SỰ TÁI SANH
Giăng 3:1-21
Câu gốc 3:3
Phúc âm theo Giăng chương 3 có bố cục như một câu chuyện trinh thám ly kỳ. Câu chuyện bắt đầu bằng việc giới thiệu một nhân vật lãnh đạo có tiếng tăm trong xã hội Do-thái thời đó là ông Ni-cô-đem. Vào một đêm tối trời, ông đã bí mật đến gặp người thợ mộc JESUS. Cuộc trò chuyện đêm đó đã được chép lại và trở thành bài học kinh điển của Kinh thánh về “bí mật” làm thế nào để được tái sanh và được vào Thiên Đường. Chúa JESUS phán: “nếu một người chẳng sanh lại, thì không thể thấy được nước Đức Chúa Trời”
Cầu xin ĐỨC CHÚA TRỜI ban cho chúng ta sự khải thị về chân lý sự tái sanh qua bài học ngày hôm nay. Amen!
I. Ni-cô-đem cần nh̀in thấy nước Đức Chúa Trời (1-9)
Chúng ta cùng xem câu 1-2 “Trong vòng người Pha-ri-si, có người tên là Ni-cô-đem, là một người trong những kẻ cai trị dân Giu-đa. 2 Ban đêm, người nầy đến cùng Đức Chúa Jêsus mà nói rằng: Thưa thầy, chúng tôi biết thầy là giáo sư từ Đức Chúa Trời đến; vì những phép lạ thầy đã làm đó, nếu Đức Chúa Trời chẳng ở cùng, thì không ai làm được.”
Ni-cô-đem là ai?
1/ Ni-cô-đem là “một người cai trị trong những kẻ cai trị dân Giu-đa”. Đây là danh xưng dùng để chỉ các hội viên của Hội Đồng Tôn Giáo Tối Cao vẫn thường được gọi là Tòa Công Luận. Những hội viên này có quyền lực cao nhất trong xã hội Do-thái thời đó. Từ đó chúng ta thấy Ni-cô-đem là một người có quyền lực, có danh vọng cao, giầu có về tiền bạc, có tầm ảnh hưởng.
2/ Ông là người Pha-ri-si. Những người theo phái Pha-ri-si là phái Biệt lập chủ trương vâng phục và gìn giữ luật pháp của Môi-se rất nghiêm ngặt. Họ cho rằng việc tuân giữ luật pháp sẽ mở ra con đường cứu rỗi. Từ bé họ đã được học và phải vâng phục hoàn toàn luật pháp. Mặc dù là người có địa vị cao, có quyền lực, nhưng Ni-cô-đem lại là một người có đời sống rất đạo đức, không chê trách chỗ nào được.
3/ Câu 10 cho chúng ta biết ông là giáo sư, có học vấn uyên bác, thuộc tầng lớp những người hiểu biết có tri thức cao.
Chúng ta thấy Ni-cô-đem là biểu mẫu của một con người thành đạt và hoàn hảo theo tiêu chuẩn của thế gian. Ông có tiền, có danh vọng, có quyền lực, có tri thức, có đạo đức. Ông được trọng vọng trong xã hội, ông có tất cả mọi thứ mà thế gian đang theo đuổi và mơ ước. Chúng ta nghĩ: “ồ, con người này nhất định phải là người hạnh phúc nhất trên thế gian!” Nhưng mặc dù có đầy đủ mọi thứ, đạt đến mọi đỉnh cao trong thế gian này, nhưng Ni-cô-đem luôn cảm thấy một sự trống rỗng trong tâm hồn. Ông vẫn luôn cảm thấy thiếu một điều gì đó, làm cho ông không thể nào hạnh phúc và thoả lòng được. Ông vẫn cứ tìm kiếm câu trả lời cho vấn nạn day dứt trong lòng này. Đây chính là “bóng đêm” của sự trống rỗng và vô nghĩa, “bóng tối” thuộc linh trong lòng của Ni-cô-đem. Với nan đề này Ni-cô-đem tìm đến Chúa Jesus trong ban đêm. Sứ đồ Giăng rất thích dùng những cụm từ đối nghĩa “sự tối-sự sáng”, “sự chết-sự sống”, “tình yêu thương-lòng ghét hận”…
Ông đến với Chúa bởi ông nhìn thấy những phép lạ mà Chúa làm. Câu hỏi của ông nói lên vấn đề ông quan tâm là các phép lạ. Nhưng phép lạ chỉ là bên ngoài, còn nan đề thật của ông lại ở bên trong tâm hồn. Thế nhưng Chúa chẳng đả động gì về vấn đề phép lạ mà Ngài ngay lập tức chỉ ra nan đề của ông. Chỉ có Chúa Jesus mới chỉ ra được bản chất của nan đề và cho câu trả lời đích xác.
