Câu khóa 1:46-47
Phân đoạn Kinh thánh này có tên gọi là bài ca của Ma-ri. Bài ca này còn được gọi là “Magnificat” (theo từ đầu tiên trong câu đầu tiên «Magnificat anima mea Dominum») – là lời ca ngợi của Ma-ri trong phiên bản tiếng Latin. Trong lễ thờ phượng của Giáo Hội Công Giáo Magnificat là một trong những ca khúc Thánh kinh chính trong cao trào của kinh chiều. Trong Giáo hội Anh giáo Magnificat là một trong hai bài hát kinh chiều không thay đổi. Trong Giáo hội Lutherian Magnificat được hát bằng cả tiếng Latin và tiếng Đức (dịch bởi Martin Luther «Meine Seele erhebt den Herrn»). Trong Giáo hội Chính thống được gọi là “Bài hát của Đức mẹ đồng trinh”. Chủ đề của bài ca là về Chúa Cứu Thế, đó là Đấng Messiah. Đấng Messiah đã thay đổi thế giới và cuộc sống của Ma-ri như thế nào? Đấng Messiah là ai đối với cô và Ngài đã làm những gì cho cô?
Năm nay, để chuẩn bị cho Lễ Giáng sinh, Đức Thánh Linh đã thu hút sự chú ý của chúng ta đến phân đoạn Kinh thánh này. Chúng ta hãy chuẩn bị tấm lòng chúng ta và lắng nghe những gì Đức Thánh Linh muốn dạy chúng ta hôm nay. Amen.
- «Linh hồn tôi ngợi khen Chúa” (46-47)
Ma-ry là một cô gái quê giản dị ở Nazareth. Cô đã đính hôn với Giô-sép, một thợ mộc bình thường. Cả hai đang chuẩn bị cho một đám cưới hạnh phúc. Vào một ngày đẹp trời một thiên sứ hiện ra với Mary và công bố kế hoạch của Đức Chúa Trời, rằng Ngài muốn sử dụng cô để cho Đấng Cứu Thế giáng sinh. Kế hoạch của Đức Chúa Trời sẽ phá vỡ ước mơ của cô, thay đổi toàn bộ cuộc sống cá nhân. Mary do dự, nhưng cuối cùng, đã quyết định: “Tôi đây là tôi tớ Chúa; xin sự ấy xảy ra cho tôi như lời người truyền!”(Luca 1: 38). Mary là một trinh nữ, mà lại mang thai khi chưa lấy chồng. Hoàn cảnh này rất nguy hiểm cho cô. Cô có thể bị ném đá đến chết theo luật pháp thời đó. Giô-sép yêu dấu của cô có thể nghĩ rằng cô đã phạm tội phản bội, anh có thể sẽ bị thất tình nặng đến mức từ mặt cô hoặc nhảy cầu tự tử. Việc Mary mang thai có thể gây ra tổn thương và đau đớn cho tất cả những người thân. Thêm nữa là việc mang thai của cô sẽ hủy phá tất cả ước mơ, hạnh phúc, cuộc sống cá nhân. Ở vị trí này, chúng ta nghĩ rằng không có gì để vui mừng. Trong cuộc sống của chúng ta, thường có những lúc dường như không có gì để ca ngợi Đức Chúa Trời cả: con cái bị bệnh tật, thất nghiệp, bệnh viêm màng túi tấn công, mẹ mỗi ngày khóc lóc: “Khi nào con lấy chồng? hoặc lấy vợ?”; người chị em tôi thích lại chê tôi, khủng hoảng ở Ukraine vẫn tiếp diễn, khách hàng không trả nợ … Chúng ta dễ dàng ca ngợi Chúa khi Ngài ban phước cho chúng ta. Còn khi không có gì cả?
