16:25 “Lối nửa đêm, Phao-lô và Si-la đang cầu nguyện, hát ngợi khen Đức Chúa Trời; và những tù phạm đều nghe. 26Thình lình, có cơn động đất rất lớn, đến nỗi nền ngục rúng động; cùng một lúc, các cửa mở ra, xiềng tù phạm thảy đều tháo cả.”
Phân đoạn Kinh thánh ngày hôm nay kể về chuyện xảy ra trong chuyến truyền giáo ở thành Philipp, là thành đầu tiên của châu Âu khi Paul thực hiện chuyến truyền giáo thứ hai vào khoảng năm 49-50.
Chúng ta xem câu 16-18. Lúc đó có một người hầu gái bị quỷ ám. Quỷ này cứ đi theo các nhà truyền giáo và lớn tiếng “quảng cáo” cho công việc truyền giảng: “Những người đó là đầy tớ của Đức Chúa Trời Rất Cao, rao truyền cho các ngươi đạo cứu rỗi.” Chúng ta thấy cô gái này nói rất đúng sự thật, tuy nhiên sự thật đó lại không đến từ Đức Thánh Linh. Do đâu chúng ta biết được? Bởi vì những lời nói sự thật này không gây dựng, mà đem đến sự cực lòng. Có những sự thật mà nếu nói ra không gây dựng, ngược lại đem đến sự phá hoại đức tin, gây nên lộn lạo trong hội thánh, không đem lại vinh hiển cho Chúa, thì tốt hơn là không nên nói.
Nhưng tại sao Paul lại không đuổi quỷ ngay lập tức? Mặc dù đã được báp-têm Thánh Linh và nhận được quyền năng và ân tứ Thánh Linh để đuổi quỷ, nhưng Paul không làm theo ý riêng thực hành đuổi quỷ lung tung. Một số nhà truyền đạo cứ thấy người khác ngủ gật trong buổi nhóm thì cho rằng việc đó xảy ra do tà linh buồn ngủ, nhưng thực ra là có thể do thiếu cà-phê. Paul chờ đợi và cầu nguyện để Đức Thánh Linh ban cho ân tứ phân biệt các thần. Cơ đốc nhân cần phải hoàn toàn phụ thuộc vào sự dẫn dắt của Đức Thánh Linh và nhờ cậy quyền năng của Ngài.
Qua một thời gian Paul nhận biết công việc của ma quỷ, và dưới sự đầy dẫy Đức Thánh Linh ông đã ra lệnh cho quỷ ra khỏi nhân danh Đức Chúa JESUS Christ. Quỷ liền ra khỏi. Một thân hữu đã được cứu khỏi xiềng xích của ma quỷ. Paul đã làm được điều thiện. Tuy nhiên chúng ta xem ông nhận được phần thưởng gì cho việc thiện của mình? Chúng ta xem câu 19-24. Khi sống vì danh Chúa và truyền giảng Tin Lành, chúng ta có thể nhận được sự bắt bớ, vô ơn,… Và đó không phải là điều ngạc nhiên, vì Chúa của chúng ta cũng đã từng bị như vậy.
Trong hoàn cảnh như vậy, chắc là Paul và Sila phải rất tuyệt vọng, chán nản và than thở. Nhưng họ lại hành động khác hẳn. Chúng ta xem câu 25 “Lối nửa đêm, Phao-lô và Si-la đang cầu nguyện, hát ngợi khen Đức Chúa Trời; và những tù phạm đều nghe”. Điều đó làm thế nào được? Có thể họ nhớ đến bài giảng trên núi của Chúa Jesus: “Phước cho những kẻ chịu bắt bớ vì sự công bình, vì nước thiên đàng là của những kẻ ấy! 11Khi nào vì cớ ta mà người ta mắng nhiếc, bắt bớ, và lấy mọi điều dữ nói vu cho các ngươi, thì các ngươi sẽ được phước. 12Hãy vui vẻ, và nức lòng mừng rỡ, vì phần thưởng các ngươi ở trên trời sẽ lớn lắm; bởi vì người ta cũng từng bắt bớ các đấng tiên tri trước các ngươi như vậy.”
