CHÚA JESUS ĐẾN ĐỂ KÊU GỌI TỘI NHÂN (Mác 2:1-17)

Trong sách Mác chương 2 kể về 2 sự kiện nối tiếp trong cùng một phân đoạn Kinh Thánh. Trong phân đoạn này tác giả nêu ra 2 tuýp tội nhân tiêu biểu điển hình trong xã hội loài người: tội nhân thụ động và tội nhân tài năng tích cực, để mỗi người soi mình và thấy mình trong đó. Tác giả muốn nói về mục đích Chúa JESUS đến thế gian để kêu gọi và cứu tất cả các tội nhân. Xin Chúa ban phước cho tất cả chúng ta để chúng ta thấy mình qua Lời Chúa và có đức tin đến với Chúa JESUS để được cứu rỗi. Amen.

1.     Chúa tha tội cho người bại liệt (1-12)

Chúng ta cùng xem câu 1-2 “1Khỏi một vài ngày, Đức Chúa Jêsus trở vào thành Ca-bê-na-um, và chúng nghe nói Ngài ở trong nhà. 2Họ họp lại tại đó đông lắm, đến nỗi trước cửa cũng không còn chỗ trống; Ngài giảng đạo cho họ nghe. ”. Chúa JESUS giảng dạy Lời ĐỨC CHÚA TRỜI ở mọi lúc mọi nơi. Chúng ta thấy đây là công việc quan trọng nhất, chiếm vị trí chính yếu nhất trong chức vụ của Chúa JESUS. Mặc dù nhân loại có vô vàn các nan đề khác nhau: bệnh tật, tài chính, hôn nhân, tệ nạn xã hội, nghiện ngập,… nhưng Chúa JESUS không giải quyết những nan đề này trước tiên. Bởi vì nan đề chính yếu, gốc rễ của cả nhân loại là quyền lực của sự tối tăm, quyền lực của tội lỗi và sự chết. Chỉ Lời Chúa mới chỉ ra cho con người nhận biết được chân lý này, chỉ Lời Chúa mới giải quyết được nan đề chính yếu, và trong Lời Chúa có chìa khoá để giải quyết mọi nan đề.

Khi Chúa JESUS giảng dạy Lời ĐỨC CHÚA TRỜI, thì dân chúng nhóm lại rất đông để nghe Ngài. Qua đây chúng ta thấy dân chúng luôn luôn có nhu cầu thuộc linh tìm kiếm chân lý. Cần có những người chăn chiên hiền lành có tấm lòng yêu thương đối với chiên, và giảng dạy Lời Chúa đúng đắn. Khi đó chính ĐỨC CHÚA TRỜI sẽ đem chiên của Ngài để giao cho những người chăn chiên giống Chúa JESUS.

Chúng ta cùng xem câu 3 “3Bấy giờ có mấy kẻ đem tới cho Ngài một người đau bại, có bốn người khiêng”. Chúng ta cùng suy nghĩ về bốn người bạn này. Ở đời người ta chọn bạn để chơi phải cùng đẳng cấp, lấy vợ lấy chồng thì phải môn đăng hộ đối. Không ai muốn làm bạn với một người bại liệt, không ai muốn hạ mình xuống để đem sự cảm thông và chân thành chia sẻ với một người thừa, yếu thế trong xã hội. Nhưng ở đây chúng ta thấy một tình bạn chân thành. Họ không bỏ bạn  mình trong bệnh tật, mà khi nghe tin về Chúa JESUS, họ đã có đức tin rằng nếu họ đem bạn mình đến với Chúa JESUS, thì chắc chắn Chúa sẽ cứu và thay đổi số phận của bạn mình. Nên họ đã không nề hà, bỏ việc, bỏ thời gian để đem bạn đến với Chúa JESUS. Tình bạn thật – đó là đem bạn mình đến với Chúa JESUS để bạn được cứu.

