Câu khoá 2:8 ”Đoạn, GIÊ-HÔ-VA ĐỨC CHÚA TRỜI lập một cảnh vườn tại Ê-đen, ở về hướng đông, và đặt người mà NGÀI vừa dựng nên ở đó.”
Sáng Thế Ký 1:1 Ban đầu ĐỨC CHÚA TRỜI dựng nên trời đất. Là một tuyên ngôn bảy tỏ cho chúng ta về ĐỨC CHÚA TRỜI là ĐẤNG Tạo Hóa toàn năng và nguồn gốc của muôn loài vạn vật. Câu Kinh Thánh này là chân lý và bày tỏ cho chúng ta biết: tôi là ai, tôi từ đâu đến, tôi đến đây để làm gì và tôi sẽ đi về đâu sau khi chết.
Từ câu 2 đến câu 25 của chương 1 cho chúng ta thấy sự khôn ngoan vô hạn của ĐỨC CHÚA TRỜI khi NGÀI tạo dựng nên muôn vật. Và ngày nay khi nhìn vào vũ trụ, nhìn vào trái đất, nhìn vào thiên nhiên chúng ta chỉ có thể trầm trồ mà ngợi khen CHÚA vì sự vĩ đại và khôn ngoan của NGÀI. Amen!
Sáng Thế Ký 1:26-28 cho chúng ta biết nguồn gốc và bản chất thật của loài người cũng như sứ mệnh mà ĐỨC CHÚA TRỜI dành cho con người. Con người là vương miện trong sự sáng tạo của ĐỨC CHÚA TRỜI. Con người được tạo dựng theo hình ảnh của ĐỨC CHÚA TRỜI và đây mới là bản chất thật của con người. Amen! ĐỨC CHÚA TRỜI tạo dựng nên con người để thực hiện sứ mệnh mà Ngài ban cho.
Sáng Thế Ký 1:31, sau khi con người đã được dựng nên thì ĐỨC CHÚA TRỜI thấy các việc NGÀI đã làm thật rất tốt lành. ĐỨC CHÚA TRỜI thốt lên rằng thật rất tốt lành sau khi con người được tạo dựng khẳng định giá trị tuyệt đối của con người. Và đây mới là giá trị thật của chúng ta. Amen!
Ngày hôm nay chúng ta sẽ cùng học tiếp với nhau chương 2 của sách Sáng Thế Ký. Chương 2 là sự chi tiết hóa sự kiện ĐỨC CHÚA TRỜI tạo dựng nên con người trong ngày thứ 6. Việc Kinh Thánh sử dụng cả một chương để miêu tả chi tiết sự kiện này cho chúng ta ta thấy đối với ĐỨC CHÚA TRỜI việc con người được tạo dựng là rất quan trọng. Điều này một lần nữa khẳng định giá trị tuyệt đối của con người trước ĐỨC CHÚA TRỜI. Cầu xin CHÚA ngày hôm nay giúp chúng ta nhìn thấy được giá trị của mình trước NGÀI cũng như tình yêu của NGÀI dành cho chúng ta.
- Hơi thở của sự sống.
Chúng ta xem câu 4: “Ấy là gốc tích trời và đất khi đã dựng nên, trong lúc GIÊ-HÔ-VA ĐỨC CHÚA TRỜI dựng nên trời và đất.” Chúng ta để ý thấy từ câu 4 này danh của ĐỨC CHÚA TRỜI đã có sự thay đổi. Trong chương 1 danh của ĐỨC CHÚA TRỜI là E-lo-him, NGÀI là ĐẤNG Tạo Hóa toàn năng, là ĐỨC CHÚA TRỜI của cả cõi sáng tạo. Nhưng từ câu 4 chương 2 danh của NGÀI là GIÊ-HÔ-VA ĐỨC CHÚA TRỜI có nghĩa là Đấng chủ tể, CỨU CHÚA, ĐẤNG giải cứu và cung ứng mọi nhu cầu cho con người. Từ đây NGÀI tham gia trực tiếp vào đời sống của con người, NGÀI chăm sóc, gần gũi và yêu thương.
