Câu khóa 23, 34a
Thập tự giá ngày nay được sử dụng như một món đồ trang sức. Nhưng đó không phải là ý nghĩa thật của thập tự giá. Thập tự giá thật ra là một công cụ hành hình, dùng để giết người. Và bởi cớ tội lỗi của chúng ta thì CON TRỜI đã bị đóng đinh trên thập tự giá. Ngày hôm nay chúng ta cùng suy gẫm về tình yêu tha thứ vĩ đại của CHÚA GIÊ-XU qua sự thương khó NGÀI; và lời cầu nguyện của NGÀI: “Lạy CHA! Xin tha cho họ, vì họ không biết mình làm điều gì.” Xin CHÚA giúp chúng ta gặp được tình yêu thương tha thứ của NGÀI để mở lòng ra và tiếp nhận tình yêu đó.
1. Tại sao CHÚA GIÊ-XU bị kết án đóng đinh trên thập tự giá. (16-23)
Chúng ta cùng đọc từ câu 13-26. “13. Phi-lát hiệp các thầy tế lễ cả, các quan đề hình và dân chúng lại, mà nói rằng:14. Các ngươi đã đem nộp người nầy cho ta, về việc xui dân làm loạn; nhưng đã tra hỏi trước mặt các ngươi đây, thì ta không thấy người mắc một tội nào mà các ngươi đã cáo;15. vua Hê-rốt cũng vậy, vì đã giao người về cho ta. Vậy, người nầy đã không làm điều gì đáng chết,16. nên ta sẽ đánh đòn rồi tha đi.17. (Số là đến ngày lễ, quan phải tha một tên tù cho dân.)18. Chúng bèn đồng thanh kêu lên rằng: Hãy giết người nầy đi, mà tha Ba-ra-ba cho chúng tôi!19. Vả, tên nầy bị tù vì dấy loạn trong thành, và vì tội giết người.20. Phi-lát có ý muốn tha Ðức Chúa Jêsus, nên lại nói cùng dân chúng nữa.21 Song chúng kêu lên rằng: Ðóng đinh nó trên cây thập tự đi! Ðóng đinh nó trên cây thập tự đi!22. Phi-lát lại nói đến lần thứ ba, rằng: Vậy người nầy đã làm điều ác gì? Ta không tìm thấy người có sự gì đáng chết. Vậy, đánh đòn xong, ta sẽ tha.23. Nhưng chúng cố nài, kêu lớn tiếng rằng phải đóng đinh Ngài trên cây thập tự; tiếng kêu của họ được thắng.24. Phi-lát truyền làm y như lời chúng xin.25. Bèn tha tên tù vì tội dấy loạn và giết người, là người chúng đã xin tha; rồi phó Ðức Chúa Jêsus cho mặc ý họ.”
Ở đây chúng ta thấy có bốn dạng người tham gia vào việc kết án và đóng đinh CHÚA GIÊ-XU.
1/ Các lãnh đạo thuộc linh. Các lãnh đạo thuộc linh thời bấy giờ, bao gồm các thầy tế lễ cả, các thầy thông giáo, thầy dậy luật, các trưởng lão của dân Do Thái. Phần lớn trong số họ thuộc hàng ngũ người Pha-ri-si. Trong các sách Phúc Âm chúng ta thấy rằng đây là những con người luôn đối đầu với CHÚA GIÊ-XU. NGÀI thường xuyên mắng những người này vì sự giả hình của họ. Bên ngoài thì họ luôn tỏ ra đạo đức và vâng giữ luật pháp nhưng bên trong thì đầy dẫy những điều gian ác. Bởi sự kiêu ngạo nên họ cứng lòng và không ăn năn tội lỗi của mình. Vì vậy mà họ rất căm ghét CHÚA GIÊ-XU khi NGÀI động đến tội lỗi của họ. Mặc dù họ là những lãnh đạo thuộc linh nhưng họ không hề nhận biết ý muốn của ĐỨC CHÚA TRỜI. Cộng thêm sự ích kỉ sợ mất đi quyền lực, tầm ảnh hưởng của mình nên họ ganh ghét và ghen tị với CHÚA GIÊ-XU khi NGÀI hầu việc ĐỨC CHÚA TRỜI rất mạnh mẽ và có nhiều trái quả.
