Và người ta nghe là nghe lời của Đức Chúa Trời (Rô-ma 10:1-21)

2025 Thư gửi tín hữu Rôma chương 10

người ta nghe là nghe lời của Đức Chúa Trời.

Rô-ma 10:1-21

Câu gốc 10:17

* Rô-ma chương 10 giải thích lý do tại sao dân Y-sơ-ra-ên không thể được cứu rỗi. Họ để thiết lập nền tảng công chính của riêng mình đã không chấp nhận sự công chính của Đức Chúa Trời. Cuối cùng, sự bất tuân là nguyên nhân. Sứ đồ Phao-lô đã làm rõ điều này, đồng thời cũng tiết lộ rằng sự cứu rỗi được thực hiện thông qua Lời Chúa. Trong đoạn Kinh Thánh này, chúng ta sẽ suy ngẫm về tầm quan trọng của việc lắng nghe Lời Chúa.

  1. Sứ đồ Phao-lô mong muốn và cầu nguyện về điều gì (1)? Tại sao dân Y-sơ-ra-ên, dù rất sốt sắng với Đức Chúa Trời, lại không được cứu rỗi (2,3)? Tại sao người tin vào Đấng Christ nhận được sự công chính của Đức Chúa Trời (4)?

1Hỡi anh chị em, lòng tôi ao ước và cầu xin Đức Chúa Trời cho họ được sự cứu rỗi. 

Phao-lô bày tỏ tình yêu thương và lời cầu nguyện tha thiết của mình dành cho dân Y-sơ-ra-ên. Ông vô cùng mong muốn sự cứu rỗi cho dân mình và cầu nguyện với Đức Chúa Trời về điều đó. Điều này được hiểu trong cùng bối cảnh với nỗi đau buồn mà ông đã bày tỏ trước đó trong 9:1-5.

Chúng ta học được gì từ lời cầu nguyện của Phao-lô? Ông cầu nguyện tha thiết cho dân mình vì một lý do: ông là người tin nhận Tin lành trước họ. Chúng ta cầu nguyện như thế nào cho các bạn trẻ sinh viên trên khắp thế giới và cho những người xung quanh chúng ta? Đây chính là tấm lòng của Đức Chúa Trời và tấm lòng của Chúa Giê-su. Liệu tôi có một tấm lòng của một người chăn chiên sốt sắng như vậy không?

2Vì tôi làm chứng cho họ rằng họ có lòng sốt sắng về Đức Chúa Trời, nhưng không theo sự hiểu biết. 3Vì không nhận biết sự công chính của Đức Chúa Trời, họ tìm cách thiết lập sự công chính riêng, họ không thuận theo sự công chính của Đức Chúa Trời. Dân Y-sơ-ra-ên sốt sắng phục vụ Đức Chúa Trời. Tuy nhiên, lòng sốt sắng của họ bắt nguồn từ sự thiếu hiểu biết thuộc linh. Không hiểu biết sự công chính của Đức Chúa Trời, họ tìm cách thiết lập sự công chính riêng của mình, trái ngược với sự công chính của Đức Chúa Trời. Phao-lô hiểu rõ hơn ai hết lòng sốt sắng thiếu hiểu biết của người Do Thái, vì trước kia, chính ông đã có lòng sốt sắng như vậy. Ông đã bắt bớ những người theo Chúa Giê-su. Tuy nhiên, là một người Pha-ri-si, ông lại tự cho mình là công chính trong khi bắt bớ bách hại Cơ đốc nhân.

Để được xưng công chính trước mặt Đức Chúa Trời, chúng ta phải được mặc lấy sự công chính của Ngài. “Sự công chính của Đức Chúa Trời” là sự công chính được Đức Chúa Trời công nhận. Sự công chính được Đức Chúa Trời công nhận là tin vào Chúa Giê-su, Đấng đã bị đóng đinh và chết thay cho chúng ta vì cớ tội lỗi của chúng ta. Chỉ nhờ đức tin mà chúng ta mới được Đức Chúa Trời công nhận là công chính. Cho dù chúng ta hy sinh bản thân mình để phục vụ Đức Chúa Trời đến đâu hay đi nhà thờ bao lâu đi nữa, nếu chúng ta không có sự công chính của Đức Chúa Trời, chúng ta không thể làm đẹp lòng Đức Chúa Trời (Hê-bơ-rơ 11:6). Vấn đề đầu tiên của họ là sự bất tuân. Con đường cứu rỗi không nằm ở những suy nghĩ và việc làm tốt của tôi, mà nằm ở sự vâng phục những gì Đức Chúa Trời đã phán. Vấn đề thứ hai của họ là sự kiêu ngạo.

