Câu khóa 1:14
Sách Tin lành theo Giăng khác hẳn so với 3 cuốn Tin lành khác. Các sách Tin lành khác tuần tự kể về cuộc đời của Chúa JESUS rồi đi đến kết luận Ngài là ĐỨC CHÚA TRỜI. Còn sách Tin lành Giăng bắt đầu bằng sự tuyên bố rằng Chúa JESUS chính là ĐỨC CHÚA TRỜI, rồi tuần tự chứng minh cho khẳng định này. Phương pháp chứng minh này được gọi là phương pháp quy nạp (inductiv). Bài học ngày hôm nay cho chúng ta biết Chúa JESUS là ĐỨC CHÚA TRỜI, Ngài đã giáng thế làm người để ban cho loài người sự sống, sự sáng, ân điển và chân lý. Cầu xin Chúa soi sáng Lời Ngài cho chúng ta qua bài giảng hôm nay. Amen.
- CHÚA JESUS LÀ ĐẤNG TẠO HÓA (1-5)
Tin lành theo Giăng được viết vào khoảng năm thứ 100 sau Công nguyên ở thành Ê-phê-sô. Vào lúc này Hội thánh không còn mang tính chất Do-thái cục bộ nữa. Đã có nhiều dân ngoại, người Hy-lạp gia nhập vào Hội thánh. Do đó Hội thánh cần phải rao giảng theo cách mới. Không có nghĩa là phải thay đổi những chân lý Kinh Thánh, nhưng cần phải bày tỏ chân lý theo cách hiểu mới. Ví dụ: một người Hy-lạp quan tâm đến Phúc Âm của Chúa, anh ta bắt đầu đọc Tin lành theo Ma-thi-ơ, và anh ta gặp phải một chương dài dằng dặc nói về gia phả của người Do-thái, hay là khái niệm về Đấng Messiah,… Đối với người Do-thái đây là những khái niệm rất dễ hiểu, nhưng đối với người Hy-lạp thì khó hiểu. Do đó sứ đồ Giăng tìm được cách giải quyết vô cùng khôn ngoan, mà con người có thể nghĩ ra. Và câu 1 cho chúng ta biết về sự khôn ngoan thiên thượng này.
Chúng ta cùng đọc câu 1: “ Ban đầu có Ngôi Lời, Ngôi Lời ở cùng Đức Chúa Trời, và Ngôi Lời là Đức Chúa Trời ”. Trước hết chúng ta nhớ rằng Tân Ước được viết bằng ngôn ngữ Hy-lạp. “Ngôi Lời” trong tiếng Hy-lạp là “logos”. Người Hy-lạp có 2 khái niệm triết học vĩ đại:
1/ khái niệm logos. Từ này có 2 nghĩa: “từ ngữ” (word) và “ý nghĩa, nguyên nhân, lý do” (arch-reason). Hy-lạp là cái nôi của triết học thế giới. Các nhà triết học Hy-lạp nhìn thấy có một trật tự, có những quy luật điều khiển trong thế giới. Do đó họ cho rằng chính logos là “lý trí siêu phàm, lý trí thần thánh” đã tạo nên vũ trụ và trật tự, là nguyên nhân khởi thủy của vũ trụ. Hay nói một cách khác trong tư duy của triết học Hy-lạp logos chính là Đấng Tạo Hóa. Sứ đồ Giăng dường như đang nói như sau: “Quý vị luôn suy tưởng về lý trí thần thánh vĩ đại này. Vậy giờ đây chính lý trí siêu nhiên đó đã giáng trần trong con người Jesus Christ. Quý vị hãy nhìn xem Ngài và quý vị sẽ nhìn thấy lý trí thần thánh vĩ đại là như thế nào!” Tin Lành theo Giăng cho một khái niệm mới để người Hy-lạp có thể hiểu rõ hơn về Chúa Jesus, là ĐỨC CHÚA TRỜI trong xác thịt. Chúng ta xem lại câu 1 “ Ban đầu có Ngôi Lời, Ngôi Lời ở cùng Đức Chúa Trời, và Ngôi Lời là Đức Chúa Trời ”. Và chúng ta xem câu 14: “Ngôi Lời đã trở nên xác thịt, ở giữa chúng ta, đầy ơn và lẽ thật; chúng ta đã ngắm xem sự vinh hiển của Ngài, thật như vinh hiển của Con một đến từ nơi Cha. ” Giờ đây chúng ta đã hiểu sứ đồ Giăng đang nói về điều gì. Ông đang nói: “Trước đây Chúa JESUS ở trên trời, Ngài là ĐỨC CHÚA TRỜI, và Ngài đã giáng thế làm người. JESUS Christ không phải là một con người bình thường. Ngài chính là ĐỨC CHÚA TRỜI”.