2/ Bôn-xơ Phi-lát. Vào thời đó đất nước Do Thái là thuộc địa của đế quốc La-mã. Chính quyền La-mã không cho phép thuộc địa được kết án và thi hành án tử hình. Phi-lát là quan tổng trấn đại diện cho chính quyền La-mã ở xứ Do-thái. Cho nên vai trò của Phi-lát là quyết định trong việc kết án và đóng đinh CHÚA GIÊ-XU. Mặc dù ông ta biết rằng CHÚA GIÊ-XU không có tội, nhưng vì lợi ích chính trị nên ông ta đã kết án đóng đinh CHÚA GIÊ-XU. Tội lỗi của Phi-lát ở chỗ ông ta thỏa hiệp, ông ta biết chân lý nhưng không làm theo.
3/ Dân chúng. Tội lỗi của dân chúng là sự ích kỉ. Sự ích kỉ làm cho họ chỉ biết nghĩ đến bản thân mình và lãnh đạm trước sự đau đớn cũng như cái chết của người khác. Dân chúng là những con người sống theo cảm xúc và bản năng bầy đàn. Họ dễ bị kích động, xúi giục và làm theo đám đông thay vì làm theo chân lý. 1 tuần trước đây chính họ đã tung hô Chúa JESUS, khi Ngài vào thành Jerusalem: “Hosana, hosanna, Con vua David”, 1 tuần sau đó họ kêu gào: “Đóng đinh nó trên cây thập tự đi!”
4/ Quân lính. Quân lính là những người trực tiếp tra tấn dã man CHÚA GIÊ-XU và đóng đinh NGÀI. Họ là những con người chai lì với nỗi đau của người khác. Họ lấy làm vui vẻ, thích thú khi tra tấn, hành hạ và lấy đi sự sống của một con người.
Như vậy bốn dạng người trên đã tham gia vào việc kết án và đóng đinh CHÚA GIÊ-XU trên thập tự giá, đại diện cho cả nhân loại. Chính tội lỗi của cả nhân loại và tội lỗi của mỗi chúng ta đã đóng đinh CHÚA GIÊ-XU trên thập tự giá. Chúng ta cùng xem Ê-sai 53:4-6: “NGÀI đã vì tội lỗi chúng ta mà bị vết, vì sự gian ác chúng ta mà bị thương”. “ĐỨC GIÊ-HÔ-VA đã làm cho tội lỗi của hết thảy chúng ta đều chất trên NGÀI”.
2. Tình yêu thương tha thứ của CHÚA GIÊ-XU. (26-38)
Chúng ta cùng xem câu 26 “Khi chúng điệu Ðức Chúa Jêsus đi, bắt một người xứ Sy-ren, tên là Si-môn, từ ngoài đồng về, buộc phải vác cây thập từ theo sau Ngài.”
Chúa JESUS là thợ mộc từ nhỏ, nên Ngài là một người rất khoẻ mạnh, lực lưỡng. Tuy nhiên sau khi bị tra tấn cả đêm, CHÚA GIÊ-XU đã không còn sức để vác thập tự giá và quân lính đã bắt một người tên Si-môn để vác thập tự giá thay cho NGÀI. Qua đó chúng ta thấy những trận đòn hành hạ Chúa rất dã man. Kinh thánh nói: “4. Thật người đã mang sự đau ốm của chúng ta, đã gánh sự buồn bực của chúng ta; mà chúng ta lại tưởng rằng người đã bị Ðức Chúa Trời đánh và đập, và làm cho khốn khổ.5. Nhưng người đã vì tội lỗi chúng ta mà bị vết, vì sự gian ác chúng ta mà bị thương. Bởi sự sửa phạt người chịu chúng ta được bình an, bởi lằn roi người chúng ta được lành bịnh.” (Ê-sai 53:4-5).
Theo cách suy nghĩ của loài người thì Si-môn là một con người không gặp may, nhưng thực sự thì Si-môn là một con người được phước khi vác thập tự giá của CHÚA GIÊ-XU. Chúng ta có 4 sách Phúc Âm thì có 3 sách nhắc đến Si-môn và việc anh vác thập tự giá thay cho CHÚA GIÊ-XU. Thậm chí trong sách Mác còn nhắc đến cả dòng dõi của Si-môn nữa. Phước cho những ai được vác thập tự giá cùng CHÚA GIÊ-XU. A-men!
Chúng ta cùng xem từ câu 27-31 “27. Có đoàn dân đông lắm đi theo Ðức Chúa Jêsus, và có mấy người đờn bà đấm ngực khóc về Ngài.28. Nhưng Ðức Chúa Jêsus xây mặt lại với họ mà phán rằng: Hỡi con gái thành Giê-ru-sa-lem, đừng khóc về ta, song khóc về chính mình các ngươi và về con cái các ngươi.29. Vì nầy, ngày hầu đến, người ta sẽ nói rằng: Phước cho đờn bà son, phước cho dạ không sanh đẻ và vú không cho con bú!30. Bấy giờ, người ta sẽ nói với núi rằng: Hãy đổ xuống trên chúng ta! với gò rằng: Hãy che chúng ta!31. Vì nếu người ta làm những sự ấy cho cây xanh, thì cây khô sẽ ra sao?”