Chúng ta xem câu 46-47. “Ma-ri bèn nói rằng: Linh hồn tôi ngợi khen Chúa, tâm thần tôi mừng rỡ trong Đức Chúa Trời, là Cứu Chúa tôi.” Chúng ta thường nghĩ rằng: “tôi sẽ tôn vinh Chúa vì cái gì đây?” Khi Mary nghĩ về Thiên Chúa, sự oai nghi của Chúa, vinh hiển của Ngài, linh hồn cô được đầy dẫy sự ngợi khen. Không có lý do tại sao chúng ta ca ngợi Chúa: Chúa đã ban cho một cái gì đó, hoặc không ban cho bất cứ điều gì. Mary ca ngợi Chúa không có lý do. Đức Chúa Trời xứng đáng nhận được sự ngợi khen và tôn vinh, vì Ngài là Đấng Tạo Hóa. Ngài đã tạo ra cả vũ trụ, và mỗi tạo vật phải tôn vinh ca ngợi Đấng Tạo Hóa. Đó là mục đích và lý do tồn tại của tất cả các tạo vật.
Sách Khải Huyền nói cho chúng ta biết Chúa Giê-su là ai. “Tôi lại nghe mọi vật dựng nên trên trời, dưới đất, bên dưới đất, trên biển, cùng mọi vật ở đó đều nói rằng: Chúc cho Đấng ngồi trên ngôi cùng Chiên Con được ngợi khen, tôn quí vinh hiển và quyền phép cho đến đời đời!“ (Khải 5:13). Khi một người gặp được Đức Chúa Trời hằng sống, anh ta sẽ nhìn thấy vinh quang của Chúa, và anh ta sẽ ngợi khen Chúa. Con người của đức tin – đó là người luôn sẵn sàng ca ngợi Chúa, thậm chí không có lý do.
Nhà tiên tri Habacúc liên tục phàn nàn với Chúa. Ông thấy người Canh-đê đến tiêu diệt Israel và nhạo báng dân của Chúa chọn. Có một câu hỏi luôn dày vò ông: “Tại sao trên thế giới những kẻ ác lại sống sung sướng?” Nhưng khi ông đứng trên tháp canh và bắt gặp đôi mắt của Chúa, tại thời điểm đó sự than vãn của ông biến thành một bài ca ngợi khen Chúa. Ông ca ngợi Chúa như sau: “Vì dầu cây vả sẽ không nứt lộc nữa, Và sẽ không có trái trên những cây nho; Cây ô-li-ve không sanh sản, Và chẳng có ruộng nào sanh ra đồ ăn; Bầy chiên sẽ bị dứt khỏi ràn, Và không có bầy bò trong chuồng nữa. Dầu vậy, tôi sẽ vui mừng trong Đức Giê-hô-va, Tôi sẽ hớn hở trong Đức Chúa Trời của sự cứu rỗi tôi. Đức Giê-hô-va là Chúa, là sức mạnh của tôi, Ngài làm cho chân tôi giống như chân con hươu, Khiến tôi đi trên các nơi cao của mình.“ (Hab. 3: 17-19) Người có đức tin không thể không ca ngợi Chúa!
Mary là một người phụ nữ của đức tin. Khi Mary gặp được Hài nhi Thiên Chúa, cô không thể không ca ngợi Chúa. Linh hồn cô tràn đầy vinh quang của Đấng Cứu Thế, và tình yêu của Chúa trên trời, sự khiêm nhường, sự vĩ đại của Ngài. Ai có thể không ca ngợi Chúa? Chúa Giêsu đã đến như một hài nhi đáng thương để giáng sinh trong chúng ta. Chúa Giêsu muốn được giáng sinh trong mỗi chúng ta. Nhưng chỉ có người có đức tin dám chấp nhận ý Chúa và vâng theo Lời của Ngài, như Ma-ri, mới có thể gặp được Đấng Cứu Thế. Chúa Giêsu đang tìm kiếm những con người có đức tin như vậy. Những ai bởi đức tin tiếp nhận Chúa Giêsu là Đấng Cứu Thế, Đấng Cứu Thế sẽ được giáng sinh trong người đó, và người đó sẽ không thể không ngợi khen Chúa, như Ma-ri đã làm trong lễ Giáng sinh đầu tiên.
Giáng sinh không chỉ là một ngày lễ hay là ngày sinh của Chúa Giêsu. Giáng sinh – là Đấng Cứu Thế đến với tôi, và tôi ngợi khen Chúa với tất cả trái tim của mình. Chúng ta sẽ đón chờ lễ Giáng sinh như thế nào? Bây giờ Đấng Cứu Thế đã bước vào trái tim của bạn chưa? Bạn đã sẵn sàng để ca ngợi Chúa chưa? Bạn đã có sự vui mừng phấn khởi chưa?
