Câu khóa 2:42
« 42Vả, những người ấy bền lòng giữ lời dạy của các sứ đồ, sự thông công của anh em, lễ bẻ bánh, và sự cầu nguyện. 43Mọi người đều kính sợ, vì có nhiều sự kỳ phép lạ làm ra bởi các sứ đồ. 44Phàm những người tin Chúa đều hiệp lại với nhau, lấy mọi vật làm của chung. 45Bán hết gia tài điền sản mình mà phân phát cho nhau, tùy sự cần dùng của từng người. 46Ngày nào cũng vậy, cứ chăm chỉ đến đền thờ; còn ở nhà, thì bẻ bánh và dùng bữa chung với nhau cách vui vẻ thật thà, 47ngợi khen Đức Chúa Trời và được đẹp lòng cả dân chúng. Mỗi ngày Chúa lấy những kẻ được cứu thêm vào Hội thánh.»
Nhiều Cơ đốc nhân lo lắng cho tương lai của thế giới chúng ta và họ cho rằng cần phải có cuộc cải cách mới. Tuy nhiên cần phải hiểu đúng nghĩa từ “cải cách, cải chánh”. Cải chánh không phải là xem xét lại Kinh Thánh và tạo nên những học thuyết mới. Ngược lại nó luôn có nghĩa quay lại với Kinh Thánh. Nền tảng của mọi cuộc cải chánh xảy ra trong Hội thánh, làm tươi mới và đem đến sức mạnh mới cho Hội thánh, làm đổi thay cuộc đời của nhiều người – đó luôn là việc quay lại với Kinh Thánh.
Thế giới của chúng ta rất cũ. Có một câu hỏi: cái gì làm đầy dẫy cuộc sống con người? Khi đi tìm câu trả lời, chúng ta phát hiện ra rằng trong mọi thời đại người ta luôn làm một chuyện: ăn uống, cưới gả, xây dựng, mua bán, nhảy nhót, vui vẻ, giải trí, ăn kiêng và sex. Thế giới hiện đại cũng giống như thời Nô-ê, thời Chúa Jesus, thời các sứ đồ: cũng là sự băng hoại xuống cấp đạo đức như vậy, cũng là những tội lỗi như vậy, sự tuyệt vọng và sợ hãi như vậy.
Người La-mã là bậc thầy trong lĩnh vực quản lý và tổ chức xã hội. Hệ thống luật pháp của La-mã đã đạt đến đỉnh cao. Họ làm tất cả để đem đến trật tự cho xã hội, an sinh cho công dân, để tạo nên một loại hình xã hội lý tưởng. Nhưng họ bị thất bại. Chính trị và cách tổ chức an sinh xã hội không giải quyết được những nan đề thuộc phạm trù đạo đức.
Vào lúc đó xuất hiện một hiện tượng: Hội thánh Cơ đốc. Hơn 3000 người đã tái dựng một “thiên đường trên mặt đất”. Khi đọc sách Công vụ chương 2, Carl Marx đã nghĩ rằng đây là hình thái của một xã hội cộng sản, và nghĩ ra học thuyết chủ nghĩa cộng sản, cho rằng nguồn gốc của khổ đau là bất công trong việc phân chia tài sản trong xã hội. Nhưng việc phân chia lại tài sản xã hội và tăng trưởng kinh tế cũng không thể giải quyết được những nan đề thuộc phạm trù đạo đức. Chính vì điều này mà Đế quốc La-mã bị sụp đổ: người La-mã cổ đại thích tắm trong bể bơi rộng, và nếu điều kiện kinh tế cho phép, tắm trong bể bơi bằng vàng. Đó là cách tất cả các nền văn minh đi đến ngày tàn. Chỉ Tin Lành của Chúa Jesus mới có thể ngăn chặn sự hủy diệt . Hội thánh Cơ đốc là hy vọng duy nhất cho nhân loại. Nhưng chúng ta biết gì về Hội thánh?
Chương 2 Công vụ cho chúng ta một bức tranh chính xác: Hội thánh được tạo nên để anh em thông công với nhau.
I – Sự thông công Cơ đốc là gì (42)
Chúng ta xem câu 41-42 “41Vậy, những kẻ nhận lời đó đều chịu phép báp-têm; và trong này ấy, có độ ba ngàn người thêm vào Hội thánh. 42Vả, những người ấy bền lòng giữ lời dạy của các sứ đồ, sự thông công của anh em, lễ bẻ bánh, và sự cầu nguyện.”
Những Cơ đốc nhân đầu tiên thường xuyên nhóm lại với nhau, và không chỉ thường xuyên mà còn rất vui vẻ nữa. Họ mong muốn được nhóm lại với nhau, thông công với nhau. Ngày nay người ta có khái niệm sai lầm về từ này.