Chúng ta cùng xem câu 5,6: ”Vả, lúc đó, chưa có một cây cỏ nào mọc ngoài đồng, và cũng chưa có một ngọn cỏ nào mọc ngoài ruộng, vì GIÊ-HÔ-VA ĐỨC CHÚA TRỜI chưa có cho mưa xuống trên đất, và cũng chẳng có một người nào cày cấy đất nữa. 6 Song có hơi nước dưới đất bay lên tưới khắp cùng mặt đất.” Kinh Thánh cho chúng ta biết thế giới không có gì khi chưa có con người. Điều này cho chúng ta thấy ngay từ buổi sáng thế đối với ĐỨC CHÚA TRỜI thì linh hồn của một con người còn quý hơn cả thế gian.
Chúng ta cùng xem câu 7: ”GIÊ-HÔ-VA ĐỨC CHÚA TRỜI bèn lấy bụi đất nắn nên hình người, hà sanh khí vào lỗ mũi; thì người trở nên một loài sanh linh.” Kinh Thánh bày tỏ rõ ràng cho chúng ta biết con người gồm có 3 phần; đó là: tâm linh, tâm hồn và thể xác.
Tâm linh chính là hình ảnh của ĐỨC CHÚA TRỜI trong con người. Đây là phần mà con người dùng để tiếp xúc với thế giới tâm linh.
Tâm hồn là phần mà con người tương giao với nhau. Phần hồn có cảm xúc, tình cảm, trí tuệ.
Thể xác được tạo dựng từ bụi đất với mục đích là để chúng ta tiếp xúc với thế giới vật chất. Các nhà khoa học tìm thấy trong cơ thể con người có khoảng 20 nguyên tố hóa học, và đều có trong đất.
Vì con người có 3 phần nên để được thực sự hạnh phúc thì chúng ta cần phải sống hài hòa cả 3 phần. Giống như việc chúng ta cho thể xác, cho tâm hồn ăn uống thì chúng ta cũng cần phải cho tâm linh của mình ăn uống. Và thức ăn duy nhất cho tâm linh là lời ĐỨC CHÚA TRỜI. Các hoạt động tôn giáo không giúp ích gì được chúng ta. Chỉ lời ĐỨC CHÚA TRỜI mới thỏa mãn được những nhu cầu tâm linh mà thôi.
“ĐỨC CHÚA TRỜI hà sanh khí vào lỗ mũi; thì người trở nên một loài sanh linh.” Điều này khẳng định rằng sự sống của chúng ta là đến từ ĐỨC CHÚA TRỜI. NGÀI là Chủ và nguồn của sự sống.
- Vườn địa đàng Ê-đen – Tình yêu của ĐỨC CHÚA TRỜI.
Chúng ta cùng đọc với nhau câu 8: “Ðoạn, Giê-hô-va Ðức Chúa Trời lập một cảnh vườn tại Ê-đen, ở về hướng Ðông, và đặt người mà Ngài vừa dựng nên ở đó.” ĐỨC CHÚA TRỜI tạo dựng vườn địa đàng Ê-đen và đặt con người vào đó để con người được thực sự hạnh phúc. Chúng ta cùng xem vườn Ê-đen được ĐỨC CHÚA TRỜI tạo dựng như thế nào?
Câu 9 “Giê-hô-va Ðức Chúa Trời khiến đất mọc lên các thứ cây đẹp mắt, và trái thì ăn ngon; giữa vườn lại có cây sự sống cùng cây biết điều thiện và điều ác.” ĐỨC CHÚA TRỜI tạo dựng vườn Ê-đen với vô số thứ cây khác nhau với trái đẹp mắt lại ăn ngon. Lúc đó lớp nước trên cùng của bầu khí quyển tạo ra hiệu ứng nhà kính. Nó làm cho áp suất khí quyển lớn hơn bây giờ, nhiệt độ trái đất cũng ấm áp nên thực vật khác với ngày nay. Chúng to lớn và phát triển nhanh, sai trái và trái thì to. Khi đó con người không phải đi may, không phải đi chợ hay làm một công việc gì để kiếm miếng ăn. Con người có thể ăn hoa quả bao nhiêu tùy thích mà không sợ độc hại hay đã bị ngâm thuốc. Con người được tự do khỏi nan đề cơm, áo, gạo, tiền để thực hiện sứ mệnh. Có thể nói rằng lúc đó con người chẳng có thiếu thốn điều gì.
Giữa vườn có cây sự sống mà trái của nó con người có thể ăn bao nhiêu tùy thích cho chúng ta biết rằng tại nơi đó không có sự chết. Cũng không tồn tại quy luật của sự chết, không có ốm đau, bệnh tật.