Chúng ta là tạo vật của Đức Chúa Trời. Chúng ta phải tạ ơn Đấng Tạo Hóa. Hơn nữa, nhờ sự hy sinh của Chúa Giêsu, chúng ta trở nên con cái của Chúa. Mục đích của sự cứu rỗi của chúng ta – để tôn vinh Chúa. Đây là công việc đời đời của chúng ta trong vương quốc đời đời của Đức Chúa Trời. Trên Thiên đàng chúng ta không còn phải kiếm tiền, chúng ta sẽ không phải lấy vợ lấy chồng, sẽ không cần xe hơi, không cần phải làm giấy định cư. Tất cả các ngành nghề trần gian và công việc đánh mất ý nghĩa ở trên trời. Thậm chí không phải phục vụ sứ mệnh nữa. Sẽ không cần phải rao giảng Tin Mừng, không cần phải học Kinh thánh. Nhưng có một điều còn mãi mãi – hát ca ngợi và tôn vinh Chúa. Một khi vấn đề này có một giá trị vĩnh cửu, chúng ta sẽ chú ý hơn đến nó. Ngay bây giờ tôi phải học cách sống trong cõi đời đời.
Chúng ta xem câu 47: “Tâm thần tôi mừng rỡ trong Đức Chúa Trời, là Cứu Chúa tôi“. Khi chúng ta tôn vinh Chúa trong bất kể hoàn cảnh nào, thì lòng của chúng ta nhận được sức mạnh và niềm vui từ chính Chúa. Chúa Thánh Linh làm đầy dẫy chúng ta với niềm vui thiên thượng. Đó không phải là kiến thức thần học. Nó thực sự có thật. Trong câu này, Ma-ri hát về Đấng Messiah. Đức Chúa Trời Cứu Thế – đó chính là Đấng Messiah.
Tiếp theo Mary kể về những công việc của Đấng Messiah. Đấng Cứu Thế đã làm gì cho cô?
- Đấng Messiah làm gì?(48-56)
Chúng ta xem câu 48. “Vì Ngài đã đoái đến sự hèn hạ của tôi tớ Ngài. Nầy, từ rày về sau, muôn đời sẽ khen tôi là kẻ có phước.” Trong bản gốc, từ “hèn hạ” chỉ về một địa vị xã hội thấp hèn của Ma-ri. Nói cách khác, cô không thể nghĩ rằng Đức Chúa Trời sẽ để ý đến cô và sử dụng cô cho một sứ mệnh vĩ đại như vậy. Đấng Messiah đã thay đổi cuộc sống của một cô gái quê Mary một cách thật vĩ đại.
Hãy xem những gì Đấng Messiah làm khi Ngài đến. Chúng ta xem câu 50-53. “Và Ngài thương xót kẻ kính sợ Ngài từ đời nầy sang đời kia. Ngài đã dùng cánh tay mình để tỏ ra quyền phép; Và phá tan mưu của kẻ kiêu ngạo toan trong lòng. Ngài đã cách người có quyền khỏi ngôi họ, Và nhắc kẻ khiêm nhượng lên. Ngài đã làm cho kẻ đói được đầy thức ngon, Và đuổi kẻ giàu về tay không.“ Câu 51 nói về cánh tay của Đức Chúa Trời. Đương nhiên, đây là một phương pháp ẩn dụ. Quyền phép của cánh tay Chúa được bày tỏ qua Đấng Messiah: những gì Đấng Messiah làm. Ở đây tác giả dùng những cặp từ trái nghĩa để miêu tả sự công bình và sức mạnh của Đấng Messiah:
- Ngài thương xót kẻ kính sợ Ngài từ đời nầy sang đời kia; và Ngài đã hạ bệ người có quyền khỏi ngôi họ.
- Ngài nhấc kẻ khiêm nhượng lên, và phá tan mưu của kẻ kiêu ngạo toan trong lòng.