Có thể họ nhớ đến quá khứ họ cũng đã từng bắt bớ hội thánh Chúa, họ đã từng là công cụ trong tay ma quỷ, và đáng bị trừng phạt đời đời dưới hoả ngục. Nhưng Chúa đã thương xót và cứu họ, tha tội cho họ, ban cho họ đặc ân được trở thành người hầu việc Chúa. Khi Paul suy gẫm về tình yêu của Chúa, về ân điển cứu rỗi, ông đã vô cùng cảm động. Trong tù, trong xiềng xích, Paul và Sila đã lớn tiếng hát ngợi khen Chúa. Ngợi khen không phải là hình thức bề ngoài, không phải nói “Ngợi khen Chúa! Ngợi khen Chúa!” suốt ngày. Nhưng là những gì tuôn chảy từ con người thật của bạn, và đem đến sự đáp ứng tức khắc từ lòng Đức Chúa Trời. Điều gì đã tuôn chảy từ lòng Paul và được Chúa đáp ứng tức khắc như vậy? Chìa khóa của vấn đề là sự tha thứ. Luôn luôn như vậy. Sự ngợi khen thật là đáp ứng tự nhiên từ một tấm lòng đã được tha thứ. Tha thứ là nền tảng cần thiết cho sự ngợi khen, là mấu chốt của toàn mối quan hệ giữa chúng ta với Đức Chúa Trời. Chúng ta được Chúa tha thứ, và chúng ta tha thứ cho người khác.
Vì sao lại có những người đầy dẫy vui mừng đang khi những người khác buồn rầu chán nản? Chúng ta hãy quan sát hai người trong cùng cảnh ngộ. Cả hai đều mắc bệnh ung thư hay đều thất nghiệp, cả hai đều mất một người thân hay gặp cảnh gia đình tan vỡ. Một người thì khốn khổ còn người kia vui mừng. Vì sao vậy? Đó là vì một người tập trung sự chú ý vào Chúa Giê-xu còn người kia chỉ nhìn vào nan đề của mình.
Hãy thử làm điều nầy. Bạn để một vật gần mình tượng trưng cho Chúa Giê-xu, và chọn một vật khác tượng trưng cho những gì bạn nghĩ là những thất bại trong cuộc đời bạn. Hãy ngắm vật thứ hai trong một lúc và nghĩ đến những điều bạn đã mong ước mà không xảy ra. Thử nghĩ đến từng vấn đề, từng nỗi khó chịu, từng điều đau đớn. Hãy suy nghĩ trong vài phút, bạn sẽ thấy hoàn toàn khốn khổ phải không?
Bây giờ hãy nhìn vào vật tượng trưng cho Chúa Giê-xu, Ngài yêu bạn, Ngài đã giải quyết tất cả những nan đề của bạn. Ngài đã tha thứ mọi tội lỗi của bạn. Ngài đặt để mọi sự và mọi người trong đời sống bạn để bày tỏ tình yêu của Ngài. Ngài đã đến để bạn được vui mừng và bình an. Điều nầy không làm bạn vui hơn sao? Và ngay cả khi chưa cảm thấy vui, bạn vẫn thấy mọi sự đều tốt hơn từ hướng nhìn nầy. Chúa Giê-xu đến trần gian để thực hiện những điều con người không thể tự làm đượcĐức Chúa Trời biết bạn yếu đuối và sa sút như thế nào. Ngài biết bạn không thể tự vực mình dậy được, nhưng Ngài muốn bạn làm một điều mà Ngài đã cho bạn khả năng để làm: Hãy mở mắt ra và nhìn vào Ngài, “Hễ điều chi có nhân đức đáng khen, thì anh em phải nghĩ đến” (Phi 4:8b). Hãy nghĩ đến Chúa Giê-xu, Ngài có đáng cho chúng ta ngợi khen không? Hãy nghĩ đến Ngài là ai, đã làm gì cho đến khi bóng tối quanh bạn nhường chỗ cho ánh sáng.