Con người thường tin vào sự công chính của chính mình và phán xét người khác. Đó là bản chất của người Do Thái, và cũng là bản chất của tất cả mọi người. Tuy nhiên, những người không nhận ra tội lỗi của mình lớn lao đến mức nào trước mặt Chúa thì không thể bước vào thế giới đức tin, thế giới ân điển. Trong cộng đồng tín hữu, thường có những người coi thường người khác, tự cho mình là người thánh khiết và công chính nhất. Kiêu ngạo là tội lỗi khủng khiếp. Chúng ta phải tự hỏi mình: “Có bao nhiêu người đã đau khổ vì sự kiêu ngạo của tôi?” Càng trưởng thành, người tin Chúa càng mất đi sự tự mãn, và chỉ còn lại sự công chính của Chúa, mang đến sự khiêm nhường.

4 vì Đấng Christ là sự cuối cùng của luật pháp, đặng xưng mọi kẻ tin là công bình. Từ “kết thúc” (telos) được dùng để chỉ vạch đích của một cuộc đua. “Chúa Giê-su là sự kết thúc của luật pháp” có nghĩa là Ngài đã hoàn thành tất cả các yêu cầu của luật pháp.

Chúa Giê-su không đến để bãi bỏ luật pháp. Luật pháp do Đức Chúa Trời ban cho là tốt lành. Tuy nhiên, vấn đề là con người yếu đuối và không thể sống theo những đòi hỏi của luật pháp. Vì vậy, luật pháp luôn lên án chúng ta và mang đến sự phán xét và hình phạt. Chúa Giê-su đã chịu đóng đinh trên thập tự giá thay cho chúng ta và chết trên thập tự giá, đổ huyết Ngài vì tội lỗi chúng ta. Ngài đã trả giá trọn vẹn cho tội lỗi chúng ta. Vì vậy, chỉ nhờ đức tin nơi Chúa Giê-su mà chúng ta mới nhận được sự công chính của Đức Chúa Trời và có thể sống trong mối quan hệ đúng đắn với Ngài. Vì Chúa Giê-su đã chấm dứt luật pháp, chúng ta không còn cần phải cố gắng đạt được sự cứu rỗi thông qua việc làm của riêng mình theo luật pháp nữa (vì chúng ta đã được cứu rỗi và trở thành con cái Chúa, thì chúng ta nhờ cậy quyền năng của Đức Thánh Linh để thực hiện luật pháp và sống tương xứng với địa vị Hoàng gia của mình – nghĩa là sự cứu rỗi có trước – luật pháp đi sau). Giờ đây, sự cứu rỗi sẵn có cho mọi người qua đức tin, bất kể họ là người Do Thái hay người ngoại. Phao-lô rất mong muốn người Do Thái cũng nhận được sự cứu rỗi qua đức tin nơi Chúa Giê-su.

  1. Môi-se viết về sự công chính của luật pháp như thế nào (5)? ​​​​(Xem Lê-vi 18:5) Còn về sự công chính của đức tin thì sao (6,7)? (Xem Phục truyền luật lệ ký 30:10-14) Sự cứu rỗi đang ở gần đến mức nào (8)?

Phao-lô trích dẫn một số đoạn Kinh Thánh Cựu Ước để chứng minh rằng Đức Chúa Trời ban đầu dự định ban ơn cứu rỗi cho con người qua đức tin nơi Chúa Giê-su Christ, Đấng là sự trọn vẹn của luật pháp.

5 Vả, Môi-se luận sự công bình đến bởi luật pháp cách nầy: Hễ ai làm theo điều đó thì nhờ đó mà sống. Phao-lô trích dẫn Lê-vi ký 18:5, Phục truyền luật lệ ký 30:11–14.

Sự công chính bởi luật pháp: sự công chính bởi việc làm của tôi.

Sự công chính bởi đức tin: sự công chính bởi đức tin nơi Chúa Giê-su.