Những người đàn bà này khóc thương cho CHÚA GIÊ-XU bằng sự thương xót của con người. Họ thương xót khi một con người tốt bụng như CHÚA GIÊ-XU mà lại bị hành hạ và bị đóng đinh. Nhưng CHÚA GIÊ-XU không thương xót chính mình mà NGÀI thương xót dân chúng – là những con người đang nằm dưới quyền lực của tội lỗi và sự chết. Mặc dù chịu đau đớn cùng cực về thể xác nhưng CHÚA GIÊ-XU hạnh phúc bởi NGÀI đang thực hiện sứ mệnh và làm theo ý muốn của ĐỨC CHÚA CHA.
CHÚA GIÊ-XU dạy chúng ta rằng: cần phải khóc thương cho chính bản thân mình và về tội lỗi của mình. Bởi nếu chúng ta không biết than khóc cho tội lỗi của mình với CHÚA thì chúng ta vẫn còn nằm dưới sự phán xét và cơn thạnh nộ của ĐỨC CHÚA TRỜI. Khi ngày phán xét đến, con người sẽ muốn tìm đến cái chết hơn là chịu sự phán xét của ĐỨC CHÚA TRỜI. Sợ chết là nỗi sợ lớn nhất của loài người nhưng sự kinh khiếp trong ngày phán xét của CHÚA còn đáng sợ hơn nhiều. Vào thời điểm đó con người muốn chết hơn là sống nhưng chết đâu phải là hết. Sự trừng phạt đời đời dưới hỏa ngục đang đợi những kẻ không tiếp nhận CHÚA GIÊ-XU.
Chúng ta cùng xem câu 32-33 “32. Chúng cũng đem hai người đi nữa, là kẻ trộm cướp, để giết cùng với Ngài.33. Khi đến một chỗ gọi là chỗ Sọ, họ đóng đinh Ngài trên cây thập tự tại đó, cùng hai tên trộm cướp, một tên bên hữu Ngài, một tên bên tả.”
Chúa JESUS bị đóng đinh cùng 2 tên trộm cướp. Điều này có 2 ý nghĩa. 1/ Để ứng nghiệm lời tiên tri trong sách Ê-sai 53:12 “… Người sẽ chia của bắt với những kẻ mạnh, vì người đã đổ mạng sống mình cho đến chết, đã bị kể vào hàng kẻ dữ, đã mang lấy tội lỗi nhiều người, và cầu thay cho những kẻ phạm tội.” 2/ Việc Chúa JESUS bị đóng đinh giữa 2 tên trộm cướp nói lên rằng Ngài là tội nhân khủng khiếp nhất, đáng nguyền rủa nhất. Đáng ra chỗ đó là của chúng ta: của tôi và các anh chị em. Đáng ra chúng ta phải chịu hình phạt đó vì cớ tội lỗi của mình. Nhưng Chúa JESUS đã thế chỗ thay cho chúng ta.
Theo bộ Bách Khoa Từ Điển Anh thì thập tự giá là một hình cụ được dùng để xử tử phạm nhân từ thời xa xưa. Vào khoảng năm 519 TCN, Vua Đa-ri-út Đệ Nhất của Đế Quốc Phe-rơ-sơ đã ra lệnh đóng đinh 3,000 người không cùng chung quan điểm về chính trị với ông vào thập tự giá tại Ba-by-lôn. Cách xử tử này được lưu truyền đến Đế Quốc Hy-lạp, rồi Đế Quốc La-mã. Đến cuối thế kỷ thứ nhất trước Công Nguyên, thì hình phạt bị đóng đinh trên thập tự giá trong Đế Quốc La-mã chỉ dành riêng cho những nô lệ và những tội nhân không có quốc tịch La-mã, trừ khi là tội phản quốc.