Nếu thấy người nào đó đang đi ngoài đường, mặt mày sáng rỡ và vui mừng, đừng nghĩ người ấy không có vấn đề gì. Có thể người ấy có nhiều nan đề gấp mười lần bạn, bạn có nói: “Sao tôi không được như vậy? Sao tôi lại khốn khổ và anh ấy lại sung sướng như vậy?” Bạn biết câu trả lời rồi đấy, anh ấy đã học tập trung sự chú ý vào Đấng Christ. Bạn có khả năng làm được điều đó. Nếu gặp nan đề gì, bạn có thể nói “Ngợi khen Chúa, đây không phải là vấn đề của tôi mà là của Ngài”. Sự chú ý của tôi được tập trung vào Chúa Giê-xu, Đấng đã phán: “Lòng các ngươi chớ hề bối rối; hãy tin Đức Chúa Trời, cũng hãy tin ta nữa” (Giăng 14:1). Sa-tan đang thì thầm phía sau, kích động bạn lo lắng và cho biết dù bạn có làm gì đi nữa thì mọi sự cũng vẫn trục trặc. Sa-tan là kẻ nói dối. Không có điều gì trục trặc cả – mọi sự sẽ tốt đẹp nếu bạn chú tâm cứ nhìn vào Chúa Giê-xu với một tấm lòng trọn vẹn. Hãy tập trung mọi suy nghĩ vào Chúa Giê-xu. Hãy ăn năn về sự phân tâm và bạn có thể nói như Đa-vít: “Hỡi Đức Chúa Trời, lòng tôi vững chắc, lòng tôi vững chắc; tôi sẽ hát, phải, tôi sẽ hát ngợi khen…Tôi sẽ cảm tạ Chúa giữa các dân” (Thi 57:7, 9).
Chúng ta xem câu 26 “Thình lình, có cơn động đất rất lớn, đến nỗi nền ngục rúng động; cùng một lúc, các cửa mở ra, xiềng tù phạm thảy đều tháo cả.” Trong lúc họ ngợi khen Chúa, đã xảy ra phép lạ siêu nhiên: nền nhà ngục rúng động, các xiềng xích bị tháo ra, các cửa tù mở ra. Khi chúng ta ngợi khen cảm tạ Đức Chúa Trời, các cánh cửa đều mở ra. Trong cuộc đời nhiều khi chúng ta rơi vào những ngõ cụt không lối thoát. Dông tố tối tăm bủa vây chung quanh, và chúng ta không thể nào thoát khỏi những xiềng xích đang trói buộc chúng ta. Phải làm thế nào đây? Càng vùng vẫy chúng ta càng thấy vô vọng. Nhưng có cách để bước vào cánh cửa của thế giới phép lạ nhiệm mầu: Khi chúng ta ngợi khen cảm tạ Đức Chúa Trời, các cánh cửa đóng chắc đều mở ra. Những cánh cửa lòng của các thân hữu được mở ra. Những cánh cửa truyền giảng Tin Lành được mở ra. Những cánh cửa chu cấp siêu nhiên mở ra. Những cánh cửa cho Trại hè mở ra. Khi chúng ta cầu nguyện ngợi khen Đức Chúa Trời, các xiềng xích tội lỗi, tà dâm, ích kỷ kiêu ngạo sẽ bị tháo ra. Đức Chúa Trời đáp ứng những tấm lòng cảm tạ ngợi khen ngay lập tức. Thi thiên 22:3 nói “Còn Chúa là thánh, Ngài là Đấng ngự giữa sự khen ngợi của Y-sơ-ra-ên.” Khi dân của Chúa ngợi khen Ngài, thì Ngài hiện diện. Đức Chúa Trời là sự sáng, nên khi sự sáng hiện đến, mọi sự tối tăm đều tan biến thối lui.