Chúng ta cùng xem câu 4 “4Nhưng, vì đông người, không lại gần Ngài được, nên dở mái nhà ngay chỗ Ngài ngồi, rồi do lỗ đó dòng giường người bại nằm xuống.” Mái nhà ở xứ Israel bằng phẳng, là nơi để nghỉ ngơi, được lợp bằng những thanh gỗ bắc từ đầu này sang đầu kia, cách nhau khoảng 1m. Giữa các thanh gỗ người ta trát bằng rơm trộn đất sét. Rồi được trát bằng một lớp vôi. Nhiều khi cỏ mọc um tùm trên mái nhà. 4 người bạn gặp trở ngại, đã trèo lên mái nhà, đục một cái lỗ, và dòng người bại liệt xuống ngay trước mặt Chúa JESUS. Họ đã làm một việc rất mất văn hoá và có thể nói đã vi phạm Điều 143 luật hình sự, vì tội phá hoại tài sản của người khác. Nhưng vì để cứu bạn, họ đã mạo hiểm hy sinh mình. Chúng ta thấy có một việc luôn xảy ra dường như trở thành một quy luật là: khi một người nào đó muốn đến với Chúa JESUS, ngay lập tức anh ta sẽ gặp phải các nan đề và cản trở. Đức tin đó là bằng mọi cách vượt qua các cản trở để đến được với Chúa JESUS. Bởi đức tin họ đã trèo lên mái nhà, vì họ tin rằng Chúa JESUS sẽ ban phước cho hành động đức tin của họ.

Chúng ta cùng xem câu “5Đức Chúa Jêsus thấy đức tin họ, bèn phán cùng kẻ bại rằng: Hỡi con ta, tội lỗi ngươi đã được tha”. Câu Kinh thánh này là bản chất của Tin Lành. 1/ Trước đây tôi đã nghĩ người bại liệt nằm một chỗ thì làm gì mà nên tội. Nhưng Chúa JESUS phán rằng anh ta là tội nhân kinh khủng đáng bị trừng phạt đời đời ở hoả ngục. Chúa nói rằng nan đề căn bản của người bại liệt không phải bệnh tật, mà là tội lỗi. Trước khi nhận được chữa lành, điều quan trọng hơn hết con người cần phải nhận được sự tha tội và sự cứu rỗi. Có thể người bại liệt chưa làm điều gì khủng khiếp kiểu như giết người cướp của. Nhưng bệnh tật của anh ta có thể gây nên những tội lỗi trong tâm hồn, trong suy nghĩ của anh ta. Anh ta có thể phạm tội than vãn, trách móc: “Trời ơi, sao tôi lại khổ thế này, sao bố mẹ sinh ra tôi làm gì”. Có thể đó là tội vô ơn, thay vì cảm ơn bố mẹ người thân vẫn chịu đựng, quan tâm, chăm sóc mình, thì lại tiếp nhận việc đó như là một chuyện hiển nhiên. Rồi anh ta có thể bi quan, buồn chán, thất vọng và sống trong tăm tối, tủi hờn. Anh ta có thể mắc bệnh mặc cảm tự ti, khi nhìn thấy những người bạn lành lặn chơi đá bóng, đi dạo công viên mà không rủ anh ta đi, sau đó lại còn post ảnh lên facebook. Anh ta có thể bị cô đơn gặm nhấm tâm hồn. Anh ta rõ ràng mắc phải bệnh phụ thuộc, anh ta không thể tự mình làm bất cứ điều gì, mà phải luôn nhờ vả người khác. Và tội lỗi chính yếu nhất là anh ta không sống đúng mục đích, anh ta không dâng vinh hiển cho ĐỨC CHÚA TRỜI. Như vậy chúng ta thấy vì bệnh tật tâm hồn anh ta trở nên tăm tối. Người bại liệt tượng trưng cho tuýp tội nhân điển hình thứ nhất trong xã hội: tuýp tội nhân thụ động, bi quan, yếm thế.

