợi sức mạnh của thanh gươm đẫm máu. Đế chế của bạo lực, của tội ác. Những vương quốc mạnh thì sử dụng bạo lực thống trị, còn những vương quốc nhỏ hơn thì phản kháng lại, bằng bạo lực phản kháng. Tất cả đều là bạo lực.
Chúa Jesus đã giải quyết vấn đề này như thế nào? Chúa Jesus không chống lại bạo lực. Ngài bằng tình yêu thương tha thứ mọi tội lỗi, kể cả những kẻ đóng đinh Ngài. Bằng tình yêu thương Ngài đã hủy phá đi xiềng xích của bạo lực. Đây chính là Vương quốc của Đức Chúa Trời. Trên thế gian chỉ có bạo lực: để thống trị, hoặc phản kháng. Giữa người với người có bạo lực của lời nói, dùng lời nói để hành hạ, giết nhau. Trong gia đình thì vợ chồng cũng dùng bạo lực phản kháng lẫn nhau, bạo lực trên con cái. Nhưng trong Vương quốc của Đấng Christ chúng ta phải bằng tình yêu thương chiến thắng hận thù, sự tha thứ, sự khiêm nhường chiến thắng kiêu ngạo.
Leave a Reply
Bạn phải đăng nhập để gửi phản hồi.