Lê-vi ký 18:5: “Các ngươi phải giữ các luật lệ và các phán quyết của Ta; ai làm theo thì sẽ sống. Ta là Đức Giê-hô-va, Đức Chúa Trời của các ngươi.” Đây là sự công chính của Cựu Ước, sự công chính của luật pháp Môi-se. Những ai giữ luật pháp trọn vẹn sẽ nhận được sự sống bởi “sự công chính của luật pháp”. Vì vậy, những ai muốn được cứu rỗi bởi luật pháp phải giữ luật pháp một cách trọn vẹn. Y-sơ-ra-ên muốn đạt được sự cứu rỗi chính bằng cách này. Tuy nhiên, câu hỏi đặt ra là: liệu một người có thể giữ luật pháp từ đầu đến cuối không? Không, không ai cả… Tất cả mọi người đều đã thất bại. Điều đó là không thể. Tuy nhiên, một con đường mới đã mở ra. Đó là sự công chính của Đức Chúa Trời, mà chính Đức Chúa Trời đã chuẩn bị cho chúng ta là những kẻ tội lỗi. Sự công chính của Đức Chúa Trời là gì? Con người đã phá vỡ giao ước với Đức Chúa Trời. Tuy nhiên, Đức Chúa Trời là thành tín và nhân từ. Ngài yêu thương họ đến cùng và hoàn thành giao ước của Ngài. Và Ngài đã ban cho họ một con đường cứu rỗi—qua đức tin nơi Chúa Giê-su . Sự công chính của Đức Chúa Trời qua đức tin không phải là một con đường khó khăn. Đó là một con đường rất đơn giản. Phao-lô giải thích sự công chính của đức tin như sau:

6 Nhưng sự công bình đến bởi đức tin, thì nói như vầy: Chớ nói trong lòng ngươi rằng: Ai sẽ lên trời? ấy là để đem Đấng Christ xuống; 7 hay là: Ai sẽ xuống vực sâu? ấy là để đem Đấng Christ từ trong kẻ chết lại lên. Lên trời và xuống vực sâu” có nghĩa là những nỗ lực không cần thiết để lặp lại công việc của Đấng Christ. Sự cứu rỗi không đạt được bằng những phương cách anh hùng như vậy, mà đến đơn giản bởi đức tin. Sự công chính đến bởi đức tin không phải là con đường khó khăn như việc lên trời và đem Đấng Christ xuống, cũng như việc xuống vực sâu và đem Đấng Christ sống lại từ cõi chết. Đó không phải là việc làm của chúng ta; chính Đức Chúa Trời đã làm mọi sự để chúng ta có thể nhận được sự cứu rỗi chỉ nhờ lời đức tin mà thôi. Câu 8 tóm tắt điều đó như sau: “ 8 Nhưng nói làm sao? Đạo ở gần ngươi, ở trong miệng và trong lòng ngươi. Ấy là đạo đức tin mà chúng ta giảng dạy. ” Sự cứu rỗi không cần phải tìm kiếm ở nơi xa xôi, mà được đạt được nhờ đức tin mà chúng ta tuyên xưng bằng tấm lòng và môi miệng. Chúng ta phải nhớ rằng sự cứu rỗi là một món quà từ Thiên Chúa, dành cho tất cả mọi người. Chúng ta phải vô cùng biết ơn ân điển này. Sự cứu rỗi không phải là điều gì đó xa vời. Nó ở trong Lời Chúa. Có chép rằng: “Lời ở gần ngươi, trong miệng ngươi và trong lòng ngươi.” Nghĩa là, lời đức tin được rao giảng. Chúng ta không cần phải lên trời và đem Chúa Christ xuống hay xuống vực sâu và làm cho Chúa Christ sống lại. Chúng ta phải tự mình hoàn thành sự chết và sự phục sinh của Chúa Christ. Không, điều đó không cần thiết cũng không thể! Chính Thiên Chúa đã hoàn thành mọi sự. Nhiệm vụ của chúng ta là tin vào Lời Chúa. Lời ấy rất gần gũi với chúng ta, trong miệng và trong lòng chúng ta.