2/ Chúa JESUS không nhìn vào hành động của họ, Chúa không phán xét họ tại sao lại phá hoại tài sản người khác. Chúa nhìn vào đức tin. Họ có đức tin nơi Chúa JESUS, họ đã nghe về Chúa, nghe rằng Chúa là Đấng Cứu Thế, Đấng Messiah mà ĐỨC CHÚA TRỜI hứa ban. Họ nghe về những công việc của Ngài, về tình yêu của Ngài đối với tội nhân, rằng Ngài tiếp nhận tất cả những ai đến với Ngài bởi đức tin. Họ đã tin vào Ngài, rằng Ngài sẽ tiếp nhận họ và Ngài sẽ chữa lành cho bạn của họ. Khi Chúa nhìn thấy đức tin của họ Ngài phán: “Hỡi con ta, tội lỗi ngươi đã được tha”. Chúa tha tội bởi đức tin. Ngài gọi kẻ bệnh là “con ta”, điều đó cũng đồng nghĩa là người bại liệt nhận được sự cứu rỗi, và địa vị của anh ta bây giờ là con cái của ĐỨC CHÚA TRỜI. Chúng ta nhận được sự cứu rỗi một cách nhưng không, chỉ bởi đức tin. Khi chúng ta đến với Chúa JESUS, Ngài không nhìn vào quá khứ, hình thức, học vấn, nền tảng giáo dục, sắc tộc, Ngài không phán xét chúng ta vì những tội lỗi và sai lầm trong quá khứ. Ngài chỉ nhìn vào đức tin hiện tại của chúng ta.

Chúng ta cùng xem câu “6Vả, có mấy thầy thông giáo ngồi đó, nghĩ thầm rằng: 7Sao người nầy nói như vậy? Người nói phạm thượng đó! Ngoài một mình Đức Chúa Trời, còn có ai tha tội được chăng?” Câu này khẳng định rằng chỉ Đức Chúa Trời mới có quyền tha tội. Khi Chúa JESUS phán tha tội cho người bại liệt, điều đó cũng đồng nghĩa với việc Ngài là ĐỨC CHÚA TRỜI.

Chúng ta cùng xem câu “8Đức Chúa Jêsus trong trí đã hiểu họ tự nghĩ như vậy, tức thì phán rằng: Sao các ngươi bàn luận trong lòng thể ấy? 9Nay bảo kẻ bại rằng: Tội ngươi đã được tha; hay là bảo người rằng:; hai điều ấy điều nào dễ hơn?” Bất kể ai cũng có thể nói với kẻ bại liệt: “Tội ngươi đã được tha”, vì điều đó không thể kiểm chứng được. Nhưng nếu bảo với kẻ bại liệt: “Hãy đứng dậy vác giường mà đi”, là điều ngay lập tức được kiểm chứng trước mắt mọi người để chứng minh hoặc lật đổ điều vừa được tuyên bố. Để chứng minh rằng Chúa JESUS có quyền tha tội, Ngài đã phán ra điều khó hơn, và nếu điều đó không xảy ra, thì chứng tỏ Chúa JESUS là một kẻ lừa dối. Chúng ta cùng xem câu “10Vả, để cho các ngươi biết Con người ở thế gian có quyền tha tội, thì Ngài phán cùng kẻ bại rằng: 11Ta biểu ngươi, hãy đứng dậy, vác giường đi về nhà”. Chuyện gì đã xảy ra khi Lời Chúa được phán ra?