Vào thời điểm này thì thập tự giá bao gồm một thanh đứng và một thanh ngang. Thanh đứng được chôn sẵn tại pháp trường (nơi thi hành án). Thanh ngang được lưu trữ tại pháp đình (nơi xử án). Sau khi bản án được tuyên bố thì tội nhân bị đánh đòn, rồi thanh ngang của thập tự giá được đặt ngang trên hai vai của tội nhân, hai cánh tay của tội nhân bị trói vào đó, và tội nhân bị quân lính áp giải từ pháp đình ra pháp trường. Tại pháp trường, thanh ngang của thập tự giá được đặt nằm trên mặt đất, tội nhân bị lột hết quần áo, hai tay bị căng ra và hai cổ tay bị cột vào thanh ngang. Sau đó, mỗi bàn tay bị đóng vào thanh ngang bằng một mũi đinh lớn. Thanh ngang của thập tự giá cùng với thân hình của tội nhân được kéo lên trên thanh đứng của thập tự giá bằng một hệ thống ròng rọc. Khi thanh ngang đã được kéo lên, khớp vào chỗ đã định trên thanh đứng, thì dây kéo được cột vào khoen móc có sẵn trên thanh đứng, và hai bàn chân của tội nhân bị đóng đinh vào thanh đứng. Một số các hình minh họa vẽ hình hai bàn chân của tội nhân bị chồng lên nhau và bị đóng vào thanh đứng của thập tự giá bằng một mũi đinh. Tuy nhiên, minh họa như vậy là không đúng; theo luật La-mã thì tử tội phải bị đóng đinh vào thập tự giá với bốn mũi đinh nơi hai bàn tay hoặc hai cổ tay và hai bàn chân. Sau cùng là một tấm bảng ghi tên và tội của tội nhân được đóng vào thanh đứng, phía trên đầu của tội nhân.
Khi Đức Chúa Jesus Christ bị đóng đinh trên thập tự giá theo lệnh của Bôn-xơ Phi-lát, Tổng Đốc La-mã của xứ Giu-đê, thì Phi-lát đã cho ghi tên của Ngài là “Jesus người Na-xa-rét” và tội danh của Ngài là “Vua dân Giu-đa”. Vì lúc bấy giờ Đế Quốc La-mã đang cai trị dân Do-thái qua vua bù nhìn – là Hê-rốt, cho nên, hễ ai ngoài Hê-rốt xưng là vua của dân Do-thái thì lập tức bị can tội phiến loạn. Phi-lát làm như vậy để hợp pháp hóa bản án của Chúa, là bản án mà ông buộc phải thi hành bởi áp lực của dân Do-thái, trong khi chính ông đã tuyên bố ông không tìm thấy Ngài có tội chi hết! Nhưng danh xưng “Vua dân Giu-đa” lại chính là một danh xưng của Đấng Messiah. Vô tình Phi-lát lại làm ứng nghiệm lời tiên tri về Chúa JESUS.
Ý kiến cho rằng: Đức Chúa Jesus Christ đã bị đóng đinh trên một trụ gỗ đứng (lý luận của Giáo Hội Giê-hô-va Chứng Nhân) chứ không phải trên thập tự giá là không đúng với các tài liệu lịch sử và khảo cổ.
Người bị đóng đinh trên thập tự giá có thể sống thoi thóp đến vài ngày, thậm chí cả tuần và bị chim trời rỉa thịt trong lúc còn sống. Họ phải chịu đói, khát, nắng nóng cháy da cháy thịt ban ngày và lạnh đến thấu xương ban đêm. Theo luật La-mã thì xác chết phải bị lưu lại trên thập tự giá để răn đe người khác đừng phạm pháp như tử tội, cho đến khi có lệnh của nhà cầm quyền cho phép lấy xuống. Hình phạt bị đóng đinh trên thập tự giá là một hinh phạt vô cùng đau đớn mà cũng vô cùng nhục nhã, vì tội nhân bị treo trần truồng trước công chúng, tại những nơi dễ nhìn thấy. Tội nhân tiểu tiện tại chỗ. Khi bị treo trên thập giá, sức nặng của cơ thể làm cho các vết đinh đóng trên tay chân bị căng xé khiến tội nhân bị đau nhức cùng cực nhưng không chết. Tội nhân phải sống để chịu những cơn đau buốt liên tục hành hạ trong một thời gian dài. Chỉ khi nào tội nhân kiệt sức không thể nâng đầu lên được nữa thì đầu sẽ cúi gằm xuống khiến cằm đụng vào ngực. Lúc đó tội nhân sẽ từ từ bị nghẹt cổ họng và chết vì ngộp thở chứ không chết vì bị chảy hết máu. Nhưng người Do-thái có thể xin phép lấy xác các tử tội Do-thái trước khi mặt trời lặn để tránh sự vi phạm luật pháp của ĐỨC CHÚA TRỜI: “Khi một người nào phạm tội đáng chết, thì hãy giết nó, và treo lên trụ hình, thây nó chớ để treo trên trụ hình cách đêm, song phải chôn trong nội ngày đó; vì kẻ nào bị treo ắt bị ĐỨC CHÚA TRỜI rủa sả. Như vậy, ngươi chẳng làm ô uế đất mà GIÊ-HÔ-VA ĐỨC CHÚA TRỜI ngươi ban cho ngươi làm sản nghiệp” (Phục Truyền Luật Lệ Ký 21:22-23). Trong trường hợp đó, người ta đánh gãy ống xương chân của tử tội để cái chết mau đến.