Chúng ta cùng xem câu 3 “Đức Chúa Jêsus cất tiếng đáp rằng: Quả thật, quả thật, ta nói cùng ngươi, nếu một người chẳng sanh lại, thì không thể thấy được nước Đức Chúa Trời.” Chúa JESUS chỉ ra nan đề của Ni-cô-đem là ông không có sự sống đời đời, không có sự cứu rỗi linh hồn, hay nói cách khác linh hồn ông vẫn nằm dưới quyền lực của sự chết. Tất cả những gì ông có không thể giúp ông vào được nước Thiên đàng.
Điều kiện để nhận được sự cứu rỗi là phải được tái sanh. Sự tái sanh không phải là việc có thể có, có thể không, mà nhất định phải có, nếu muốn được cứu rỗi. Mỗi người bắt buộc phải sanh lại thì mới nhận được sự sống đời đời. Sanh 1 lần sẽ chết 2 lần, sanh 2 lần thì chỉ chết 1 lần.
Vì vậy, mọi người cần được tái sinh bởi Đức Chúa Trời để được thuộc về Ngài, trở nên con cái Ngài, dự phần bản tính Ngài, thừa hưởng cơ nghiệp Ngài. Nếu Ni-cô-đem là một người có đạo đức toàn vẹn, không làm điều gì ác mà vẫn cần phải tái sanh thì mới được vào nước Thiên đàng, thì không ngoại trừ ai cả. Không thể đem việc đi hội thánh, cầu nguyện, ca hát, dâng hiến, chịu báp-tem, dự tiệc thánh thay cho sự tái sanh. Sự tái sanh là gốc rễ, còn mọi việc trên là bông trái. Nếu bông trái không ra từ gốc rễ thì là bông trái giả mà thôi! Giu-đa Ich-ca-ri-ốt đã theo Chúa ba năm, hành động y như một môn đệ, không ai nghi ngờ gì về ông cả, thậm chí trong đêm cuối cùng, ông cũng dự tiệc thánh với Chúa. Nhưng sau đó, ông là người phản Chúa. Giu-đa dối gạt mọi người, nhưng không thể dối gạt Chúa nên cuối cùng ông đã đi đến nơi của ông.
Chúng ta cùng xem câu 4 “Ni-cô-đem thưa rằng: Người đã già thì sanh lại làm sao được? Có thể nào trở vào lòng mẹ và sanh lần thứ hai sao?”
Ni-cô-đem hiểu theo nghĩa đen rằng sự tái sanh là sanh về thuộc thể. Tư tưởng ông bị giới hạn bởi thế giới vật chất, bởi tư duy lô-gich, vậy nên ông không thể hiểu được những điều thiêng liêng. Ông không hiểu được ý nghĩa của việc tái sanh bởi con mắt thuộc linh của ông chưa được mở ra. Có lẽ ông cho rằng mình là người đạo đức sống hiền lành không làm hại ai thì tất nhiên mình sẽ được cứu. Câu trả lời của Chúa Jesus là câu trả lời ông không mong đợi, không phải dành cho ông.
Chúng ta cùng xem câu 5 ”Đức Chúa Jêsus đáp rằng: Quả thật, quả thật, ta nói cùng ngươi, nếu một người chẳng nhờ nước và Thánh Linh mà sanh, thì không được vào nước Đức Chúa Trời”.