Chúng ta cùng xem tiếp từ câu 10 đến hết câu 14: “10. Một con sông từ Ê-đen chảy ra đặng tưới vườn; rồi từ đó chia ra làm bốn ngả. 11. Tên ngả thứ nhứt là Bi-sôn; ngả đó chảy quanh xứ Ha-vi-la, là nơi có vàng. 12. Vàng xứ nầy rất cao; đó lại có nhũ hương và bính ngọc. 13. Tên sông thứ nhì là Ghi-hôn, chảy quanh xứ Cu-sơ. 14. Tên sông thứ ba là Hi-đê-ke, chảy về phía đông bờ cõi A-si-ri. Còn sông thứ tư là sông Ơ-phơ-rát.” Ngày nay chúng ta không biết chính xác vị trí vườn Ê-đen nằm ở đâu nhưng phải chắc chắn một điều đây là nơi tốt nhất và đẹp nhất trên trái đất. Tại đó vàng chỉ dùng làm vật trang trí, những viên ngọc, đá quý thì nằm lấp lánh dưới lòng suối cũng chỉ để cho đẹp. Nhưng sự đẹp đẽ, giàu có, dư dật về vật chất này chỉ là những thứ bên ngoài. Điều chính yếu và quan trọng nhất trong Thiên Đàng chính là sự hiện diện của ĐỨC CHÚA TRỜI. Ở trong mối tương giao đầy trọn với ĐỨC CHÚA TRỜI làm cho con người hạnh phúc thật. Sự hạnh phúc, bình an, vui mừng, thỏa lòng mà không điều gì có thể so sánh. Ngày nay, chúng ta cũng không thể nào hạnh phúc thật ngoài mối tương giao với ĐỨC CHÚA TRỜI. Những điều kiện bên ngoài chỉ giúp chúng ta hạnh phúc và thỏa mãn nhất thời. Chỉ có mối quan hệ sâu nhiệm với ĐỨC CHÚA TRỜI mới đem đến cho chúng ta hạnh phúc thật sự.
Thiên Đàng tuyệt vời như vậy nhưng con người đã phạm tội và đánh mất. Tin Lành chính là tình yêu của ĐỨC CHÚA TRỜI cho chúng ta được phục hồi lại Thiên Đàng qua CHÚA GIÊ-XU CHRIST.
- Điều răn thánh.
Câu 15 “GIÊ-HÔ-VA ĐỨC CHÚA TRỜI đem người ở vào cảnh vườn Ê-đen để trồng và giữ vườn.” Kinh Thánh nói rằng con người có nhiệm vụ là trồng và giữ vườn, vậy thì ngay từ ban đầu ĐỨC CHÚA TRỜI đã tạo dựng con người là một hữu thể lao động. Vì vậy lười biếng là tội lỗi. Con người ở trong Thiên Đàng vẫn phải lao động. Tư tưởng tin CHÚA là không phải làm gì, chỉ việc cầu nguyện thôi vẫn có ăn và giàu có, hay tin CHÚA là để ngồi mát ăn bát vàng hoàn toàn là những tư tưởng sai lầm và phản Kinh Thánh. Ở trong Thiên Đàng con người vẫn phải lao động, lao động để gìn giữ Thiên Đàng, lao động để thực hiện sứ mệnh mà CHÚA ban. Nhưng sau khi phạm tội thì con người bị rủa sả và phải lao động để kiếm miếng ăn, phải đổ mồ hôi khó nhọc mới có miếng để ăn.