Chúng ta cùng xem câu “12Kẻ bại đứng dậy, tức thì vác giường đi ra trước mặt thiên hạ; đến nỗi ai nấy đều lấy làm lạ, ngợi khen Đức Chúa Trời, mà rằng: Chúng tôi chưa hề thấy việc thể nầy”. Phép lạ đã xảy ra để chứng minh rằng Chúa JESUS là ĐỨC CHÚA TRỜI và Ngài có quyền tha tội. Và Ngài tha tội khi nhìn thấy đức tin của tội nhân. Qua đây chúng ta biết rằng sự tha tội thật sự có thật và có quyền năng thật sự thay đổi tội nhân. Nhiều người làm chứng họ nhận được sự chữa lành và sức khoẻ siêu nhiên khi họ ăn năn và được Chúa tha tội. Nhiều hôn nhân được chữa lành và khi vợ chồng ăn năn Chúa đổ tình yêu thiên thượng vào lòng để họ yêu thương nhau như chưa từng yêu như vậy. Cách đây 16 năm trước tôi ăn năn và được Chúa tha tội. Tôi cảm nhận được là dường như có một gánh nặng 5 tấn được cất khỏi tâm hồn tôi, tầm hồn luôn phơi phới, ý nghĩ trở nên trong sạch và rõ ràng. Trong vòng hơn 1 năm tôi dường như lúc nào cũng bay nhảy như con chim vì lòng rất nhẹ nhàng. Sự tha tội của Chúa JESUS thật sự có quyền năng.

Trong số chúng ta không có ai bị bệnh bại liệt, nhưng nếu chúng ta sa vào tội lỗi và thời gian lâu trôi qua, chúng ta cứ ăn năn và lại nằm trong hố sâu của tội lỗi, thì chúng ta đang mắc bệnh bại liệt tâm hồn. Có ai đang rơi vào tình trạng lười biếng thuộc linh, chỉ muốn làm theo những sự tham muốn của xác thịt, thì người đó cũng đang trong tình trạng giống người bệnh bại liệt… Xin Chúa khải thị cho chúng ta nhìn thấy những căn bệnh bại liệt trong chúng ta, để chúng ta đến với Chúa JESUS, và Ngài sẽ tha tội và cứu chúng ta. Ngày hôm nay Chúa đang phán với chúng ta: “Hỡi con ta, tội lỗi ngươi đã được tha hãy đứng dậy, vác giường đi về nhà”.

2. Chúa phán với Lê-vi “hãy theo ta” (13-17)

Chúng ta xem câu 13 “ 13Bấy giờ, Đức Chúa Jêsus lại trở về phía mé biển; cả dân chúng đến cùng Ngài, rồi Ngài dạy dỗ họ.” Lại một lần nữa ở đây chúng ta thấy công việc chính yếu của Chúa JESUS là giảng dạy Lời ĐỨC CHÚA TRỜI. Chúng ta thấy Chúa làm nhiều phép lạ, Ngài chữa lành mọi bệnh tật, Ngài đuổi quỷ, hoá bánh, làm người chết sống lại… Nhưng tất cả những phép lạ là để giúp cho người ta tin Ngài là Đấng Christ, và tin vào những lời Ngài rao giảng, và kết quả của đức tin đó là vâng phục làm theo lời Ngài. Trong chức vụ chúng ta rất cần quyền năng của Chúa để chinh phục tội nhân, nhưng những phép lạ không phải là nền tảng cho đức tin. Nhiều người nói: “tôi phải thấy phép lạ rồi mới tin”, nhưng chúng ta đọc trong Lu-ca chương 16 “30Người giàu nói rằng: Thưa Áp-ra-ham tổ tôi, không phải vậy đâu; nhưng nếu có kẻ chết sống lại đến cùng họ, thì họ sẽ ăn năn. 31Song Áp-ra-ham rằng: Nếu không nghe Môi-se và các đấng tiên tri, thì dầu có ai từ kẻ chết sống lại, chúng nó cũng chẳng tin vậy.” Đức tin thật đặt nền trên sự vâng phục lời ĐỨC CHÚA TRỜI.