Sự thông công thật không chỉ là có mặt tại các buổi thờ phượng. Nó là kinh nghiệm cuộc sống với nhau. Nó bao hàm những mạng lệnh yêu thương không vị kỷ, chân thành chia sẻ, tập thói quen phục vụ, sống ban cho cách hy sinh, yên ủi cảm thông, và mọi mạng lệnh “lẫn nhau” khác trong Thánh Kinh Tân Ước. Thông công có ý nghĩa một sự hiệp nhất sâu sắc, khác với “liên minh”. Liên minh không có nghĩa là hiệp nhất. Các liên minh chính trị chỉ là những liên kết tạm thời.
Một số người cho rằng thông công mang tính xã hội, giao lưu. Họ nghĩ rằng thông công là cùng ngồi uống trà ăn bánh với nhau, hay là có những mối quan hệ vui vẻ. “Thông công” bây giờ thường được dùng để ám chỉ những cuộc trò chuyện, giao tiếp, ăn uống và vui chơi. Câu hỏi là, “Bạn thông công ở đâu?” có nghĩa là “Bạn đi nhà thờ nào?” “Hãy ở lại để thông công” thường có nghĩa là “Xin chờ đến giờ trà đàm.” Bạn có thể ngồi cả ngày với một người ngoại, tốt bụng, thông minh lịch thiệp, vui vẻ với người đó, nhưng đó không phải là thông công.
Sự thông công không được biến thành một hình thức nào đó, bởi vì nó là thứ ngăn trở người ta đến với Hội thánh.
Trong từ điển từ “thông công” – một sự gắn bó sâu xa, mối quan hệ gần gũi mà thể hiện cao nhất đó là hôn nhân. Đó không có nghĩa là một mối quan hệ hời hợt, nửa vời. Các Cơ đốc nhân được tái sanh trở thành một gia đình chung, được gắn kết với nhau bởi những sợi dây yêu thương đời đời. Theo Tân Ước, sự thông công giúp chúng ta xác định, tôi có phải là Cơ đốc nhân hay không. Sứ đồ Giăng viết: “Chúng ta biết rằng mình đã vượt khỏi sự chết qua sự sống, vì chúng ta yêu anh em mình. Còn ai chẳng yêu thì ở trong sự chết.” (1 Giăng 3:14)
Khi chúng ta đọc Công vụ 2:44-45 “44Phàm những người tin Chúa đều hiệp lại với nhau, lấy mọi vật làm của chung. 45Bán hết gia tài điền sản mình mà phân phát cho nhau, tùy sự cần dùng của từng người.” Đây không phải là hình thái của một xã hội cộng sản. Cộng sản – đó là tất cả đem tài sản vào một hòm, rồi chia đều cho nhau. Theo nguyên tác, ý nghĩa ở đây là những Cơ đốc nhân yêu thương quan tâm đến nhau, và họ không để ai đó trong nghèo đói hoạn nạn. Những người khá giả luôn sẵn sàng bán đi một phần gia sản của mình để giúp đỡ anh em khác túng thiếu. Nói cách khác, sở hữu tư nhân phục vụ cho lợi ích chung. Giống như các thành viên trong gia đình tương trợ lẫn nhau trong lúc khó khăn, thì các Cơ đốc nhân sẵn sàng giúp đỡ anh chị em mình trong Chúa. Sự gắn bó, đồng lòng làm cho Cơ đốc nhân khác biệt.
Ở đây chúng ta nhắc lại lời sứ đồ Giăng: “Chúng ta biết rằng mình đã vượt khỏi sự chết qua sự sống, vì chúng ta yêu anh em mình.”
II –Điều gì là nền tảng cho sự thông công Cơ đốc?
Có 3 yếu tố quan trọng tạo nên sự thông công của anh em trong Hội thánh.
1/ Nhờ chung một bản chất mới, nhờ sự tái sanh. 2 Cor. 6:14 “Chớ mang ách chung với kẻ chẳng tin. Bởi vì công bình với gian ác có hội hiệp nhau được chăng? Sự sáng với sự tối có thông đồng nhau được chăng?” Khi chúng ta có trong mình bản chất mới, mang sự sống của Đức Thánh Linh, và khi chúng ta phát hiện ra sự sống đó trong người khác, thì chúng ta liền bước vào mối thông công với người đó. Chúng ta nói cùng một ngôn ngữ và hiểu nhau, mặc dù có thể thuộc về những sắc tộc khác nhau.
2/ Nhờ có chung một giáo lý, sự giảng dạy của các sứ đồ. Chúng ta có sự cứu rỗi chung, và có chung một nền tảng giáo lý về chân lý. Chúng ta có thể không đồng ý với nhau ở những điểm khác biệt nhỏ, nhưng đồng ý với nhau ở những câu hỏi lớn quan trọng. Cơ đốc nhân có thể nói bằng nhiều ngôn ngữ, nhưng về Tin Lành thì họ chỉ nói bằng một ngôn ngữ.