Câu 8 là trích dẫn từ Phục truyền luật lệ ký 30:11-14. Chương 28 và 29 của sách Phục truyền luật lệ ký dành riêng cho các phước lành và lời nguyền rủa, và chương cuối cùng mô tả câu chuyện về lời nguyền rủa. Chương 30 bắt đầu với sự kết thúc của thời kỳ lưu đày và sự phục hồi. Sách tiên tri rằng sau thời kỳ lưu đày, đất đai sẽ được trả lại, sự thờ phượng Đức Chúa Trời sẽ được phục hồi, và phước lành của Đức Chúa Trời sẽ được nhận lãnh. Trong tình huống này, dân Israel phải đối mặt với sự lựa chọn giữa con đường “sự sống và thịnh vượng” và con đường “sự chết và sự hủy diệt” (Phục truyền luật lệ ký 30:15). Tuy nhiên, ngay trước lời nói về sự lựa chọn, Phao-lô đã trích dẫn Phục truyền luật lệ ký 30:11-14. Điểm mấu chốt là mệnh lệnh của Đức Chúa Trời không hề khó khăn cũng không hề xa vời. Thay vào đó, lời ấy rất gần bạn, ở trong miệng và trong lòng bạn, để bạn có thể vâng phục (Phục truyền luật lệ ký 30:14). Phao-lô cho chúng ta biết rằng những điều đã được nói trong Phục truyền luật lệ ký chương 30 đã được ứng nghiệm trong Chúa Giê-su Christ, và tất cả những phước lành được tiên tri trong chương 30 đều rất gần với chúng ta nhờ Chúa Giê-su Christ. “Nó ở trong miệng và trong lòng bạn.”

  1. Làm thế nào để đạt được sự công chính và sự cứu rỗi (9,10)? Những lời hứa trong Kinh Thánh dành cho những người tin vào Ngài là gì (11)? Tại sao tất cả những ai kêu cầu danh Chúa đều được cứu rỗi (12,13)?

9 Vậy nếu miệng ngươi xưng Đức Chúa Jêsus ra và lòng ngươi tin rằng Đức Chúa Trời đã khiến Ngài từ kẻ chết sống lại, thì ngươi sẽ được cứu; 10 vì tin bởi trong lòng mà được sự công bình, còn bởi miệng làm chứng mà được sự cứu rỗi.  Phao-lô nhấn mạnh tầm quan trọng của đức tin và sự xưng nhận. Đức tin bắt đầu từ trong lòng, và sự cứu rỗi được hoàn thành thông qua việc xưng nhận đức tin đó bằng miệng. “Xưng nhận Chúa Giê-su là Chúa” có nghĩa là chấp nhận Chúa Giê-su Christ là Đấng Cứu Thế và thừa nhận quyền tối cao của Ngài. Hơn nữa, “tin rằng Đức Chúa Trời đã cho Ngài sống lại từ cõi chết” có nghĩa là thừa nhận quyền năng của sự phục sinh và tin chắc rằng Chúa Christ là Đấng Cứu Thế của chúng ta.

Sự cứu rỗi bắt đầu bằng đức tin. Chúng ta được cứu rỗi nhờ tin vào Chúa Christ bằng cả tấm lòng và xưng nhận Ngài là Chúa tể bằng môi miệng. Đoạn Kinh Thánh này cho thấy đức tin và sự xưng nhận không thể tách rời. Đức tin là sự biến đổi bên trong, còn sự xưng nhận là bằng chứng bên ngoài của đức tin đó. Chúng ta cần sự mạnh dạn và chân thành để xưng nhận Chúa Giê-su là Chúa trong cuộc đời mình.

11 Vả, Kinh-Thánh nói rằng: Kẻ nào tin Ngài sẽ chẳng bị hổ thẹn. 12 Trong người Giu-đa và người Gờ-réc không có sự phân biệt gì hết, vì họ có chung một Chúa, giàu ơn đối với mọi kẻ kêu xin Ngài. 13 Vì ai kêu cầu danh Chúa thì sẽ được cứu. Phao-lô khẳng định: ” Vì mọi người… ” Không có sự phân biệt giữa người Do Thái và người ngoại bang trong vấn đề cứu rỗi, và ông trích dẫn lời hứa trong Cựu Ước từ Joel 2:32: “Ai kêu cầu danh Chúa sẽ được cứu rỗi.” Điều này nhấn mạnh rằng sự cứu rỗi của Đức Chúa Trời là phổ quát và dành cho tất cả mọi người thông qua đức tin.