Chúng ta xem câu “14Ngài vừa đi qua thấy Lê-vi, con A-phê, đang ngồi tại sở thâu thuế, thì phán cùng người rằng: Hãy theo ta. Người đứng dậy theo Ngài ”. Chúng ta suy nghĩ một chút về Lê-vi. Lê-vi là một người thu thuế. Vào thời Chúa JESUS tất cả những trục giao thông chính yếu của thế giới cổ đại đều đi qua xứ Ga-li-lê. Trục giao thông dọc theo mé biển, nối từ Đa-mascus đến Ai-cập đi qua Ga-li-lê. Con trai của vua Hê-rốt Đại Đế là Hê-rốt Antipa tể trị ở vùng Ga-li-lê. Ca-bê-na-um là thành phố giáp biên với những lãnh địa khác, nên hiển nhiên sở thuế hải quan được đặt ở đây. Và Lê-vi là người thu thuế đặc vụ của cơ quan này.

Trong thời Chúa Giê-xu, thu thuế là một trong những nghề bị xã hội ghét bỏ miệt thị và coi thường. Dân tình thường không hề biết là mức thuế chính xác phải trả là bao nhiêu, cho nên những kẻ thu thuế cố gắng hết mức để có thể moi được bao nhiêu tiền, rồi nộp một phần vào ngân khố, còn thừa lại bao nhiêu thì cho vào túi riêng của mình. Người thu thuế bị kể chung với “kẻ có tội” (c. 16) và “phường đĩ điếm” (Ma-thi-ơ 21:31). Ở Israel có câu ngạn ngữ: “trên núi có chó sói, còn trong thành phố có kẻ thu thuế”. Người ta miệt thị, khinh ghét Lê-vi vì nghề nghiệp của anh ta. Thế nên tuy có tiền nhưng anh ta sống trong cô đơn, không có sự tôn trọng, không có bạn bè, xã hội không chấp nhận. Có thể nói Ma-thi-ơ cũng chẳng hơn gì người mắc bệnh phung hủi bị mọi người xa lánh ghẻ lạnh.

Thế nhưng tuy biết nghề thu thuế bị khinh miệt như vậy, tại sao Lê-vi lại vẫn trở thành người thu thuế? Chúng ta phải biết Lê-vi là một người rất thông minh, có trình độ học vấn cao. Vì chính quyền phải chọn ra những con người ưu tú để đặt vào chỗ rất quan trọng như sở thuế hải quan. Mặc dù rất ưu tú, nhưng Lê-vi không có mục đích sống đích thực, không có hướng đi đúng cho cuộc đời. Anh ta muốn chọn cho mình một mục đích sống, để anh có thể đầu tư tài năng, sức lực, tuổi trẻ vào đó. Nhưng không ai nói cho anh ta biết. Anh ta nhìn ra xung quanh, và thấy rằng đa số sống để kiếm tiền làm giàu và sống để thoả mãn ham muốn xác thịt. Và thế là anh ta cũng tiếp nhận điều đó là mục đích sống cho mình. Để kiếm tiền nhiều và nhanh thì chỉ có thu thuế là tốt nhất, nên anh ta đã gửi CV bộ hồ sơ xin việc đến sở thuế. Người ta nhanh chóng nhận Lê-vi vào làm việc vì nhìn thấy tài năng và sự thông minh của anh ta. Lê-vi với sự nhanh nhạy, thông minh thăng tiến nhanh trong công việc. Anh ta rất hiệu quả và được lòng cấp trên. Nhưng đối với đồng bào của mình, Lê-vi trở thành kẻ thù. Không có ai làm bạn với anh ta. Người ta khinh bỉ anh ta. Lúc đầu lương tâm cũng day dứt, nhưng rồi đâm lao phải theo lao, anh ta càng trở nên tàn nhẫn hơn trong việc thu thuế. Anh ta xây nhà đẹp, mua xe đẹp, thường xuyên tụ tập nhậu nhẹt. Nhưng những chuyện đó không khoả lấp được sự cô đơn và tuyệt vọng trong tâm hồn. Tâm hồn của anh ta khao khát được đổi đời, khao khát được giải thoát. Khi Chúa JESUS nhìn thấy anh ta, có nghĩa là Chúa nhìn thấy sự đau đớn của tâm hồn và Chúa biết anh ta cần gì, Chúa biết những nan đề của anh anh ta. Chúa Giê-xu đã đến, gọi một người bị xã hội ruồng bỏ như anh ta làm môn đệ của Ngài.