- Ngài đã làm cho kẻ đói được đầy thức ngon, và đuổi kẻ giàu về tay không.
Chúng ta hãy suy nghĩ về những ý nghĩ này:
1) Đức Chúa Trời đã làm cho kẻ đói được đầy thức ngon, và đuổi kẻ giàu về tay không. Những con người đói nghèo đến với Đấng Cứu Thế và nhận được sự dư dật của ân sủng Ngài và vương quốc đời đời. Và khi những người giàu có gặp Đấng Cứu Thế, họ thấy mình là người nghèo trước mặt Ngài. Họ đem bán tất cả tài sản của họ để mua vương quốc đời đời. Đấng Messiah thay đổi tất cả: cả người nghèo và người giàu.Tất cả đều trở thành con cái của Ngài. Những người giàu có trở nên hạnh phúc, vì mặc dù trắng tay, nhưng họ có vương quốc của Chúa.
2) Đức Chúa Trời nhấc kẻ khiêm nhượng lên, và phá tan mưu của kẻ kiêu ngạo. Trong thế gian không có ai là khiêm nhường thực sự. Tất cả mọi người đều kiêu ngạo do tội lỗi. Nếu người ta không bỏ đôi kính kiêu ngạo ra khỏi mắt, người ta không thể nào thấy được chính bản thân mình. Đây là bản chất của con người. Có những người rất khiêm tốn bên ngoài, không thích xung đột. Chúng ta nghĩ rằng, “Ồ, đây là một con người khiêm nhường.” Nhưng ai có thể cứu con người khỏi kiêu ngạo? Chỉ có Đấng Cứu Thế Giêsu. Chúa vinh hiển, Đấng Tạo Hóa của vũ trụ, Thượng Đế tối cao đã đến thế gian như một hài nhi trong máng cỏ. Và bằng cách đó Ngài đã làm cho tất cả những kẻ kiêu ngạo trở nên khiêm nhường. Làm sao mà chúng ta có thể không hạ mình khiêm nhường trước Hài nhi Jesus được? Chỉ có người điên hay người mù mới không thể hạ mình trước mặt Ngài. Khi Đấng Mesiah bước vào tấm lòng, Ngài là Đấng mạnh sức sẽ phá tan đi sự kiêu ngạo của mỗi người. Giáng sinh – là lễ hội của sự khiêm nhường.
3) Đức Chúa Trời tỏ lòng thương xót những ai kính sợ Ngài, nhưng Ngài đã hạ bệ người có quyền khỏi ngôi họ. Chúa tỏ lòng thương xót cho những ai kính sợ Ngài, đó là những người khiêm nhường. Nhưng Đức Chúa Trời đã lật đổ những kẻ hùng quyền từ đỉnh cao nhất của họ. Những nền văn minh của loài người được tạo nên và bị phá hủy, nhưng vương quốc của Đấng Messiah là mãi mãi. Chuyện kể lại là trước khi bắt đầu chiến dịch xâm chiếm nước Nga, Napoleon đã lưu ý Đại sứ Nga về ý định của mình “xoá sổ đế quốc Nga khỏi mặt đất.” Câu trả lời của Đại sứ như sau: “Con người dự tính, còn Đức Chúa Trời sắp đặt.” Napoleon nổi cáu: “Hãy nói cho Hoàng đế của ông rằng ta chính là người dự tính và tự sắp đặt!”
Vị thống soái vĩ đại đã qua những ngày cuối cùng của cuộc đời lưu vong trên đảo St. Helena của nước Anh. Tại đây ông đã viết hồi ký, trong đó bày tỏ những suy nghĩ cá nhân của mình. Những suy nghĩ đó sâu sắc như thế nào? Chúng ta có thể biết qua cuộc trò chuyện của ông với tướng Montholone, là người đã theo ông sống lưu vong trên St. Helena.