Sự cứu rỗi của Chúa không chỉ dành riêng cho một dân tộc hay một nhóm người cụ thể. Tất cả những ai tin vào Chúa Christ và cầu nguyện với Ngài đều sẽ được cứu rỗi. Chân lý phổ quát về sự cứu rỗi này nhắc nhở chúng ta về sứ mệnh chia sẻ Tin Mừng cho mọi người. Chúng ta không nên bằng lòng với việc chỉ nhận lãnh ân điển cứu rỗi, mà phải nỗ lực chia sẻ ân điển đó.

  1. Ai có thể kêu cầu danh Chúa (14a)? Những bước nào cần thiết để kêu cầu danh Chúa (14b-17)? Ở đây, hãy thảo luận về tầm quan trọng của việc truyền bá Phúc âm và những bàn chân tuyệt vời của những người mang tin mừng hòa bình.

14 Nhưng họ chưa tin Ngài thì kêu cầu sao được? Chưa nghe nói về Ngài thì làm thể nào mà tin? Nếu chẳng ai rao giảng, thì nghe làm sao? 15 Lại nếu chẳng ai được sai đi, thì rao giảng thể nào? như có chép rằng: Những bàn chân kẻ rao truyền tin Lành là tốt đẹp biết bao! Phao-lô giải thích một cách logic rằng cần có nhiều bước trong lịch sử cứu rỗi. Qua những câu Kinh Thánh này, Phao-lô chứng minh vai trò quan trọng của những người rao giảng Tin Mừng trong kế hoạch của Đức Chúa Trời.

  • ” Làm sao chúng ta có thể cầu nguyện với Đấng mà chúng ta chưa tin?” Sự cứu rỗi bắt đầu bằng việc cầu nguyện với Đức Chúa Trời, nghĩa là bằng việc nhận biết Ngài và tin vào Ngài.
  • “Làm sao chúng ta có thể tin vào Đấng mà chúng ta chưa từng nghe đến?” Đức tin đến từ sự nghe. Chúng ta phải nhớ rằng đức tin không chỉ đến từ cảm xúc, mà bắt đầu từ việc nghe Lời Chúa. Khi chúng ta nghe Lời Chúa, đức tin được sinh ra nhờ sự tác động của Đức Thánh Linh.
  • Làm sao người ta có thể nghe được nếu không có người rao giảng?” Việc nghe về Chúa chỉ có thể thực hiện được thông qua người rao giảng.
  • Và làm sao họ có thể rao giảng nếu không được sai đi?” Truyền bá Tin Mừng Tóm lại, sự cứu rỗi bắt đầu bằng việc Chúa sai phái ai đó. Chúa đã sai các nhà truyền giáo đến Odessa, dẫn đến sự cứu rỗi của các sinh viên tại các trường đại học ở Odessa. Và khi những người chăn chiên đến với bầy chiên, nhiều người đã được cứu rỗi. Trong bối cảnh này, Chúa đã sai phái những người chăn chiên ở Odessa đến các quốc gia khác nhau thông qua chiến tranh.
  • Như lời Kinh Thánh chép: ‘Đôi chân của người mang tin lành, người mang lời chúc phúc, thật đẹp biết bao!” Câu nói “đôi chân của người mang Tin lành” nhắc nhở chúng ta về giá trị và vẻ đẹp của công việc truyền bá Tin Mừng.

16 Nhưng chẳng phải mọi người đều nghe theo tin lành đâu; vì Ê-sai có nói rằng: Lạy Chúa, ai tin lời chúng tôi rao giảng? Phao-lô lập luận rằng mặc dù Phúc âm được rao giảng, nhưng không phải ai cũng chấp nhận nó. Ông trích dẫn Ê-sai 53:1 để chỉ ra rằng có những người nghe Phúc âm nhưng lại từ chối nó. Điều này nhấn mạnh thực tế rằng việc truyền giáo không phải lúc nào cũng được chào đón.

Việc rao giảng Tin Mừng có thể gặp phải sự từ chối và chống đối. Tuy nhiên, chúng ta không được tuyệt vọng. Sứ mệnh của chúng ta không phải là chịu trách nhiệm về kết quả, mà là rao truyền Tin Mừng của Đức Chúa Trời. Chúng ta phải cầu nguyện cho những người nghe Tin Mừng nhưng không vâng phục, và chúng ta phải tiếp tục rao giảng Lời Chúa. Vì vậy, Phao-lô kết luận rõ ràng: 17 Như vậy, đức tin đến bởi sự người ta nghe, mà người ta nghe, là khi lời của Đấng Christ được rao giảng.