Ni-cô-đem là người pha-ri-si, và ông ta đã từng cho rằng tuân giữ luật pháp là phương cách để được vào Nước Thiên đàng. Nhưng Chúa Jesus nói: không phải, tuân giữ luật pháp khắt khe như pha-ri-si cũng không thể đem đến sự cứu rỗi. Để sanh lại phải nhờ nước và Thánh Linh. Ở đây nước tượng trưng cho sự ăn năn tội và tha tội. Tội nhân cần phải nhận biết mình là tội nhân khủng khiếp, đáng bị trừng phạt đời đời ở hoả ngục. Khi đó tội nhân sẽ cầu cứu Chúa JESUS tha tội, rồi tin nhận Ngài làm Cứu Chúa, làm Chủ của đời sống mình. Sau đó chúng ta cầu xin Đức Thánh Linh ngự vào lòng chúng ta để tể trị và hướng dẫn chúng ta. Đức Thánh Linh là Đức Chúa Trời. Nên khi Ngài ngự vào lòng chúng ta, Ngài đem theo bản chất của Đức Chúa Trời và sự sống đời đời đặt vào lòng chúng ta. Nhờ đó tội nhân được tái sanh theo bản chất mới là con cái của Đức Chúa Trời. Sau khi tái sanh con người nhận được tâm linh mới, tấm lòng mới. Một số nhà thần học quả quyết rằng để được tái sinh đúng phải nhận báp-têm nước và sau đó là báp-têm Thánh Linh.
Chúng ta cùng xem câu 6-7 ”Hễ chi là xác thịt; hễ chi sanh bởi Thánh Linh là thần. 7 Chớ lấy làm lạ về điều ta đã nói với ngươi: Các ngươi phải sanh lại.“
Chúa giải thích trong câu 6 rằng sự tái sanh là sự sanh lại về tâm linh. Sanh bởi xác thịt, có nghĩa là nhờ cha mẹ sanh ra làm con người, nhưng chúng ta vẫn mang dòng huyết tội nhân. Tội nhân không thể vào được Nước Thiên đàng. Để trở thành con cái của Đức Chúa Trời thì phải nhờ Đức Thánh Linh. Sự tái sanh là sự sống lại thuộc linh, một sự sống mới, một người mới. Sự tái sanh hoàn toàn không phải là công việc của con người, nhưng là công việc của Đức Thánh Linh.
Chúng ta cùng xem câu 8 “Gió muốn thổi đâu thì thổi, ngươi nghe tiếng động; nhưng chẳng biết gió đến từ đâu và cũng không biết đi đâu. Hễ người nào sanh bởi Thánh Linh thì cũng như vậy.”
Ở đây Chúa Jesus chơi chữ. Trong nguyên văn Do Thái, chữ gió được viết là רוּחַ (ruach). Chữ רוּחַ bên cạnh ý nghĩa là gió, còn có nghĩa là hơi thở, tinh thần, và thần linh. Chúa Jesus lấy ví dụ về gió để mô tả về sự tái sanh. Gió là sự chuyển động của không khí vô hình, gió từ đâu đến và gió thổi đi đâu chúng ta không thể nhìn thấy được bằng mắt, nhưng biểu hiện của gió để lại như cây cối bị xao động cho chúng ta biết là có gió. Cũng vậy sự tái sanh hoàn toàn là công việc của Đức Thánh Linh xảy ra bên trong lòng con người, mà chúng ta không nhìn thấy được. Nhưng người đã được tái sanh sẽ có những biểu hiện và thay đổi trong đời sống của mình, để minh chứng cho sự tái sanh.
II. Con đường dẫn đến nước Đức Chúa Trời
Chúng ta cùng xem câu 9 “Ni-cô-đem lại nói: Điều đó làm thể nào được?”
Thông qua ví dụ về gió Chúa Jesus đã giải thích rất dễ hiểu về lẽ thật của sự tái sanh, nhưng Ni-cô-đem vẫn không tiếp nhận, bởi là lý trí của ông, tư duy logic của ông không hiểu được, bởi cái nhìn của ông vẫn là cái nhìn xác thịt. Lý trí của chúng ta không thể hiểu hết được lời Chúa hay công việc của Chúa làm, vì thế chúng cần học cách tiếp nhận lời Ngài.
Chúng ta cùng xem câu 10 “Đức Chúa Jêsus đáp rằng: Ngươi là giáo sư của dân Y-sơ-ra-ên, mà không hiểu biết những điều đó sao!” Ở đây Chúa JESUS trách Ni-cô-đem. Câu này không có nghĩa Chúa mắng Ni-cô-đem ngu dốt, chậm hiểu. Ý Chúa nói rằng Ni-cô-đem là giáo sư, nên ông ta biết rõ những nguyên tắc của đức tin đã được bày tỏ trong Cựu ước, ông có điều kiện để hiểu biết, thế nhưng ông vẫn không tiếp nhận, bởi vì ông có nan đề. Thế thì nan đề của ông là gì?