ĐỨC CHÚA TRỜI đặt con người vào vườn Ê-đen để trồng và giữ vườn. Đây chính là sứ mệnh mà NGÀI ban cho con người, quản trị các tạo vật của NGÀI. Trong số chúng ta ở đây đã ai chỉ ăn và nằm dài xem phim cả ngày trong vòng 2 tháng liền chưa? Tôi thì đã từng làm vậy rồi. Anh chị em nếu có cơ hội cứ thử trong vòng 2 ngày thôi, chúng ta sẽ thấy cuộc đời thật trống rỗng và vô nghĩa, không có niềm vui và cũng chẳng có sự thỏa lòng. Nào hãy cùng nghĩ đến ông tổ của chúng ta là A-đam, ông được CHÚA đặt để trong sự dư dật. Nếu CHÚA không ban cho ông sứ mệnh thì chắc chắn rằng cuộc đời ông cũng trống rỗng và vô nghĩa, không có niềm vui, hạnh phúc hay sự thỏa lòng, ông sẽ giống như một cái máy tiêu hóa thức ăn không hơn không kém. Vậy sứ mệnh làm cho cuộc đời con người có ý nghĩa và đáng sống. Việc thực hiện sứ mệnh mang đến cho chúng ta niềm vui và hạnh phúc đích thực. Sứ mệnh làm cho chúng ta khác với loài vật. Sứ mệnh chính là phước hạnh đến từ ĐỨC CHÚA TRỜI. Thật vui mừng biết bao khi một linh hồn được cứu rỗi. Thật vui mừng biết bao khi chúng ta làm chứng cho ai đó, họ lắng nghe, ăn năn và trở thành con cái CHÚA. Còn vui mừng hơn nữa khi những con người được cứu đó là những người thân của chúng ta. Và khi mà chúng ta cùng nhau được vào vương quốc của CHÚA thì niềm vui đó không thể miêu tả bằng ngôn ngữ của loài người được. Ha-le-lui-ja!!!
Trong vườn Ê-đen cùng với sứ mệnh ĐỨC CHÚA TRỜI còn ban cho con người một điều răn thánh. Chúng ta cùng xem câu Kinh Thánh 16-17: “Rồi GIÊ-HÔ-VA ĐỨC CHÚA TRỜI phán dạy rằng: Ngươi được tự do ăn hoa quả các thứ cây trong vườn; nhưng về cây biết điều thiện và điều ác thì chớ hề ăn đến; vì một mai ngươi ăn, chắc sẽ chết.” Một bản dịch Kinh Thánh khác như sau: “ĐỨC CHÚA TRỜI truyền lệnh cho người rằng: Con có thể ăn bất cứ trái cây nào trong vườn, nhưng về cây biết thiện ác thì không được ăn, vì ngày nào con ăn trái đó chắn chắn con sẽ chết”. Về phần tôi thì tôi thích bản dịch này hơn. Nó rõ nghĩa hơn và không gây hiểu lầm. CHÚA cho con người toàn quyền ăn tất cả trái cây trong vườn, bất cứ cây nào con người thích, kể cả cây sự sống. Nhưng cây biết điều thiện và ác thì chắc chắn không được ăn và nếu ăn thì chắc chắn sẽ chết. Nhiều người sẽ thắc mắc rằng tại sao CHÚA cấm ăn mà lại để cây biết điều thiện và điều ác ở giữa vườn? Hay tại sao CHÚA đã cho ăn trái của hàng ngàn cây mà có mỗi cây này CHÚA lại giữ? Hay tại sao CHÚA yêu mà lại giới hạn quyền tự do của con người bằng điều răn. Chính tôi cũng đã từng có những câu hỏi như vậy. Như chúng ta đã biết bản chất thật của con người là hình ảnh của ĐỨC CHÚA TRỜI, sự sống của con người cũng đến từ CHÚA, NGÀI là nguồn sự sống. Vì vậy mà sự mối tương giao với ĐỨC CHÚA TRỜI là điều không thể thiếu để con người được sống hạnh phúc. ĐỨC CHÚA TRỜI đã sử dụng cây biết điều thiện và điều ác để đặt ra trật tự thuộc linh trong cõi sáng tạo, trật tự này cũng chính là trật tự của sự sống, trật tự này đảm bảo để sự tự do thật được tồn tại. Trật tự đó là ĐỨC CHÚA TRỜI-con người-các tạo vật. Khi con người phá vỡ trật tự này thì trở thành nô lệ và chịu phục dưới sự chết. Qua cây biết điều thiện và điều ác cùng điều răn thánh thì A-đam có thể thờ phượng ĐỨC CHÚA TRỜI, dâng vinh hiển cho NGÀI bằng của lễ của sự vâng lời. Điều răn là cái giữ Thiên đàng tồn tại, khi phạm điều răn thì con người đánh mất Thiên đàng. Cho nên điều răn là phước hạnh. Ngày nay cũng vậy, các điều răn của ĐỨC CHÚA TRỜI không phải để giới hạn tự do của chúng ta mà là để chúng ta được phước và sống hạnh phúc. Tạ ơn ĐỨC CHÚA TRỜI vì điều răn thánh của NGÀI.
- Hôn nhân thánh.