2/ khái niệm vĩ đại thứ 2 của người Hy-lạp là khái niệm về sự tồn tại của 2 thế giới. Theo họ, thế giới mà chúng ta đang sống thật tuyệt, tuy nhiên đó chỉ là thế giới của những hình bóng và sao chép, không thực. Còn thế giới thực đối với họ là nơi tồn tại những hiện thực vĩnh hằng vĩ đại, là thế giới vĩnh cửu. Đó chính là thế giới thần linh, Thiên đường, Nước ĐỨC CHÚA TRỜI. Chúa JESUS đã từng sống trong thế giới đó, trước khi đến thế giới của chúng ta. Ngài đến để giới thiệu về thế giới của Ngài và chỉ cho loài người cách để bước vào thế giới vĩnh hằng đó.
Chúng ta xem câu 3. “Muôn vật bởi Ngài làm nên, chẳng vật chi đã làm nên mà không bởi Ngài.” Câu Kinh Thánh này lại một lần nữa khẳng định Chúa JESUS là Đấng Tạo Hóa, muôn vật do Ngài làm nên. Mục đích tồn tại của tạo vật là vì vinh hiển của Đấng Tạo Hóa. Vì vậy danh JESUS phải được tôn cao hơn tất cả mọi danh. Mọi vinh hiển đều dâng lên cho Chúa JESUS!
Chúng ta xem câu 4. “Trong Ngài có sự sống, sự sống là sự sáng của loài người. ”
Trong câu Kinh Thánh này chứa đựng 3 khái niệm vĩ đại của Tin Lành theo Giăng: “sự sống”, “sự sáng” và “sự tối tăm”. Đây là 3 từ được nhắc đi nhắc lại nhiều lần trong sách Giăng.
Chúng ta xem xét khái niệm đầu tiên “trong Ngài có sự sống”. Ở đây từ “sự sống” có ý nghĩa như sau:
1/ sự sống của Chúa JESUS đối nghịch với sự phán xét và sự chết. Chúa JESUS xuống đời để cho không ai bị hư mất, mà được sự sống đời đời (3:16). Ai nghe Lời Ngài thì được sự sống đời đời, và không đến sự phán xét, song vượt khỏi sự chết mà đến sự sống (5:24-25). Người nào mà Chúa JESUS ban cho sự sống đời đời, thì sẽ không hề chết nữa (10:28). Người nào không tiếp nhận Chúa JESUS làm Cứu Chúa, làm Vua của mình, thì không thể được gọi là đang sống. Người nào sống không có Chúa, thì chỉ là đang tồn tại, và không biết sự sống thật.
Sự sống trong Chúa JESUS khác với sự sống trong loài người chúng ta. Sự sống của chúng ta không phải là sự sống thật, nó giống như bông hoa bị cắt khỏi gốc, trông còn tươi sống, nhưng thực ra đã chết, vì bị cắt khỏi gốc, lìa khỏi nguồn sự sống. Chúng ta không phải đang sống, thực ra chúng ta đang chết dần chết mòn. Tất cả nhân loại đang nằm dưới bóng tối của sự chết. Tất cả nhân loại đang tuyệt vọng dưới quyền lực của sự chết. Sự sống trong Chúa JESUS là sự sống thật, sự sống đời đời, sự sống sung mãn, dư dật.