Trong câu 11 “11. Quả thật, quả thật, ta nói cùng ngươi, chúng ta nói điều mình biết, làm chứng điều mình đã thấy; còn các ngươi chẳng hề nhận lấy lời chứng của chúng ta” Chúa JESUS chỉ ra nan đề thứ nhất của Ni-cô-đem là không tiếp nhận Lời Chúa. Câu 13 nói “Chưa hề có ai lên trời, trừ ra Đấng từ trời xuống, ấy là Con người vốn ở trên trời.” Chúa Jesus là con người duy nhất đến trái đất từ Bước Trời, và Ngài đang kể, đang làm chứng về những gì Ngài thấy ở Nước Thiên Đường. Việc của Ni-cô-đem là nghe, tiếp nhận và tin. Trong câu 12 “Ví bằng ta nói với các ngươi những việc thuộc về đất, các ngươi còn chẳng tin thay; huống chi ta nói những việc thuộc về trời, thì các ngươi tin sao được?” Chúa JESUS chỉ ra nan đề thứ hai của Ni-cô-đem là không tin Lời Chúa. Như vậy nan đề căn bản ngăn trở Ni-cô-đem không nhận được sự tái sanh vì ông không tin và không tiếp nhận Lời Chúa. Nhưng tại sao ông không tin nhận? Bởi vì ông cố gắng dùng lý trí, dùng trí thông minh của con người, dùng suy nghĩ lô-gích hữu lý để tiếp nhận Lời Chúa. Nhưng chân lý của Lời Chúa là thuộc linh, là tin tức về Nước Trời, đương nhiên chúng ta làm thế nào mà có thể hiểu được? Giăng 3:13 nói về điều này. Do đó chúng ta cần sự khải thị về Lời Chúa. Giăng 3:27,31-32 “27. Giăng trả lời rằng: Ví chẳng từ trên trời ban cho, thì không một người nào có thể lãnh chi được…31. Ðấng từ trên cao đến là trên hết mọi loài. Kẻ từ đất đến là thuộc về đất, và nói ra cũng như là thuộc về đất; còn Ðấng từ trời đến thì trên hết mọi loài.32. Ngài làm chứng về điều Ngài đã thấy và nghe; song không có ai nhận lấy lời chứng của Ngài.”
Chúng ta cùng xem tiếp câu 14-15 “14 Xưa Môi-se treo con rắn lên nơi đồng vắng thể nào, thì Con người cũng phải bị treo lên dường ấy, 15 hầu cho hễ ai tin đến Ngài đều được sự sống đời đời.“
Chúa Jesus lấy ví dụ trong Cựu ước mà Ni-cô-đem biết rất rõ. Trong Dân số ký 20-21 kể lại vì cớ thiếu nước uống dân chúng oán trách Môi-se và Đức Chúa Trời, mặc dầu trước đó không lâu Đức Chúa Trời đã truyền cho nước từ vầng đá chảy ra cho họ uống. Không chỉ phàn nàn về sự thiếu thốn, dân Israel còn bày tỏ thái độ vô ơn với Đức Chúa Trời về sự chu cấp hằng ngày mà Ngài đã ban cho họ. Họ nói: “Chúng tôi đã ghê tởm thứ đồ ăn đạm bạc này”. Trước lòng vô tín, thái độ vô ơn và tinh thần phản nghịch của dân Israel, Đức Chúa Trời cho phép rắn lửa trong hoang mạc đến cắn họ, làm nhiều người chết. Sau khi tai nạn rắn cắn xảy ra, dân Israel đã đến thưa với Môi-se: “Chúng tôi có phạm tội, vì đã nói nghịch Đức Giê-hô-va và người. Hãy cầu xin Đức Giê-hô-va để Ngài khiến rắn lìa xa chúng tôi”. Môi-se cầu xin Chúa tha thứ cho dân sự. Đức Chúa Trời đã lắng nghe lời cầu xin của ông. Đức Chúa Trời truyền cho Môi-se làm một con rắn lửa bằng đồng (Cu), rồi treo con rắn đó trên một cây sào; nếu ai bị cắn, hãy nhìn vào biểu tượng đó sẽ được sống. Môi-se vâng theo lời Chúa làm một con rắn lửa bằng đồng rồi treo lên cây sào. Những người bị rắn cắn đã nhìn vào biểu tượng đó và được cứu một cách thần kỳ.