Khi càng tìm hiểu rõ về hình phạt đóng đinh trên thập tự giá chúng ta càng thấy rõ cái giá mà CHÚA GIÊ-XU đã trả để chuộc tội thay chúng ta là lớn như thế nào.
Chúng ta cùng xem câu 34-38 “34. Song Ðức Chúa Jêsus cầu rằng: Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ không biết mình làm điều gì. Ðoạn, họ bắt thăm chia nhau áo xống của Ngài. 35. Dân chúng đứng đó mà ngó. Các ngươi coi việc nhạo cười Ngài, rằng: Nó đã cứu kẻ khác; nếu nó là Ðấng Christ, Ðấng Ðức Chúa Trời đã lựa, thì hãy cứu mình đi! 36. Quân lính cũng dỡn cợt Ngài, lại gần đưa dấm cho Ngài uống,
37. mà rằng: Nếu ngươi là Vua dân Giu-đa, hãy tự cứu lấy mình đi! 38. Phía trên đầu Ngài, có đề rằng: Người Nầy Là Vua Dân Giu-đa.”
Những kẻ đã đóng đinh CHÚA GIÊ-XU thì bắt thăm để chia nhau áo xống của NGÀI. Dân chúng đến xem thì nhạo cười NGÀI: ĐẤNG CHRIST, ĐẤNG được ĐỨC CHÚA TRỜI lựa, ĐẤNG đã cứu bao nhiêu kẻ khác mà giờ đây lại không thể cứu mình. Quân lính cũng giỡn cợt NGÀI, lấy NGÀI làm trò đùa vui, khi NGÀI khát chúng cho NGÀI uống dấm thay vì nước. Họ chế diễu NGÀI rằng: Nếu NGÀI là vua dân Giu-đa thì hãy tự cứu lấy mình.
CHÚA GIÊ-XU là CON ĐỨC CHÚA TRỜI Toàn Năng. NGÀI có đủ quyền năng để tự cứu mình. Nhưng NGÀI đã không làm vậy. Tại sao? Thứ nhất: NGÀI vâng phục ý muốn của ĐỨC CHÚA TRỜI, vâng phục đến chết, thậm chí chết đau đớn trên thập tự giá. Thứ hai: Nếu NGÀI tự cứu mình thì NGÀI không thể cứu con người. Lịch sử cứu rỗi đã dừng lại và con người sống trên thế gian này không có bất cứ một hi vọng hay cơ hội nào để thoát khỏi sự phán xét của ĐỨC CHÚA TRỜI. Tất cả loài người chỉ có một con đường duy nhất là bị ném vào hỏa ngục đời đời. Nhưng CHÚA GIÊ-XU đã không tự cứu mình. NGÀI chấp nhận tất cả đau đớn thể xác, đau đớn và tổn thương trong lòng, những sự cười nhạo, giễu cợt, sỉ nhục từ những con người mà NGÀI đang chết cho tội lỗi của họ. NGÀI chấp nhận sự đau đớn lớn nhất là đau đớn trong tâm linh: Bị ĐỨC CHÚA TRỜI lìa bỏ khi tội lỗi của cả thế gian được chất lên NGÀI. CHÚA GIÊ-XU đã chịu tất cả những nỗi đau đó đến cuối cùng để cứu chúng ta. Ha-le-lui-ja!
Vậy trong lúc phải chịu đựng bao nhiêu nỗi đau như vậy thì CHÚA GIÊ-XU làm gì? Chúng ta cùng xem câu 34a “Song ĐỨC CHÚA GIÊ-XU cầu rằng: Lạy CHA! Xin tha cho họ, vì họ không biết mình làm điều gì.”