2/ Sứ đồ Giăng tin chắc rằng Chúa JESUS là nguồn sự sống thật, sự sống đời đời và Chúa JESUS ban cho loài người sự sống đời đời.
3/ Ở đây chúng ta cần phải hỏi: vậy sự sống đời đời là gì? Sự sống đời đời là sự sống của ĐỨC CHÚA TRỜI, sự sống mà ĐỨC CHÚA TRỜI đang sống. Chúa JESUS xuống đời để mời gọi chúng ta bước vào và dự phần sự sống của ĐỨC CHÚA TRỜI. Đó là một đời sống dư dật, sung mãn, tràn đầy những trái quả tốt lành. Giăng 10:10 nói: “Kẻ trộm chỉ đến để cướp giết và hủy diệt; còn ta đã đến, hầu cho chiên được sự sống và được sự sống dư dật”.
4/Và câu hỏi lô-gích hợp lý ở đây là: làm thế nào để chúng ta có thể bước vào sự sống đó? Chúng ta bước vào sự sống đời đời nhờ đức tin vào Chúa JESUS Christ.
Chúng ta xem lại câu 4. “Trong Ngài có sự sống, sự sống là sự sáng của loài người.” Chúng ta xem xét khái niệm thứ 2 “sự sáng”. Sự sáng có 3 chức năng:
1/ Sự sáng xua đuổi sự tối tăm. Không ai có thể bằng sức mình xua đuổi và chiên thắng được sự tối tăm. Con người ở trong sự tối tăm của tội lỗi, sự chết, bệnh tật, buồn chán, tuyệt vọng, nghiện ngập,… và cố gắng quẫy đạp, mà không thể nào thoát ra được. Nhưng chỉ cần sự sáng đến, thì ngay lập tức sự tối tăm biến mất. Chúng ta không cần phải hết sức đấu tranh với sự tối tăm, chúng ta chỉ cần tiếp nhận sự sáng vào cuộc đời mình. Chúa JESUS là sự sáng thật, chỉ cần tiếp nhận Chúa JESUS vào đời mình, thì sự sáng của Chúa JESUS sẽ xua tan và tiêu diệt đi mọi sự tối tăm khỏi đời sống của chúng ta. Đây chính là ân điển, không bằng sức mình, mà bởi quyền năng của Chúa.
2/Sự sáng chỉ đường soi lối. Con người ở trong sự tối tăm trở nên mù lòa, và không biết mình phải làm gì, đi về đâu? Nhà văn Nga Nikolay Chernyshevsky cuối thể kỷ 19 để lại cuốn sách nổi tiếng “Phải làm gì đây?” («Что делать?» (1863) Chúa JESUS là Ngôi Lời đến để soi sáng cho con người biết: tôi là ai? Tôi từ đâu đến? tôi sống để làm gì? Và tôi sẽ đi về đâu? Không những vậy sự sáng của Chúa JESUS sẽ luôn luôn soi dẫn chúng ta trên mọi nẻo đường, trong mọi việc. Cùng với Chúa con đường của chúng ta trở nên rõ ràng.
3/Sự sáng soi xét. Những vết bẩn, hoặc khuyết tật trở nên rõ ràng dưới ánh sáng. Sự sáng của Chúa JESUS đến để chỉ ra tình trạng thật của từng người, giật bỏ mặt nạ hóa trang ra khỏi họ, và cho họ một cái gương chuẩn xác để họ nhìn thấy con người thật của mình. Con người chỉ nhìn thấy bộ mặt thật của mình, chỉ khi đứng trước Chúa JESUS. Con người hay nhìn thấy cái “tôi ảo”, vì họ hay đứng trước những người khác, so sánh mình với những người khác.
Những phước hạnh và quyền năng của sự sáng chúng ta có thể kinh nghiệm được, khi chúng ta tiếp nhận Chúa JESUS. Bởi vì Chúa JESUS là sự sống thật và là sự sáng thật.