Thường khi bị rắn cắn, người ta ngay lập tức phải tìm cách giải độc, bởi thời gian rất cấp bách nếu không kịp thì nọc đọc lan rộng ảnh hưởng đến tính mạng. Theo lý trí, theo khoa học và theo lô-gích cách chữa rắn cắn của Môi-se không thể tiếp nhận được, người ta sẽ nghĩ: “này Môi-se, ông đang coi chúng tôi là một lũ trẻ con ngu dốt hay sao? Làm thế nào mà chỉ nhìn vào con rắn đồng và được chữa khỏi một cách thần kỳ? Điều đó làm thế nào được?” Ni-cô-đem là giáo sư của dân Israel, thế nên ông rất hiểu câu chuyện này dạy nguyên tắc là được cứu bởi đức tin.
Cũng như vậy Chúa JESUS sẽ bị đóng đinh trên cây thập tự, và những ai nhìn lên thập tự giá của Chúa JESUS, tin nhận Ngài thì sẽ được tha tội, được tái sanh và được sự sống đời đời. Đó là nguyên tắc được cứu bởi đức tin.
Tại sao Chúa JESUS lại dùng hình ảnh của con rắn để chỉ về Ngài? Trong Kinh Thánh con rắn tượng trưng cho sa-tan. Khi sa-tan cắn người, nó cấy nọc độc tội lỗi chết người vào bản chất của chúng ta. Khi bản chất rắn còn sống, thì người ta sẽ chết. Nhưng nếu treo nó lên thập tự giá, thì lại sẽ được sống. Nếu chúng ta đặt hết tội lỗi của chúng ta lên Chúa JESUS, chúng ta sẽ được cứu.
Chúng ta cùng xem câu 16 “Vì Đức Chúa Trời yêu thương thế gian, đến nỗi đã ban Con một của Ngài, hầu cho hễ ai tin Con ấy không bị hư mất mà được sự sống đời đời”
Thường con người chúng ta yêu luôn có một điều kiện nhất định nào đó. Nhưng Đức Chúa Trời yêu thương chúng ta vô điều kiện. Mặc dù chúng ta là tội nhân sống một đời sống bẩn thỉu tội lỗi, Ngài vẫn yêu thương chúng ta, ngay cả khi chúng ta chối bỏ Ngài, Ngài vẫn yêu thương chúng ta. Tại sao Chúa lại yêu thương chúng ta như vậy? Phải chăng Ngài cần điều gì đó từ chúng ta? Không, Chúa yêu chúng ta bởi Ngài chính là tình yêu, tình yêu thương agape thánh thiện chính là bản chất của Ngài. Tình yêu đó được thể hiện bằng cách Ngài đến thế gian này mang gánh nặng tội lỗi của chúng ta, chịu thập hình cho chúng ta, để thế chỗ thay chúng ta. Ai tin nhận Chúa Jesus thì sẽ được cứu.
Sự tái sanh là tin vào tình yêu của Đức Chúa Trời, nhìn lên Chúa Jesus và tin rằng Ngài chết thay cho tôi thì người đó được tái sanh và nhận được sự sống đời đời. Amen!
Chúng ta cùng xem câu 17 “Vả, Ðức Chúa Trời đã sai Con Ngài xuống thế gian, chẳng phải để đoán xét thế gian đâu, nhưng hầu cho thế gian nhờ Con ấy mà được cứu.” Tại sao người ta lại cố giấu diếm tội lỗi, không dám nhận tội? Vì người ta sợ bị phán xét và nhận án phạt. Nhưng Chúa JESUS nói rõ ràng là Đức Chúa Trời sai Chúa JESUS xuống đời không phải để phán xét, mà để tha tội, ân xá và ban sự cứu rỗi. Nên chúng ta có thể tự do dạn dĩ đến trước Ngài để xưng hết tội ra. Nhưng tại sao người ta lại không đến với Chúa?
Chúng ta cùng xem câu 18-20 “18. Ai tin Ngài thì chẳng bị đoán xét đâu; ai không tin thì đã bị đoán xét rồi, vì không tin đến danh Con một Ðức Chúa Trời.19. Vả, sự đoán xét đó là như vầy: sự sáng đã đến thế gian, mà người ta ưa sự tối tăm hơn sự sáng, vì việc làm của họ là xấu xa. 20. Bởi vì phàm ai làm ác thì ghét sự sáng và không đến cùng sự sáng, e rằng công việc của mình phải trách móc chăng.” Chúa không hề đoán phạt tội lỗi của chúng ta, Ngài chỉ chăm chăm tha tội và ban sự cứu rỗi cho tội nhân. Nhưng người ta lại chối bỏ Ngài. Lý do là họ yêu tội lỗi, họ không muốn từ bỏ đời sống tội lỗi. Họ ghét sự sáng và không muốn đến với sự sáng của Chúa, vì sợ tấm lòng gian dối, tội lỗi của họ bị phơi bày ra.