Chúa phán: “Hãy theo ta”. “Hãy theo ta” đồng nghĩa với việc được tha tội và nhận được sự cứu rỗi và đồng một lúc nhận được sự kêu gọi. “Hãy theo ta” nghĩa là trở thành môn đệ của Chúa Jesus, học và sống theo Lời dạy của Ngài. “Hãy theo ta” là từ bỏ quá khứ tội lỗi cũ và bắt đầu cuộc đời mới. Lời Chúa JESUS mang đến sự đổi mới và tái sanh cho Lê-vi. Thực ra Lê-vi rất muốn đoạn tuyệt vứt bỏ đời sống tội lỗi cũ, nhưng mặc cảm không buông tha anh ta. Chỉ khi trở thành môn đệ của Chúa JESUS thì Lê-vi mới được giải thoát khỏi mặc cảm của quá khứ tội lỗi. Vì khi con người cũ của Lê-vi đồng chết và đồng chôn cùng Chúa JESUS, và khi Chúa phục sinh thì Lê-vi cũng phục sinh thành một con người mới Ma-thi-ơ. Chỉ Chúa JESUS mới yêu thương tiếp nhận một kẻ thu thuế như Lê-vi. Lời của Chúa JESUS “hãy theo Ta” đem đến sự giải thoát. Vì vậy Lê-vi sau khi nghe lời mời gọi của CHúa, anh ta ngay lập tức biết đây là cơ hội nhận được sự cứu rỗi, cơ hội đổi đời. Anh ta quyết định ngay lập tức. Rõ ràng là Lê-vi đã quá chán ngán đời sống cũ rồi. Tin lành theo Lu-ca chép rõ hơn (5:28) rằng Lê-vi bỏ lại hết, kể cả túi tiền, để theo Chúa.

Lê-vi đứng dậy theo Chúa. Có thể nói, quyết định theo Chúa của Lê-vi khó hơn quyết định của các ngư phủ Phi-e-rơ, Anh-rê, Giăng và Gia-cơ. Vì các ngư phủ còn có thể trở lại với nghề cũ, riêng Lê-vi, một khi đã theo Chúa, không thể trở lại với nghề thu thuế được nữa. Theo Chúa là một quyết định dấn thân, anh ta đã từ bỏ tất cả: đời sống cũ, công việc, tiền bạc để theo Ngài. Cũng vậy chúng ta không thể cùng một thời điểm bước đi trên hai con đường, chúng ta không thể theo Chúa nửa vời được, theo Chúa là từ bỏ đời sống cũ, đời sống tội lỗi, những ham muốn, những lý tưởng của thế gian, để dấn thân và hết lòng theo Chúa đến cuối cùng.

Giả sử như Lê-vi không theo Chúa thì điều gì xảy ra? có lẽ anh ta rất giầu có, có nhiều tiền, nhưng bị mọi người khinh ghét nguyền rủa, rồi cuối cùng đi vào quên lãng như bao nhiêu người thâu thuế khác. Nhưng Lê-vi đã theo Chúa, ngay lập tức anh được tha tội và được cứu và Chúa đã sử dụng trình độ học vấn của anh để viết nên Phúc âm Ma-thi-ơ, là Phuc âm duy nhất chép đầy đủ Bài giảng trên núi nổi tiếng của Chúa JESUS. Ông đã bỏ việc nhỏ để làm việc lớn và được lưu danh muôn thuở. Một cuộc đời có giá trị vì đã theo Chúa. Theo Chúa phải dấn thân phải phải trả giá nhưng phần thưởng của người theo Chúa không có gì trên đời này có thể đổi lại được.