Chúng ta xem câu 5. “Sự sáng soi trong tối tăm, tối tăm chẳng hề nhận lấy sự sáng”. Động từ “nhận lấy” có nghĩa “nhấn chìm, bao trùm, che khuất”. Tối tăm ở đây có 3 nghĩa:
1/ Sự tối tăm là kẻ thù của sự sáng. Sự tối tăm luôn tìm cách nhấn chìm, hủy diệt sự sáng. Nhưng tất cả sự tối tăm của thế gian cũng không thể che khuất được một đốm lửa nhỏ. Sự sáng sẽ chiến thắng sự tối tăm.
2/ Sự tối tăm tượng trưng cho tất cả những kẻ làm điều ác. Giăng 3:19-20 nói: “Vả, sự đoán xét đó là như vầy: sự sáng đã đến thế gian, mà người ta ưa sự tối tăm hơn sự sáng, vì việc làm của họ là xấu xa. Bởi vì phàm ai làm ác thì ghét sự sáng và không đến cùng sự sáng, e rằng công việc của mình phải trách móc chăng”. Những kẻ làm việc tội lỗi, xấu xa, độc ác, thì yêu sự tối tăm, và luôn tìm cách trốn tránh sự sáng, vì họ sợ sự sáng sẽ lật tẩy hết những mặt nạ che giấu và lột trần bộ mặt thật của họ ra.
3/Sự tối tăm tượng trưng cho sự ngu dốt, mù lòa thuộc linh. Nhiều người chối bỏ Chúa JESUS do sự thiếu hiểu biết và do ngu dốt thuộc linh. Đối với sứ đồ Giăng, cuộc sống không có Chúa JESUS là sống trong sự tối tăm.
Sự tối tăm luôn tìm cách nhấn chìm và che phủ sự sáng. Người ta tìm đủ mọi cách để tiêu diệt Tin lành của Chúa, để dập tắt sự sáng trong Đấng Christ. Nhưng trong mỗi thế hệ, sự sáng của Chúa JESUS lại cháy bùng lên và soi sáng cho nhân loại, bất kể mọi sự ngăn trở thù nghịch.
Chúng ta xem câu 6-8 “Có một người Đức Chúa Trời sai đến, tên là Giăng. 7Người đến để làm chứng, là làm chứng về sự sáng, hầu cho bởi người ai nấy đều tin. 8Chính người chẳng phải là sự sáng, song người phải làm chứng về sự sáng.” Giăng ở đây là Giăng Báp-tít nhà tiên tri cuối cùng của Cựu Ước. Ông đến để dọn đường và làm chứng cho Chúa JESUS. Qua đây chúng ta biết về vai trò quan trọng của những người làm chứng. Và chủ đề chính yếu của lời làm chứng luôn là sự sáng – là Chúa JESUS.
Chúng ta xem câu 9 “Sự sáng nầy là sự sáng thật, khi đến thế gian soi sáng mọi người”. Trong lịch sử nhân loại có tồn tại những ngọn đuốc sáng: Buddha, Socrates, Karl Marx, … Những vĩ nhân này đã từng chỉ đường rọi soi cho nhiều người. Nhưng đuốc có sáng đến mấy, rồi cũng phải lụi tàn. Sứ đồ Giăng tuyên bố: “Chúa JESUS là sự sáng thật”. Từ “thật” ở đây là “chân lý” (true). Chân lý có những tính chất như sau:
1/ duy nhất, chỉ có một; 2/ vĩnh hằng, đời đời, không thay đổi; 3/ tính phổ quát: nghĩa là sự sáng của Chúa JESUS soi sáng cho tất cả mọi con người trên thế gian này, không phụ thuộc vào giai cấp, địa vị xã hội, học vấn, giới tính, độ tuổi,…
Chúng ta xem câu 10 “Ngôi Lời ở thế gian, và thế gian đã làm nên bởi Ngài; nhưng thế gian chẳng từng nhìn biết Ngài”. Vào thời đó người ta chia thế giới ra làm 2 thể loại: dân Do-thái và dân ngoại. “Thế gian” ở đây tượng trưng cho dân ngoại. Đấng Tạo Hóa đã đến giữa thế gian, nhưng tạo vật của Ngài lại không nhìn thấy Ngài, dân ngoại không nhận biết Ngài. Tội lỗi của họ là ở trong sự tối tăm của mù lòa thuộc linh.