Trên thập tự giá CHÚA GIÊ-XU cầu nguyện cho những kẻ đã phản bội NGÀI, tra tấn, đóng đinh, giễu cợt và nhạo báng NGÀI. Chúng ta thấy rằng đây không phải là tình yêu của loài người, không phải là tình yêu của thế gian này. CHÚA GIÊ-XU cầu nguyện cho chính những kẻ đã đóng đinh NGÀI ngay khi NGÀI còn đang bị treo trên thập tự giá. “Lạy CHA! Xin tha cho họ.” Lời cầu nguyện này bày tỏ bản chất của CHÚA GIÊ-XU. NGÀI chính là ĐỨC CHÚA TRỜI. Tình yêu của NGÀI là tình yêu đến từ trời, tình yêu tha thứ, tình yêu vô điều kiện. Tình yêu đó bao la hơn tội lỗi của tất cả chúng ta, lớn hơn tội lỗi của tất cả nhân loại. Chỉ có tình yêu của ĐỨC CHÚA TRỜI mới giải quyết được nan đề tội lỗi của con người. Bởi tình yêu đó mà ĐỨC CHÚA TRỜI đã hi sinh CON MỘT của NGÀI hầu cho hễ ai tin CON ẤY không bị hư mất mà được sự sống đời đời. Tình yêu của ĐỨC CHÚA TRỜI mang đến cho chúng ta sự cứu rỗi và nước Thiên Đàng. Tạ ơn CHÚA vì tình yêu tha thứ vô điều kiện của NGÀI. Ha-le-lui-ja!
Chúng cùng đọc lại câu 34a.
Xin CHÚA giúp chúng ta gặp được tình yêu tha thứ vĩ đại của NGÀI và tiếp nhận tình yêu đó, để chính chúng ta được tha thứ và có thể yêu thương, tha thứ người khác. Amen.
3. Hôm nay, ngươi sẽ được ở với TA trong nơi Ba-ra-đi. (39-47)
Chúng ta cùng xem từ câu 39-43 “39. Vả, một tên trộm cướp bị đóng đinh cũng mắng nhiếc Ngài rằng: Người không phải là Ðấng Christ sao? Hãy tự cứu lấy mình ngươi cùng chúng ta nữa!40. Nhưng tên kia trách nó rằng: Ngươi cũng chịu một hình phạt ấy, còn chẳng sợ Ðức Chúa Trời sao?41. Về phần chúng ta, chỉ là sự công bình, vì hình ta chịu xứng với việc ta làm; nhưng ngươi nầy không hề làm một điều gì ác.
42. Ðoạn lại nói rằng: Hỡi Jêsus, khi Ngài đến trong nước mình rồi, xin nhớ lấy tôi!
43. Ðức Chúa Jêsus đáp rằng: Quả thật, ta nói cùng ngươi, hôm nay ngươi sẽ được ở với ta trong nơi Ba-ra-đi.”
Bị đóng đinh cùng CHÚA GIÊ-XU là hai tên tội phạm. Chúng đã phạm tội trộm cướp và giết người. Chúng xứng đáng với hình phạt mà chúng đang phải chịu. Việc bị đóng đinh trên thập tự giá, phải chết một cách đau đớn và nhục nhã chỉ là kết quả của những việc ác mà chúng đã làm. Nhưng CHÚA GIÊ-XU hoàn toàn vô tội. Hình phạt cùng cái chết đau đớn, nhục nhã mà NGÀI đang phải chịu là sự trả tội thay cho con người.
Mặc dù ở trong cùng một hoàn cảnh, cùng phải chịu một bản án nhưng hai tên tội phạm này lại có thái độ tiếp nhận hoàn toàn khác nhau. Một tên thì cho rằng hắn không đáng phải nhận hình phạt này, hình phạt dành cho hắn là quá nặng, hắn không có tội, hắn bị oan. Vì vậy mà hắn mỉa mai CHÚA GIÊ-XU rằng: Ngươi không phải là ĐẤNG CHRIST sao? Hãy tự cứu lấy mình ngươi cùng chúng ta nữa. Có thể nói rằng tên tội phạm này đã hết thuốc chữa rồi.