Chúng ta xem câu “15Đức Chúa Jêsus đang ngồi ăn tại nhà Lê-vi, có nhiều người thâu thuế và kẻ có tội đồng bàn với Ngài và môn đồ Ngài; vì trong bọn đó có nhiều kẻ theo Ngài rồi.” Ở đây chúng ta thấy Lê-vi đã thay đổi, anh ta bắt đầu sống ban cho. Một kẻ ích kỷ trước kia chỉ nghĩ đến mình, bây giờ làm một bữa tiệc thịnh soạn, mời những người đồng nghiệp và đĩ điếm đến để họ cũng gặp được Chúa JESUS. Bức tranh Chúa JESUS ngồi ăn cùng bàn với những kẻ thâu thuế và đĩ điếm là tượng trưng cho Nước Thiên đàng. Ở trên đó những tội nhân như chúng ta sẽ được ngồi cùng bàn với Cha của chúng ta là ĐỨC CHÚA TRỜI thánh khiết.

Chúng ta xem câu “16Các thầy thông giáo thuộc phe Pha-ri-si thấy Ngài ăn với bọn thâu thuế và kẻ phạm tội, thì nói với môn đồ Ngài rằng: Người cùng ăn với kẻ thâu thuế và kẻ có tội sao! ” Những lãnh đạo tôn giáo nghe thấy tiếng ca hát vui vẻ, ngửi thấy mùi thịt nướng shashlyk thơm điếc mũi, thì đi xem chuyện gì xảy ra. Họ thấy Chúa JESUS ở cùng với phường đĩ điếm và kẻ thu thuế, thì phán xét Chúa. Tại sao họ lại phán xét Chúa? Vì theo quan điểm của họ, tội nhân chỉ là nhiên liệu dành cho hoả ngục, những kẻ như Lê-vi không thể thay đổi được. Người Nga có câu ngạn ngữ: “Chỉ có nấm mồ mới sửa được bệnh gù lưng”.

Chúng ta xem câu “17Đức Chúa Jêsus nghe vậy, bèn phán cùng họ rằng: Chẳng phải kẻ mạnh khỏe cần thầy thuốc đâu, nhưng là kẻ có bịnh; ta chẳng phải đến gọi người công bình, nhưng gọi kẻ có tội”. Đối lập với những thầy thông giáo, Chúa JESUS coi tội nhân là những kẻ có bệnh. Khi bệnh nhân được chữa trị thì trở thành người khỏe mạnh bình thường. Chỉ người có bệnh mới tìm đến với bác sỹ để chữa bệnh. Tuy nhiên có nhiều bệnh nhân, do không biết mình có bệnh, hoặc cho rằng mình không cần đến bác sỹ thì không đến với bác sỹ. Cũng như vậy Chúa JESUS nói rằng chỉ những ai công nhận mình có tội, mới tìm đến với Chúa JESUS để nhận được sự tha tội. Tội nhân khi gặp được Chúa JESUS sẽ được thay đổi và trở thành những con người mới.

Chúa JESUS đến để kêu gọi tội nhân, để tha tội cho họ, vì Ngài có quyền tha tội, vì Ngài chính là ĐỨC CHÚA TRỜI. Ngài đã dâng chính mình làm Chiên con sinh tế làm của lễ chuộc tội cho toàn nhân loại. Trên thập tự giá Ngài đã đánh đổi sự sống của Mình để chuộc tội cho chúng ta. Và Ngài đã chịu chôn. Đến ngày thứ ba Ngài sống lại từ cõi chết, để ban cho chúng ta quyền năng Phục sinh. Bất kể ai có tội lỗi gì, bệnh tật gì, cứ đến với Ngài bằng đức tin, sẽ nhận được sự tha tội, được địa vị làm con cái ĐỨC CHÚA TRỜI và sẽ có đời sống mới. Amen.

Be the first to comment

Leave a Reply