Chúng ta cùng xem câu 18: “GIÊ-HÔ-VA ĐỨC CHÚA TRỜI phán rằng: loài người ở một mình thì không tốt; TA sẽ làm nên một kẻ giúp đỡ giống như nó.” Trong câu Kinh Thánh này chúng ta thấy ĐỨC CHÚA TRỜI là một ĐẤNG vô cùng tinh tế. NGÀI hiểu chúng ta hơn chính bản thân chúng ta nữa. NGÀI nhận ra rằng A-đam ở một mình thì không tốt là điều mà chính ông cũng không nhận biết. Vậy là NGÀI đã quyết định tạo dựng nên người nữ là người giúp đỡ và giống như người nam cũng có hình ảnh của ĐỨC CHÚA TRỜI. Qua đây chúng ta thấy mục đích thật mà ĐỨC CHÚA TRỜI tạo nên hôn nhân là để thực hiện sứ mệnh. Mục đích của hôn nhân là vì sứ mệnh mà Chúa ban cho.
Câu Kinh Thánh 19-20: “19GIÊ-HÔ-VA ĐỨC CHÚA TRỜI lấy đất nắn lên các loài thú đồng, các loài chim trời, rồi dẫn đến trước mặt A-đam đặng thử xem người đặt tên chúng nó làm sao, hầu cho tên nào A-đam đặt cho mỗi vật sống, đều thành tên riêng cho nó. 20A-đam đặt tên các loài xúc vật, các loài chim trời cùng các loài thú đồng; nhưng về phần A-đam thì chẳng tìm được một ai giúp đỡ giống như mình hết.” Lúc này A-đam đang thực hiện sứ mệnh mà CHÚA ban cho, ông đặt tên cho các loài động vật, chim trời và ông nhận ra một điều là tất cả chúng đều có đôi có cặp, đực và cái, trống và mái, giống nhau. Vậy mà tại sao ông lại không tìm thấy một người nào giống mình?
Trong câu 21-22: “21 GIÊ-HÔ-VA ĐỨC CHÚA TRỜI làm cho A-đam ngủ mê, bèn lấy một xương sườn, rồi lấp thịt thế vào. 22 GIÊ-HÔ-VA ĐỨC CHÚA TRỜI dùng xương sườn đã lấy nơi A-đam làm nên một người nữ, đưa đến cùng A-đam.” Cho đến câu này thì chúng ta thấy từ đầu đến cuối đều là công việc của ĐỨC CHÚA TRỜI. NGÀI là ĐẤNG nhìn thấy con người ở một mình thì không tốt. NGÀI hiểu nhu cầu của con người là cần một người giúp đỡ để thực hiện sứ mệnh một cách vui vẻ, hạnh phúc. Chính ĐỨC CHÚA TRỜI là ĐẤNG ban cho A-đam sứ mệnh. Khi A-đam thực hiện sứ mệnh thì chính CHÚA là ĐẤNG tạo dựng nên người nữ và cũng chính NGÀI mang đến cho A-đam. Qua đây chúng ta thấy được hôn nhân được ĐỨC CHÚA TRỜI tạo dựng, NGÀI là Chủ tể của hôn nhân. Vì vậy mà hôn nhân là thánh bởi nó thuộc về ĐỨC CHÚA TRỜI. ĐỨC CHÚA TRỜI là ĐẤNG hiểu chúng ta hơn bất cứ ai trên thế gian này, hơn bố mẹ, anh chị em, bạn bè, Mục Sư hay thậm chí cả chính chúng ta nữa nên NGÀI là ĐẤNG biết rõ nhất ai là người phối ngẫu hợp với chúng ta và NGÀI sẽ mang đến vào thời điểm của NGÀI. Điều chúng ta cần làm là tin tưởng, trông cậy và chờ đợi thời điểm của CHÚA.
Và khi thời điểm của CHÚA đến thì điều gì sẽ xảy ra, chúng ta cùng xem câu 23,24: “23 A-đam nói rằng: người này là xương bởi xương tôi, thịt bởi thịt tôi mà ra. Người này sẽ được gọi là người nữ, vì nó do nơi người nam mà có. 24 Bởi vậy người nam sẽ lìa cha mẹ mà dính díu cùng vợ mình, và cả hai sẽ nên một thịt.” Ở đây chúng ta có thể thấy rằng A-đam đã vui và hạnh phúc như thế nào khi đón nhận người nữ đến từ ĐỨC CHÚA TRỜI. Trong nguyên tác câu 23 là một đoạn thơ. Có thể nói rằng A-đam đã vui mừng và hạnh phúc đến mức mà xuất khẩu thành thơ. Ha-le-lui-ja! Câu 24 khẳng định rằng vợ chồng là một thịt không phải chỉ ở phương diện thể xác mà quan trọng hơn là sự hòa hợp trong tâm linh. Vợ chồng phải có cùng chung đức tin, cùng chung sứ mệnh hay chính là mục đích sống. Khi đó thì hôn nhân sẽ thực sự được hạnh phúc bởi sự hòa hợp về tâm linh ảnh hưởng và mang đến sự gắn kết cho các khía cạnh khác của đời sống.