“Anh nghĩ gì về Chúa Jesus?” – Napoleon hỏi. Montholone trả lời: “Thưa ông chủ, tôi phải thú nhận rằng tôi chưa bao giờ nghĩ về chuyện này và chưa bao giờ nghĩ về vấn đề này.” “Thế thì càng tồi tệ hơn cho anh!” – Vị cựu hoàng đế nói và bắt đầu giãi bày những suy nghĩ đã làm ông bận tâm từ lâu:
“Trong những ngày vinh quang của tôi, tôi đã được người ta tôn trọng cao, nhiều người trong số họ sẵn sàng vui được chết cho tôi. Nhưng vẫn cần có sự hiện diện của tôi để truyền cảm hứng cho quân lính để đối mặt với cái chết. Còn giờ đây khi tôi đang trên đảo St Helena, ai chiến đấu cho tôi? Còn có ai vẫn trung thành với tôi không?
Ðó là số phận của những người vĩ đại! Có sự khác nhau một trời một vực giữa sự suy bại của tôi và sức mạnh vĩnh cửu của Con Đức Chúa Trời! Tôi vẫn chưa chết, nhưng công việc của tôi đã bị sụp đổ, trong khi đó Đức Chúa Jesus đã chết 19 thế kỷ trước, mà công việc của Ngài vẫn tồn tại như khi Ngài đang còn đi trên trái đất này. Ngài thậm chí còn không sợ cái chết của mình, Ngài đã bình thản chờ đợi nó.
Ngài là người duy nhất, sau khi chết, vẫn còn sống và đầy uy quyền. Hầu như ở mọi góc trên thế giới Lời Ngài được rao giảng, người ta yêu mến Ngài và cầu nguyện với Ngài… Alexander Macedonia, Julius Caesar, Carl đại đế, và tôi – chúng tôi đã sáng lập ra các quốc gia hùng mạnh, nhưng quyền thế của chúng tôi dựa trên cái gì? Sức mạnh! Chúa Jesus Christ thành lập vương quốc của mình trên tình yêu và bây giờ hàng ngàn người sẵn sàng vui mừng dâng hiến cuộc sống của mình cho Ngài. Chúa Jesus là người chinh phục thật, Ngài thống nhất, không chỉ là một dân tộc, nhưng tất cả nhân loại với chính Ngài. Thật là một phép lạ! Linh hồn con người với tất cả khả năng của mình cảm thấy một mối quan hệ chặt chẽ với sự tồn tại của Chúa Jesus. Và tại sao? Nhờ một phép lạ mà vượt qua tất cả các phép lạ. Chúa Jesus là tình yêu và Ngài muốn ban tình yêu này cho mọi người và chinh phục trái tim của họ, đó là tất cả những gì Ngài muốn. Và người ta hiến dâng trái tim cho Ngài! Tất cả những kẻ chinh phục, với tất cả tài năng của họ đã bị thất bại thảm hại, bởi lẽ sau khi chinh phục thế giới, họ đã không kiếm nổi được một người bạn. Mối tương giao kết nối Chúa Jesus với những người được chuộc là mối liên hệ thiêng liêng và mạnh mẽ nhất… Điều này làm tôi thán phục vô cùng và tôi càng nghĩ, tôi càng tin vào thiên tính của Chúa Jesus Christ, tôi tin chắc rằng Chúa Jesus không phải chỉ là một con người, Ngài là Đức Chúa Trời!”
Chúng ta xem câu 54-55. “Ngài đã vùa giúp Y-sơ-ra-ên, tôi tớ Ngài, Và nhớ lại sự thương xót mình. Đối với Áp-ra-ham cùng con cháu người luôn luôn, Như Ngài đã phán cùng tổ phụ chúng ta vậy.” Những câu này cho chúng ta thấy sự thành tín của Đức Chúa Trời. Sự thành tín này cũng được bày tỏ cho chúng ta ngày hôm nay, và cho tất cả những ai sẽ chuẩn bị trái tim mình cho Đấng Cứu Thế. Nếu chúng ta thực lòng nói với Đấng Messiah: “Lạy Chúa, xin hãy đến và ngự trị trong con”, Đức Chúa Trời nhất định sẽ sai Đấng Cứu Thế đến với tâm hồn chúng ta, và khi Đấng Cứu Thế đến, Ngài sẽ thay đổi cuộc đời của bất kỳ người nào, và để xây dựng trong đó vương quốc đời đời của Ngài. Amen.
Leave a Reply
Bạn phải đăng nhập để gửi phản hồi.