Chúng ta xem câu 11 “Ngài đã đến trong xứ mình, song dân mình chẳng hề nhận lấy”. “Xứ mình” tượng trưng cho dân Do-thái, là dân được ĐỨC CHÚA TRỜI chọn, là dân của Ngài. Nhưng dân Ngài lại không hề nhận Ngài. Tội lỗi của họ ở đây là họ nhìn thấy Ngài, nhận ra Ngài là Ai, nhưng không tiếp nhận Ngài, vì họ kiêu ngạo, ích kỷ và tham lam.
Chúng ta xem câu 12 “12Nhưng hễ ai đã nhận Ngài, thì Ngài ban cho quyền phép trở nên con cái Đức Chúa Trời, là ban cho những kẻ tin danh Ngài”. Câu Kinh Thánh này là cô đọng nội dung của Tin Lành. Tội nhân được đặc quyền trở thành con cái của ĐỨC CHÚA TRỜI nhờ tin và tiếp nhận Chúa JESUS. Điều kiện để được cứu rỗi vô cùng đơn giản và ân điển: tin và tiếp nhận. Không phải làm gì hết, không phải trả giá gì hết. Chỉ cần tin và tiếp nhận Chúa JESUS! Halleluijah!
Chúng ta xem câu 13 “là kẻ chẳng phải sanh bởi khí huyết, hoặc bởi tình dục, hoặc bởi ý người, nhưng sanh bởi Đức Chúa Trời vậy”. Chỉ ĐỨC CHÚA TRỜI mới sanh ra con cái của Ngài. Người ta thường hay mắc phải sai lầm khi nghĩ rằng con người có thể làm cho người khác thành con cái của ĐỨC CHÚA TRỜI. “Khí huyết” nghĩa là theo huyết thống. Con của mục sư không thể tự động automatic thành con cái Chúa được. Bố mẹ của Karl Marx là Cơ đốc nhân, nhưng con trai của họ là ông tổ của vô thần. Nhiều người lại nghĩ người ta cứ lấy vợ lấy chồng vô thần, rồi qua mối quan hệ tình dục thì vợ chồng được thánh hóa trở thành Cơ đốc nhân. Hoặc nhiều mục sư theo ý muốn của mình phục vụ con chiên, hòng biến họ thành Cơ đốc nhân, dạy họ hát Thánh ca, cầu nguyện. Bề ngoài có vẻ trông giống Cơ đốc nhân, nhưng bên trong tấm lòng vẫn không được tái sinh, không thay đổi. Bằng sức người tội nhân có thể theo đạo, trở thành “con chiên ngoan đạo”, nhưng không thể trở thành con cái của ĐỨC CHÚA TRỜI được. Chỉ khi tội nhân tin nhận Chúa JESUS thì mới được tái sanh làm con cái Đức Chúa Trời.
- NGÔI LỜI TRỞ NÊN XÁC THỊT (14-18)
Chúng ta xem câu 14 “Ngôi Lời đã trở nên xác thịt, ở giữa chúng ta, đầy ơn và lẽ thật; chúng ta đã ngắm xem sự vinh hiển của Ngài, thật như vinh hiển của Con một đến từ nơi Cha”. Đây là sự kiện Giáng Sinh theo Giăng: Ngôi Lời đã trở nên xác thịt. Điều này nói lên bản chất của Chúa JESUS: Ngài 100% là người, và Ngài 100% là ĐỨC CHÚA TRỜI. Ngài là người để trả một cái giá tương xứng cho con người chúng ta. Ngài là ĐỨC CHÚA TRỜI nên Ngài thánh khiết vô tội, do đó trên thập tự giá Ngài chết không phải vì tội lỗi của Ngài, Ngài vô tội, mà là đền tội cho chúng ta. Cái chết của Ngài là chết thay, Ngài thế chỗ của chúng ta: của tôi và của anh chị em.