Chúng ta cùng xem câu 21 “Nhưng kẻ nào làm theo lẽ thật thì đến cùng sự sáng, hầu cho các việc của mình được bày tỏ ra, vì đã làm trong Ðức Chúa Trời.” Câu này nói về những người muốn ăn năn tội, muốn nhận được sự tái sanh, sự cứu rỗi đời đời. Vì vậy họ đến cùng Chúa, xưng hết tội lỗi ra trước Chúa, phơi bày lòng mình ra trước Chúa, để nhận được sự tha tội.
Có một câu chuyện để dạy các em thiếu nhi về sự tái sanh: Có hai ông bà giàu lắm, mà không con. Ngày nọ, họ mua một con heo rất đẹp đem về, tắm rửa sạch, mặc áo mới, để nó ngủ trên cái giường gần giường của ông bà, và cho nó ăn những thức ăn mà ông bà thường ăn. Sau ba tháng, ông bà dẫn con heo đi chơi. Khi có một có bầy heo lăn lóc trong vũng bùn bên vệ đường. Con heo quên hết mọi sự, nó nhảy xuống vui vẻ với các bạn nó. Hơn một giờ, con heo lên. Ông bà giận nó la rầy nó dữ tợn. Con heo khóc lóc, hứa sẽ không bao giờ dám làm như vậy nữa. Thế là ông bà cởi chiếc áo đó bỏ đi, và may một chiếc áo mới, tắm rửa sạch sẽ, trở lại địa vị cũ. Con heo tiếp tục ở trong nhà ông bà bình thường. Sau ba tháng, ông bà đưa con heo đi chơi. Bấy giờ, con heo thấy một đám heo đang chơi trong bùn, nó nén lòng để không sa vào đó. Ông bà dẫn nó đi một đoạn xa, khi đến đó thì có một bầy heo đông hơn, nó không giữ mình được và cuối cùng nó nhảy xuống vũng bùn. Ông bà đem nó về tắm rửa sạch sẽ và cảnh cáo nó mạnh mẽ. Con heo khóc lóc đắng cay trên giường cho đến khuya. Khi mệt quá nó ngủ thiếp đi và mơ thấy một Thiên sứ từ trên mây đi xuống, tay phải cầm một chiếc gươm, tay trái cầm một trái tim của chiên. Thiên sứ đến bên giường của heo, mổ bụng, lấy trái tim của nó quăng đi và đặt trái tim của chiên vào. Con heo tỉnh dậy, thấy trong người thay đổi. Mặc dầu nó là con heo, nhưng trái tim của nó không phải là con heo mà là con chiên. Con chiên và con heo khác nhau. Con heo thích vũng bùn, con chiên thì thích sạch sẽ, thậm chí chỗ nào có nước nó cũng không đến gần. Vì vậy, kể từ đó ông bà không còn lo gì cho con heo nữa, vì nó đã hoàn toàn thay đổi từ tấm lòng của con heo trở thành tấm lòng của con chiên. Nó bắt đầu sống như con chiên chứ không còn sống như con heo nữa.
Như vậy trong câu 1-8 Chúa JESUS dạy về nhu cầu cấp thiết của sự tái sanh. Câu 9-12 nói về những nan đề cản trở chúng ta nhận được sự tái sanh: không tin và không tiếp nhận. Câu 13-16 nói về nguyên tắc nhận được sự tái sanh nhờ đức tin nơi Chúa JESUS. Câu 17-21 nói rằng phải công nhận tôi là tội nhân đáng bị trừng phạt đời đời dưới hoả ngục, ăn năn và xưng tội ra thì mới được tái sanh.
Để nhận được sự tái sanh thật là dễ. Chỉ cần ăn năn và tin nhận Chúa JESUS. Xin Chúa ban đức tin đơn giản cho anh chị em để ngay ngày hôm nay được tái sanh. Amen.
Leave a Reply
Bạn phải đăng nhập để gửi phản hồi.