Trong câu Kinh Thánh này, chúng ta có thể học được hai lẽ thật về lịch sử cứu rỗi thông qua Lời Chúa. Thứ nhất, Sự cứu rỗi được thực hiện thông qua việc nghe Lời Chúa . “Đức tin đến từ việc nghe rao giảng, và rao giảng Lời của Đức Chúa Trời.” Sự cứu rỗi được thực hiện thông qua Lời Chúa. Không ai được cứu rỗi nếu không nghe Lời Chúa. Phật giáo dạy rằng người ta có thể thấu hiểu chân lý và đạt được sự giải thoát thông qua thiền định. Tuy nhiên, chưa ai từng thấu hiểu chân lý của Phúc Âm thông qua thiền định và được cứu rỗi. Chúng ta hoặc đọc Kinh Thánh hoặc nghe lời Chúa từ một người nào đó, và do đó chúng ta có đức tin trong lòng và đã nhận được sự cứu rỗi. Vì vậy, để có đức tin, chúng ta phải đọc, học hỏi và lắng nghe Lời Chúa bằng cả tấm lòng. Tôi chỉ ngồi đó không làm gì cả, nhưng đức tin cứ lớn dần lên. — điều đó không bao giờ xảy ra như vậy. Bằng cách liên tục đọc, học hỏi và lắng nghe lời Chúa, chúng ta sẽ có được đức tin vững chắc.

Thứ hai, tầm quan trọng của người rao giảng. Đức tin đến từ việc nghe Lời Chúa. Để nghe Lời Chúa, bạn cần người rao giảng. Không có người rao giảng Lời Chúa, không ai có thể có được đức tin và đạt được sự cứu rỗi. Công việc cứu rỗi bắt đầu khi một người chia sẻ Tin Mừng với người khác. Khi tôi tặng Kinh Thánh cho người không biết gì về Tin Mừng, hoặc đọc cho họ nghe một lời Chúa, hoặc mời họ đến thờ phượng hoặc học Kinh Thánh, họ có thể nghe Tin Mừng và được cứu rỗi.

Đức Chúa Trời toàn năng, nhưng Ngài luôn hành động thông qua con người. Ngài chọn lựa và chuẩn bị những người có thể rao giảng Tin Mừng, rồi sai họ đi. Nhưng điều gì sẽ xảy ra nếu những người được chọn không rao giảng Tin Mừng? Chẳng có gì xảy ra cả. Ngay cả một tiến sĩ thần học cũng không thể cứu rỗi một người nào nếu họ không rao giảng Tin Mừng. Tuy nhiên, ngay cả khi một người chỉ học Kinh Thánh hai lần, nếu họ chia sẻ Lời mà họ đã học được, sự cứu rỗi sẽ đến qua người đó. Làm thế nào chúng ta có thể tự mình tìm thấy sự cứu rỗi? Không ai có thể tự mình nắm bắt được Tin Mừng hoặc được cứu rỗi. Chúng ta đến với đức tin và được cứu rỗi chỉ nhờ sự giúp đỡ của người khác, nhờ việc đi nhà thờ, nhờ học Kinh Thánh và nhờ nghe Lời Chúa. Đó là lý do tại sao Sứ đồ Phao-lô ca ngợi vẻ đẹp của những người mang Tin Mừng đến: “Đôi chân của những người mang Tin Mừng đến thật đẹp biết bao!” (15b).

Bàn chân là bộ phận bị bẩn nhất trên cơ thể. Mọi người rửa tay và mặt mỗi ngày, dùng mỹ phẩm đắt tiền. Thậm chí có người còn thoa cả bụi vàng. Tuy nhiên, bàn chân hiếm khi được rửa sạch, chứ đừng nói đến việc chăm sóc. Người ta khinh thường chúng, nói rằng chúng bẩn thỉu, hôi hám và bị nấm chân. Nhưng Kinh Thánh nói rằng có những bàn chân đẹp. Bàn chân của các vũ công ba lê và cầu thủ bóng đá rất đẹp. Tuy nhiên, những bàn chân mang lời sự sống đến cho người khác mới là những bàn chân đẹp nhất trên thế giới. Khi chúng ta rao giảng, người khác sẽ được sống, và chúng ta cũng vậy. Những người không ngừng rao giảng tràn đầy lòng thương xót đối với các linh hồn. Họ tràn đầy đức tin và sức sống.