Nhưng tên còn lại thì có thái độ tiếp nhận hoàn toàn khác. Hắn trách tên tội phạm kia mà rằng: Ngươi cũng chịu một hình phạt ấy, còn chẳng sợ ĐỨC CHÚA TRỜI sao? Về phần chúng ta, chỉ là sự công bình, vì hình ta chịu xứng với việc ta làm, nhưng người này không hề làm một điều gì ác. Tên tội phạm này nhận ra tội lỗi của mình. Hắn nhận ra mình là một tội nhân đáng phải chết và hình phạt dành cho hắn chỉ là sự công bình. Khi nhận ra điều đó thì trong hắn ta có sự kính sợ ĐỨC CHÚA TRỜI. Và bởi hắn có tấm lòng như vậy nên chính ĐỨC THÁNH LINH đã bày tỏ cho hắn về CHÚA GIÊ-XU qua những việc hắn được chứng kiến. Hắn hiểu rằng GIÊ-XU – người mà bị đóng đinh ở chính giữa là người vô tội. Và khi nghe lời cầu nguyện của CHÚA GIÊ-XU “Lạy CHA! Xin tha cho họ, vì họ không biết mình làm điều gì” thì ĐỨC THÁNH LINH mở con mắt tâm linh để hắn nhận ra CHÚA GIÊ-XU là CON ĐỨC CHÚA TRỜI. Bởi vậy mà hắn khiêm nhường cầu xin CHÚA GIÊ-XU rằng: Hỡi GIÊ-XU, khi NGÀI đến trong nước mình rồi, xin nhớ lấy tôi. Và CHÚA GIÊ-XU đáp lại hắn rằng: Quả thật, TA nói cùng ngươi, hôm nay ngươi sẽ được ở với TA trong nơi Ba-ra-đi. CHÚA GIÊ-XU đã ban cho hắn sự tha tội và sự cứu rỗi. Đây chính là trọng tâm của Tin Lành: con người được cứu không phải bởi việc làm, mà bởi đức tin nơi Chúa JESUS. Tên tội phạm cả đời chỉ làm việc ác, nhưng trước khi chết nhận ra tội lỗi của mình, ăn năn và khiêm nhường xin Chúa tha tội, để rồi đã nhận được sự cứu rỗi một cách nhưng không.
Hai tên trộm cướp này đại diện cho cả nhân loại. Tất cả con người trên thế gian này đều là tội nhân trước mặt ĐỨC CHÚA TRỜI. Tất cả đều nằm dưới sự phán xét và cơn thạnh nộ của NGÀI. Kết cục cuối cùng của tất cả loài người là chết và bị ném vào hỏa ngục đời đời, không phân biệt giàu nghèo, sang hèn. Nhưng những ai nhận biết mình là tội nhân, thành thật ăn năn tội và khiêm nhường xin Chúa cứu rỗi, thì CHÚA GIÊ-XU sẽ dẫn họ vào Thiên Đàng cùng với NGÀI. A-men!
Chúng ta cùng xem câu 44-46 “44. Khi đó, ước giờ thứ sáu, khắp xứ đều tối tăm cho đến giờ thứ chín.45. Mặt trời trở nên tối, và màn trong đền thờ xé chính giữa ra làm hai.46. Ðức Chúa Jêsus bèn kêu lớn rằng: Hỡi Cha, tôi giao linh hồn lại trong tay Cha! Ngài vừa nói xong thì tắt hơi.”
Khắp xứ đều tối tăm, mặt trời cũng trở nên tối tăm từ giờ thứ sáu cho đến giờ thứ chín nghĩa là từ lúc 12h trưa cho đến 3h chiều. Đây là một hiện tượng siêu nhiên, không phải là nhật thực. Đây là dấu hiệu của vũ trụ mà ĐỨC CHÚA TRỜI dùng để làm chứng rằng Chúa JESUS chính là Con ĐỨC CHÚA TRỜI.
Màn trong đền thờ xé chính giữa ra làm hai. Đây là dấu hiệu mà ĐỨC CHÚA TRỜI dùng để làm chứng cho dân Do Thái rằng Chúa JESUS chính là Con ĐỨC CHÚA TRỜI. Chiếc màn này che nơi chí thánh tách biệt ra khỏi những nơi khác trong đền thờ, nơi này tượng trưng cho sự hiện diện của ĐỨC CHÚA TRỜI. Chỉ thầy tế lễ thượng phẩm mỗi năm một lần sau khi rảy huyết mới được vào. Chiếc màn này được làm từ vật liệu rất bền, mấy con ngựa khoẻ cũng không kéo rách được. Khi Chúa JESUS chết, chiếc màn này bị xé chính giữa ra làm đôi từ trên xuống. Điều này người Do-thái hiểu rất rõ có ý nghĩa gì. Mathew 27:51 Nhờ cái chết của Chúa JESUS, bất cứ ai cũng có thể vào được nơi chí thánh, đến trước mặt ĐỨC CHÚA TRỜI để cầu nguyện với Ngài.
Chúng ta cùng xem câu 47 “47. Thầy đội thấy sự đã xảy ra, ngợi khen Ðức Chúa Trời rằng: Thật người nầy là người công bình.”