Đức Chúa Trời đã giáng thế làm người, để sống giữa chúng ta. Đây là sự khiêm nhường hạ mình của Chúa JESUS, Ngài đã hy sinh tất cả địa vị, vinh hiển để trở thành một con người như chúng ta, chịu đau ốm bệnh tật đói nghèo. Chúa JESUS là Chúa của sự khiêm nhường nhu mì.
Trong câu 14 chúng ta lại nhận biết thêm 3 khái niệm vĩ đại của Cơ đốc giáo: “ân điển”, “lẽ thật” và “vinh hiển”.
1/ Từ “ân điển” có nghĩa là món quà mà người nhận không xứng đáng được nhận. Loài người tội lỗi ở trong tình trạng chống nghịch lại ĐỨC CHÚA TRỜI, là kẻ thù của Ngài. Nhưng chính Ngài đã hạ mình đến sống cùng con người – đó là ân điển. Và Ngài ban cho tội nhân món quà cứu rỗi một cách nhưng không – theo ân điển vĩ đại của Ngài.
2/ “Lẽ thật” ở đây là chân lý. Chúa Jesus là chân lý (14:6). Để nhận biết được chân lý cần phải nhìn lên Chúa JESUS. Chúa JESUS đến để bày tỏ 2 “lẽ thật”: lẽ thật về chúng ta, và lẽ thật của ĐỨC CHÚA TRỜI. Lẽ thật về chúng ta là chúng ta là tội nhân, xứng đáng trừng phạt đời đời ở hỏa ngục. Lẽ thật về ĐỨC CHÚA TRỜI là Ngài yêu thương chúng ta, Ngài muốn tha tội cho chúng ta và ban cho chúng ta sự cứu rỗi. Con người nếu không nhận biết lẽ thật, thì sẽ không thể nào hiểu được ân điển là gì.
3/”Vinh hiển” nói về bản chất, quyền năng. Sứ đồ Giăng đã trải nghiệm vinh hiển của Chúa JESUS và nhận biết rằng bản chất thật của Ngài là Đức Chúa Trời.
Chúng ta cùng xem câu 15-17 “Giăng làm chứng về Ngài khi kêu lên rằng: Ấy là về Ngài mà ta đã nói: Đấng đến sau ta trổi hơn ta, vì Ngài vốn trước ta. Vả, bởi sự đầy dẫy của Ngài mà chúng ta đều có nhận được, và ơn càng thêm ơn. Vì luật pháp đã ban cho bởi Môi-se, còn ơn và lẽ thật bởi Đức Chúa Jêsus Christ mà đến”. Đời sống trong Chúa JESUS đầy dẫy ân điển và chân lý.
Chúng ta cùng xem câu 18 “18Chẳng hề ai thấy Đức Chúa Trời; chỉ Con một ở trong lòng Cha, là Đấng đã giải bày Cha cho chúng ta biết”. Có người nói: nếu muốn biết ĐỨC CHÚA TRỜI , hãy nhìn vào Chúa JESUS. Trước Chúa JESUS người ta nghĩ rằng ĐỨC CHÚA TRỜI là Đấng luôn tìm cách trừng phạt tội lỗi, có cảm tưởng dường như Ngài luôn soi xét và chờ xem chúng ta phạm tội gì để trừng phạt. Do đó tội nhân luôn sống trong sự sợ hãi và không dám đến gần Chúa để ăn năn. Người Pha-ri-si hiểu sai như vậy về ĐỨC CHÚA TRỜI nên họ luôn tìm cách bắt lỗi người khác, và họ cho rằng đó là sự hầu việc Đức Chúa Trời.
Chúa JESUS đến để bày tỏ một sự thật hoàn toàn khác về ĐỨC CHÚA TRỜI: Đức Chúa Trời là tình yêu thương, Ngài không muốn tội nhân bị hư mất, mà muốn tội nhân được tha tội, được sống đời đời. Ngài yêu quý con người đến mức độ mà hy sinh Con Một của Ngài để con người được ở đời đời cạnh Ngài trong Vương quốc của Ngài. Halleluijah!
Leave a Reply
Bạn phải đăng nhập để gửi phản hồi.