Câu 25 nói rằng: “Vả, A-đam và vợ, cả hai đều trần truồng mà chẳng hổ thẹn.” Cả A-đam và Ê-va khi đó chưa phạm tội nên họ được bao phủ bởi vinh hiển và sự tốt lành của ĐỨC CHÚA TRỜI. Vì vậy mà khi nhìn nhau họ chỉ thấy vinh hiển, tình yêu và sự tốt lành của NGÀI mà thôi. Họ không thấy sự trần truồng của nhau và không hổ thẹn.
Kết lại chúng ta có thể thấy xuyên suốt chương 2 là tình yêu của ĐỨC CHÚA TRỜI dành cho loài người. Chúng ta cùng đọc câu 8: “Đoạn, GIÊ-HÔ-VA ĐỨC CHÚA TRỜI lập một cảnh vườn tại Ê-đen, ở về hướng đông, và đặt người mà NGÀI vừa dựng nên ở đó.” Chúng ta thấy rằng tình yêu của ĐỨC CHÚA TRỜI bày tỏ từ đầu đến cuối chương 2. NGÀI tạo dựng nên con người là tạo vật duy nhất có hình ảnh của NGÀI để quản trị tất cả những tạo vật khác trong cõi sáng tạo. Có thể nói tất cả những tạo vật khác là để phục vụ con người. NGÀI tạo dựng vườn Ê-đen và đặt con người vào trong đó. Tại đó có đầy đủ sự cung ứng về mặt thuộc linh cũng như thuộc thể để con người được hạnh phúc. NGÀI ban cho con người điều răn thánh để giữ trật tự sự sống và sự tự do thật của con người. Rồi NGÀI ban sứ mệnh để cho cuộc đời con người có ý nghĩa, có mục đích. NGÀI lập hôn nhân để con người được hạnh phúc và thỏa lòng thực hiện sứ mệnh.
Tóm lại là con người chỉ được thực sự hạnh phúc khi ở trong vườn địa đàng Ê-đen nhưng bởi tội lỗi con người đã đánh mất nó. Tạ ơn ĐỨC CHÚA TRỜI vì NGÀI ban ĐỨC CHÚA GIÊ-XU CHRIST để con người có thể nhận lại Thiên Đàng. Thiên Đàng là nơi ĐỨC CHÚA TRỜI làm Vua. Khi chúng ta để ĐỨC CHÚA TRỜI làm Vua trong đời sống mình thì đó là Thiên Đàng và khi chúng ta rời khỏi cõi đời này chúng ta sẽ bước vào cõi đời đời là Thiên Đàng của ĐỨC CHÚA TRỜI. Ha-le-lui-ja! Cảm tạ ĐỨC CHÚA TRỜI vì tình yêu của NGÀI.