Thầy đội tượng trưng cho dân ngoại. Ông ta là người trực tiếp tham gia việc hành hình CHÚA GIÊ-XU từ đầu đến cuối.Nhưng khi chứng kiến tất cả những việc đã xảy ra, nghe lời cầu nguyện của CHÚA GIÊ-XU trên thập tự giá và thấy các dấu hiệu của trời đất, thì chính ông ta đã tin rằng CHÚA GIÊ-XU là CON ĐỨC CHÚA TRỜI, ông đã làm chứng về Chúa rằng: “Thật người này là người công bình”.
Lời CHÚA ngày hôm nay cho chúng ta biết rằng: Chúa JESUS đã, đang và sẽ cầu nguyện cho mỗi chúng ta rằng: “Lạy CHA! Xin tha cho …, vì … không biết mình làm điều gì.” Ngài vẫn cầu nguyện để ĐỨC CHÚA TRỜI tha tội cho chúng ta. Ngài không phán xét chúng ta. Ngài muốn chúng ta nhận được sự tha tội và sự sống đời đời. A-men!
Tạ ơn CHÚA vì ân điển được công bố lời NGÀI. Khi phải chuẩn bị bài giảng này tôi luôn cảm thấy áp lực và nặng nề. Giống như có một gánh nặng vậy. Bởi tôi nghĩ rằng đây là một phân đoạn Kinh Thánh dài và rất khó. Tôi đã phải đấu tranh với ý định thoái thác để vâng phục CHÚA và sự kêu gọi của NGÀI. Nhưng thật lạ lùng, khi tôi càng chuẩn bị thì càng thấy đơn giản, không khó như tôi tưởng. Và tôi nhận ra rằng vấn đề không phải ở chỗ khó hay dễ mà vấn đề là ở sự lười biếng của bản thân tôi mà thôi. Bởi CHÚA chỉ đòi hỏi ở tôi sự vâng phục mà thôi, còn không có gì là khó với ĐỨC CHÚA TRỜI cả.
Khi tôi chuẩn bị thì chính CHÚA bày tỏ lời của NGÀI cho tôi. Và đến giờ thì tôi thực sự tạ ơn CHÚA vì những điều tuyệt vời mà NGÀI ban cho tôi qua lời NGÀI. CHÚA giúp tôi nhớ lại tình yêu tha thứ và ân điển cứu rỗi mà NGÀI đã ban cho tôi. Sinh ra trong một gia đình không có CHÚA, tôi đã lớn lên mà không biết đến ĐỨC CHÚA TRỜI là ĐẤNG TẠO HÓA của mình. Con người là tạo vật của ĐỨC CHÚA TRỜI, bởi vậy việc không thờ phượng và dâng vinh hiển cho NGÀI là tội lỗi lớn nhất. Cả đời người đó phải sống trong sự trống rỗng, vô nghĩa, tối tăm và không có mục đích sống. Cuối cùng thì thì sự chết và sự hư mất đời đời chờ đợi mỗi con người. Khi tôi đang sống một đời sống vô nghĩa thì CHÚA đã đến và cứu tôi. Đó là khi tôi học năm thứ 2 đại học. Cuộc sống của tôi đang dần bị hủy hoại trong sự trống rỗng, chán trường và thất vọng. Tôi không biết mục đích của cuộc đời là gì, tôi không biết mình sống để làm gì và cuộc đời của mình có ý nghĩa không? Tôi chìm đắm trong thế giới ảo của các trò chơi để tìm ý nghĩa sống. Nhưng càng đầu tư vào đó nhiều thời gian và sự sống thì tôi càng thấy chán trường, vô nghĩa và thất vọng. Đời sống tôi không có niềm vui, hạnh phúc và rồi tôi trở thành một con nghiện, bị phục thuộc và muốn thoát ra, muốn từ bỏ nhưng không được. Tạ ơn CHÚA vì NGÀI đến, tình yêu tha thứ của NGÀI thay đổi đời sống tôi. Khi tôi được nghe lời cầu nguyện của CHÚA GIÊ-XU trên thập tự giá, lòng tôi bị đụng chạm mạnh mẽ. Tôi nhận được tình yêu tha thứ của NGÀI và đời sống tôi thay đổi. Tôi không còn nghiện ngập và ngày đêm chìm đắm trong thế giới ảo của các trò chơi nữa. Cuộc đời tôi bắt đầu có niềm vui và hạnh phúc. Tôi tìm được ý nghĩa và mục đích sống của mình trong CHÚA GIÊ-XU. Giờ đây tôi sống là để hầu việc và dâng vinh hiển cho NGÀI. Và chính NGÀI sẽ dẫn tôi vào Nước Thiên Đàng của NGÀI.
Leave a Reply
Bạn phải đăng nhập để gửi phản hồi.