3/ Yếu tố thứ 3 – sự tin cậy và cởi mở chân thành. Đây là điều kiện bắt buộc để xây dựng mối thông công chân thành.
Đây là 3 yếu tố quan trọng làm nền cho sự thông công anh em, giúp cho họ “bền lòng giữ lời dạy của các sứ đồ, sự thông công của anh em”. Họ có chung những quan điểm và sở thích. Sự sống mới mà họ nhận được qua sự tái sanh trở nên quan trọng nhất đối với họ.
Nhưng mà ngày hôm qua mọi sự đều rất khác. 3000 người sống theo lề thói của thế gian, thỏa mãn các ham muốn xác thịt, sống để vinh danh cái “tôi”. Rồi Đức Thánh Linh đụng chạm họ cách sâu xa thông qua bài giảng của sứ đồ Phi-e-rơ. Họ ăn năn và nhận được sự sống mới. Họ tách khỏi thế gian cho một cuộc sống mới. Ngày hôm nay tất cả quan điểm của họ, thế giới quan của họ hoàn toàn thay đổi. Sứ đồ Phi-e-rơ làm một khẳng định vĩ đại: “9Nhưng anh em là dòng giống được lựa chọn, là chức thầy tế lễ nhà vua, là dân thánh, là dân thuộc về Đức Chúa Trời, hầu cho anh em rao giảng nhân đức của Đấng đã gọi anh em ra khỏi nơi tối tăm, đến nơi sáng láng lạ lùng của Ngài; 10anh em ngày trước không phải là một dân, mà bây giờ là dân Đức Chúa Trời, trước không được thương xót, mà bây giờ được thương xót.” (1 Phi-e-rơ 2:9-10) Trước đây chúng ta ở trong sự tối tăm, và thông công với con cái của sự tối tăm, nhưng giờ đây chúng ta ở trong sự sáng và bị cuốn hút đến với con cái của sự sáng. Chúng ta hiểu ra rằng chúng ta là tạo vật mới và không thuộc về sự tối tăm nữa. Chúng ta đã chuyển cư. Trước đây không phải là một dân, còn bây giờ là công dân Nước Trời. Trước đây chúng ta sống vô trách nhiệm, không vâng phục, ngu dốt và không suy nghĩ. Giờ đây chúng ta được tự do. Cơ đốc nhân chưa trở thành người hoàn thiện, và có khả năng vô tình phạm tội lỗi, nhưng chúng ta không còn sống trong tội lỗi nữa.
Chúng ta đã trở thành “dòng giống được lựa chọn, là chức thầy tế lễ nhà vua, là dân thánh, là dân thuộc về Đức Chúa Trời”. Đấy chúng ta đã trở thành ai nhờ sự tái sanh. Đức Thánh Linh đem đến cho chúng ta địa vị và bản chất mới, giờ đây chúng ta thuộc về gia đình của Vua, hoàng thất. Khi nhận thức được điều này, chúng ta nỗ lực ở trong mối thông công với các hoàng thất khác. Chúng ta cũng sẽ nhận thức được địa vị cao quý của mình và có những tư tưởng và hành vi tương xứng.
Thế thì, chúng ta trở thành dòng giống được lựa chọn, thầy tế lễ nhà vua để làm gì? Có mục đích gì? Câu trả lời là để “rao giảng nhân đức của Đấng đã gọi anh em ra khỏi nơi tối tăm, đến nơi sáng láng lạ lùng của Ngài”. Đó là chuyện quan trọng nhất.
Những Cơ đốc nhân ở Jerusalem nói: «Trong cuộc đời của tôi đã xảy ra những thay đổi diệu kỳ, nhưng chuyện gì sẽ xảy ra với người thân của chúng ta? Với bạn bè? Láng giềng? Họ không biết gì hết cả. Tôi muốn nói cho họ biết, nhưng chính bản thân còn biết quá ít. Chúng ta cần phải được học thêm. Còn nhiều câu hỏi khó mà chúng ta chưa trả lời được. Cần phải đào sâu sự giảng dạy của các sứ đồ. Tôi cũng muốn đi rao giảng nhân đức của Đức Chúa Trời. Tôi giờ đây là thầy tế lễ của Hoàng Đế. Thế gian đang đi xuống hỏa ngục, đang chết dần chết mòn. Thế những họ không biết gì, cũng không có ai nói cho họ cả. Chúng ta cần phải kể cho họ biết về một sự sống khác, sự sống đời đời của Đức Chúa Trời”.
Leave a Reply
Bạn phải đăng nhập để gửi phản hồi.