Tôi cảm tạ ơn CHÚA vì lời của NGÀI. Qua lời CHÚA tôi hiểu được cách làm thế nào để con người chúng ta thực sự được hạnh phúc. Trước đây tôi có những suy nghĩ hoàn toàn khác về hạnh phúc của con người. Tôi nghĩ rằng mình phải học thật giỏi để sau này có một công việc thật tốt, kiếm thật nhiều tiền. Sau đó bằng tiền bạc của mình tôi có thể giúp đỡ được bạn bè, những người thân, gia đình. Và vì vậy mà họ sẽ phải nể trọng tôi, tôi sẽ trở thành một con người có ảnh hưởng. Tiếp đó tôi sẽ phải có một người vợ trẻ đẹp, một gia đình hạnh phúc và những đứa con ngoan ngoãn, giỏi giang; để khi nhìn vào gia đình tôi người ta phải trầm trồ. Tôi nghĩ rằng đó mới là cuộc đời chứ, cuộc đời như vậy mới đáng sống chứ và phải như thế mới hạnh phúc. Từ những tư tưởng sai lầm đó dẫn đến những quyết định và việc làm sai lầm. Năm 2012 tôi trở về Việt Nam, và khi đó đức tin tôi rất tốt. Tôi học Kinh Thánh và tiếp nhận lời CHÚA một cách đơn sơ. Tôi được sang Hàn Quốc tham sự Đại Hội của Hội Thánh UBF mỗi 5 năm một lần vào năm 2011. Tôi được nhìn thấy nhiều điều, được học hỏi nhiều điều và đức tin có bước chuyển biến lớn. Tôi về Việt Nam với bao nhiệt huyết làm chứng cho gia đình và những người xung quanh. Tôi làm chứng cho bà, bố mẹ, bạn bè thân của tôi. Tôi đi nhiều nơi, gặp gỡ nhiều người, về Thanh Hóa, lên Phú Thọ, Bắc Giang, Thái Nguyên, Thái Bình. Có nhiều người tiếp nhận CHÚA qua tôi, mẹ tôi, cô tôi, anh chị họ của tôi, Điểm là bạn thân tôi. Tôi cùng với ông Tôn có đến gia đình của Điểm, làm chứng. Họ tiếp nhận CHÚA. Khi đó bà nội Điểm bị bệnh ung thư, tôi có kiêng ăn cầu nguyện cho sự chữa lành của bà và trong 2 hôm bà không dường như được chữa lành, không hề đau đớn như trước đó. Tôi cũng có gặp được ông nội của mình một vài lần. Tôi đã có nhiều cơ hội để làm chứng về CHÚA cho ông, dẫn ông đến Hội Thánh. Nhưng tôi sau tất cả những việc đó thì vướng vào tội lỗi và đánh mất hết những điều CHÚA làm. Tôi không tiếp tục chăm sóc những người đã tiếp nhận CHÚA. Tôi cũng không còn quan tâm và cầu nguyện cho họ. Bởi vì sự chú ý của tôi khi đó tập trung vào một chị em. Tôi đã nghĩ mình sẽ xây dựng hôn nhân với người chị em này và thế là tôi tập trung vào mối quan hệ tình cảm đó. Cuối cùng thì bà nội Điểm mất và đến tận khi bà chuẩn bị qua đời tôi mới xuống thăm bà thêm 1 lần và cầu nguyện cho bà. Sau đó tôi sang bên này thì một thời gian sau nhận tin ông nội tôi tự tử vì bế tắc trong nợ nần. Ở bên này tôi học xong và nhận bằng đại học. Trong khi đang học dở thạc sĩ kì thứ nhất thì tôi bỏ dở. Tôi quyết định đi làm, kiếm tiền và chuẩn bị tương lai của mình với người chị em kia. Khi đó tôi nghĩ vậy là đúng đắn vì tôi đang xây dựng hạnh phúc của mình. Nhưng giờ này đây qua lời CHÚA tôi ngồi nhìn lại thì nhận ra tội lỗi và sai lầm của mình. Kết quả là mối quan hệ của tôi với người chị em kia cũng đổ vỡ, tôi dồn hết sức lực của mình để đi làm kiếm tiền thì sau 2 năm thu được 1 đống nợ. Bởi tôi đã chọn sai, hạnh phúc không phải như vậy. Hạnh phúc là khi chúng ta ở trong Thiên Đàng, nơi mà ĐỨC CHÚA TRỜI làm Chủ. Hạnh phúc là khi chúng ta để ĐỨC CHÚA TRỜI tể trị trên đời sống của mình. Hạnh phúc là khi chúng ta thực hiện sứ mệnh mà CHÚA giao: đó là hầu việc CHÚA, rao giảng lời CHÚA, học Kinh Thánh. A-men! Tạ ơn CHÚA vì NGÀI cho tôi có cơ hội được hầu việc NGÀI, được học Kinh Thánh cùng các anh em. Mặc dù tôi không xứng đáng và còn nhiều tội lỗi nhưng tôi xin CHÚA giúp tôi ăn năn để NGÀI thay đổi tôi. Tôi cũng cầu xin CHÚA sử dụng tôi để mang lời NGÀI đến cho các anh em. Xin CHÚA giúp tôi luôn vui mừng, hạnh phúc khi thực hiện sứ mệnh mà CHÚA ban và lấy đó làm mục đích sống của mình. A-men!
Leave a Reply
Bạn phải đăng nhập để gửi phản hồi.