Chúng ta xem câu 27-40. Khi người cai ngục thức giấc, thấy tất cả các cửa đều mở ra, thì hoảng sợ, tưởng là tù phạm bỏ chạy hết, nên định tự tử. Paul kêu lên: “Chớ làm hại mình: chúng ta đều còn cả đây.” Người cai tù hỏi: “Các ngài ơi, tôi phải làm chi cho được cứu rỗi? 31Hai người trả lời rằng: Hãy tin Đức Chúa Jêsus, thì ngươi và cả nhà đều sẽ được cứu rỗi. 32Hai người truyền đạo Đức Chúa Trời cho người, và cho những kẻ ở nhà người nữa. 33Trong ban đêm, chính giờ đó, người đề lao đem hai người ra rửa các thương tích cho; rồi tức thì người và mọi kẻ thuộc về mình đều chịu phép báp-têm. 34Đoạn, người đề lao mời hai người lên nhà mình, đặt bàn, và người với cả nhà mình đều mừng rỡ vì đã tin Đức Chúa Trời. Sự cứu rỗi lớn đã đến với họ.
Ở Alaska có một ngọn đồi nơi một người tên là Ed Lung từng ngồi, anh hoàn toàn sạt nghiệp và tuyệt vọng trong những ngày của Cuộc Đổ Xô Đi Tìm Vàng năm 1897. Ed là một trong những người đầu tiên đến Alaska khi người ta tìm thấy vàng tại đó, nhưng Ed luôn luôn đến nơi người ta tìm ra vàng trễ một ngày. Một ngày kia anh ta ngồi trên ngọn đồi gần như muốn khóc và quyết định đành trở về nhà ở Tacoma Washington trắng tay và sạt nghiệp. Vài tuần sau đó một người khác cuốc xuống đúng ngay chỗ anh Ed ngồi và khám phá ra ngọn đồi vàng sản xuất số lượng vàng trị giá 1 tỉ đô-la.
Nếu như Paul và Sila chỉ nằm khóc lóc, than vãn, trách móc, oán thán, thì chắc chắn sẽ không có chuyện gì xảy ra. Có thể họ sẽ bị bệnh đau tim, hoặc đau dạ dày vì lo lắng. Nhưng khi họ cảm tạ ngợi khen Chúa hết lòng, thì quyền năng Thiên Đường đã giáng xuống đời sống họ, bày tỏ những phép lạ siêu nhiên, để giải thoát họ. Và không chỉ thế, mà tất cả các tù phạm cũng như cả gia đình người cai ngục đều được cứu rỗi. Đó là quyền năng của sự cảm tạ và ngợi khen. Amen.
Có một ông già tuổi đã ngoài 60. Ông đã rất không may mắn, bị phá sản, mất hết tài sản cả đời gom góp. Vì bị sốc nặng nên ông phải chữa trị ở viện tâm thần. Một lần khi đang ngồi ghế ngoài trời, ông nghe một bài thánh ca “Chúa gìn giữ con… Chúa luôn không quên con, trên mỗi bước đường, trong lúc nghi sợ”. Một nữ bệnh nhân đi qua đã hát. Vào lúc đó, ông chợt thức tỉnh: Đúng rồi, tại sao mình lại lo lắng nếu Chúa gìn giữ mình? Ông bằng đức tin mở một quầy bán gà rán nhỏ ở góc bệnh viện. Ông bán gà rán rất rẻ, mà vẫn không có người mua. Nhưng ông không đầu hàng, mà nghĩ cách rán gà khác nhau cho ngon, và đã phát minh ra phương thức rán gà bí truyền của mình. Và người ta bắt đầu mua gà của ông, ông mở thêm quầy thứ 2, thứ 3, và nhiều đại lý khắp nơi, và thành lập một tập đoàn mạng lưới bán gà rán trên toàn thế giới. Ông già đó là Harland Sanders, người sáng lập của Gà rán KFC Kentucky Fried Chicken.
Thế giới quanh chúng ta, cộng đồng người Việt giống như nhà tù ở Philipp, tất cả mọi người đều bị xiềng xích. Chúng ta cầu nguyện ngợi khen Chúa để quyền năng Chúa rung động Odesa, và sự cứu rỗi lớn đến với Hội thánh, với thành phố này, với đời sống chúng ta. Amen.
Leave a Reply
Bạn phải đăng nhập để gửi phản hồi.