  1. Tại sao dân Israel không thể nói rằng chúng tôi chưa được nghe Lời Chúa (18-20)? Vấn đề chính nào đã ngăn cản họ được cứu rỗi (21a)? Tấm lòng của Chúa đối với họ như thế nào (21b)?

Trong các câu 18-21, Phao-lô kết thúc bài diễn thuyết của mình bằng những trích dẫn từ Luật pháp, các sách Tiên tri và Thi thiên.

18 Nhưng tôi hỏi: Có phải là họ chưa nghe chăng? Trái lại, Tiếng của các sứ giả đã vang khắp đất, Và lời của sứ giả đã đạt đến cùng thế gian. Có người biện minh rằng người Do Thái không biết Tin Mừng vì Tin Mừng không được rao giảng cho họ. Đáp lại, Phao-lô trích dẫn Thi thiên 19:4-5, nói rằng tiếng của Tin Mừng đã vang khắp đất, đến tận cùng thế giới. Vì vậy, vấn đề không phải là họ không nghe Tin Mừng, mà là họ không chấp nhận nó ngay cả khi họ đã nghe. Toàn bộ Kinh Thánh, bao gồm Cựu Ước và Tân Ước, là lời của Tin Mừng. Ngay cả trong chúng ta, nhiều người đã nhận được sự cứu rỗi nhờ học sách Sáng thế ký.

Câu 19-20: 19 Tôi lại hỏi: Thế mà dân Y-sơ-ra-ên chẳng biết chi hết sao? Môi-se đã nói rằng: Ta sẽ giục lòng ganh tị các ngươi bởi kẻ chẳng phải là dân; Ta sẽ chọc giận các ngươi bởi một dân ngu dốt. 20 Lại Ê-sai nói cách bạo dạn rằng: Những kẻ chẳng tìm kiếm ta thì đã gặp thấy ta, Ta đã tỏ mình ra cho kẻ chẳng hỏi han ta. Phao-lô nói rằng vấn đề là sự kiêu ngạo và sự bại hoại của dân Y-sơ-ra-ên. Ông trích dẫn Phục truyền luật lệ ký 32:21 và Ê-sai 65:1-2. Những câu này mô tả sự quở trách dân Y-sơ-ra-ên vì sự bất trung và bại hoại của họ, bất chấp sự hiểu biết của họ. Tình huống này tương tự như tình huống hiện tại của người Do Thái. Họ cũng đã nghe và biết Phúc âm, nhưng vì họ không chấp nhận nó, nên ân điển của Phúc âm đã được ban cho dân ngoại. Hơn nữa, người Do Thái đã được cảnh báo về hậu quả này qua Môi-se và Ê-sai. Vì vậy, họ không thể viện cớ không biết.

Câu 21: 21 Song về dân Y-sơ-ra-ên, thì rằng: Ta đã giơ tay ra cả ngày hướng về dân bội nghịch và hay nói trái. Dân Y-sơ-ra-ên đã nghe và hiểu Tin Mừng, nhưng họ không vâng phục và nổi loạn. Vì sự cứng đầu của họ, ân điển của Tin Mừng đã được ban cho dân ngoại. Ngay cả trong hoàn cảnh này, Đức Chúa Trời vẫn tiếp tục dang tay đến với dân Y-sơ-ra-ên, mong mỏi sự trở lại của họ. Bất chấp sự bất trung của họ, Đức Chúa Trời vẫn trung tín với những lời hứa của Ngài đối với dân Ngài. Hơn nữa, ân điển của Tin Mừng được ban cho dân ngoại, và điều này được thiết kế để đưa dân Y-sơ-ra-ên trở lại với Ngài một cách sốt sắng. Kìa! Tình yêu của Đức Chúa Trời và lòng trung tín không lay chuyển của Ngài đối với dân Y-sơ-ra-ên thật tuyệt vời biết bao! Trong Lu-ca 15, chúng ta thấy một người cha đang chờ đợi người con trai thứ hai của mình, người đã rời khỏi nhà cha mình. Chúng ta phải hiểu tấm lòng của Đức Chúa Trời, Đấng đang chờ đợi với vòng tay rộng mở sự trở lại của ngay cả những người chống đối Ngài, và chúng ta siêng năng truyền bá Tin lành.

Be the first to comment

Leave a Reply