Quyền tối cao và lòng thương xót của Chúa (Rô-ma 9:1-33)

Thư gửi tín hữu Rô-ma năm 2025

Quyền tối cao và lòng thương xót của Chúa

Rô-ma 9:1-33

Câu gốc 9:16

* Chương 9–11 của sách Rô-ma thảo luận về kế hoạch cứu rỗi của Đức Chúa Trời dành cho cả dân ngoại và người Do Thái. Sách mở đầu bằng một câu hỏi: Nếu Đức Chúa Trời thành tín với lời hứa của Ngài, tại sao dân Y-sơ-ra-ên được chọn lại bị từ chối? Câu hỏi này thật khó hiểu.

Chương 9 trước hết giải thích nguyên tắc về sự lựa chọn của Đức Chúa Trời. Chương này nói rằng vì Đức Chúa Trời luôn hành động với quyền tể trị và lòng thương xót, nên lời Ngài không hề bị vi phạm. Vậy, chúng ta hãy suy ngẫm về Đức Chúa Trời, Đấng đã chọn và kêu gọi chúng ta bằng lòng thương xót.

  1. Phao-lô đã trải qua sự buồn rầu và sự đau khổ triền miên nào (1-3)? Dân Do Thái đã nhận được những phước lành và đặc ân thuộc linh nào từ Đức Chúa Trời (4:5)? Đức Chúa Trời ban cho họ những phước lành này với mục đích gì? (Xem Xuất Ê-díp-tô Ký 19:5,6)

1) 1Trong Chúa Cứu Thế tôi nói thật, tôi không nói dối, lương tâm tôi làm chứng cho tôi trong Đức Thánh Linh rằng 2lòng tôi rất buồn rầu và đau đớn triền miên. 3Vì tôi đã từng ước nguyện chính mình chịu dứt bỏ khỏi Chúa Cứu Thế thay cho anh chị em tôi, bà con tôi về phần xác,
Vào thời Phao-lô, hầu hết người Do Thái đều chối bỏ Phúc Âm. Bất cứ nơi nào Phao-lô rao giảng, ông đều bị bắt bớ và vu khống. Nhưng Phao-lô rất quan tâm đến họ. Điều này xuất phát từ tấm lòng yêu thương của người mục sư đối với những người Do Thái đồng hương đã chối bỏ Phúc Âm.

2) 4tức là người Do Thái, dân được nhận làm con nuôi, được vinh quang, có giao ước, được ban cho kinh luật, sự thờ phượng, và lời hứa, 5họ ra từ các tổ phụ, Chúa Cứu Thế về phần xác thì ra từ họ, nguyện Đức Chúa Trời, Đấng trên hết mọi loài, đáng được chúc tụng đời đời, A-men.

Thứ nhất, họ được nhận làm con cái Đức Chúa Trời. Ban đầu, họ là nô lệ ở Ai Cập. Đức Chúa Trời đã cứu dân Y-sơ-ra-ên bằng huyết chiên con và ban cho họ Lời Ngài, khiến họ trở nên dân Ngài (Xuất Ê-díp-tô Ký 4:22; Ô-sê 1:10).

Thứ hai, họ được thấy vinh quang của Đức Chúa Trời. Ở đây, “vinh quang” ám chỉ sự hiện diện của Đức Chúa Trời. Trong bốn mươi năm trong sa mạc, Đức Chúa Trời đã dẫn dắt họ bằng trụ mây ban ngày và trụ lửa ban đêm. Ngài ban ma-na cho họ ăn mỗi ngày, khiến suối chảy ra từ tảng đá, ban cho họ luật pháp trên núi Si-nai, và họ đã nghe được tiếng Đức Chúa Trời. Họ đã nhận được sự đáp lời cầu nguyện của Đức Chúa Trời. Tất cả những điều này là sự mặc khải về vinh quang của Đức Chúa Trời. Chưa từng có dân tộc nào khác từng được trải nghiệm vinh quang như vậy. Khi con người trải nghiệm vinh quang của Đức Chúa Trời, họ sống một cuộc đời vinh quang.

Thứ ba, họ đã nhận được giao ước. Đức Chúa Trời hiện ra với Áp-ra-ham và hứa sẽ khiến ông trở thành dân Ngài. Để chứng minh điều này, Ngài đã ban cho ông phép cắt bì (Sáng Thế Ký 17:9-14). Trên núi Sinai, Đức Chúa Trời đã lập giao ước với dân Y-sơ-ra-ên qua Môi-se (Xuất Ê-díp-tô Ký 19:4-6).

Thứ tư, họ đã nhận được Luật pháp. Luật pháp dạy họ sống thánh khiết, không bị cảm xúc và tính khí chi phối như nô lệ. Nhờ Luật pháp, nô lệ có thể trở thành một dân thánh.

Thứ năm, Ngài ban cho họ Đền thờ. Từ cuộc Xuất hành cho đến khi Chúa Giê-su giáng sinh, dân Y-sơ-ra-ên đã gặp gỡ Đức Chúa Trời và thờ phượng trong Đền thờ suốt 1.500 năm. Đền thờ là hình bóng của Chúa Giê-su.

Thứ sáu, họ đã nhận được lời hứa của Đức Chúa Trời. Toàn bộ Cựu Ước là lời hứa về Đấng Mê-si.

Thứ bảy, họ có tổ tiên đức tin, bao gồm Áp-ra-ham, Y-sác, Gia-cốp, Giô-sép, Môi-se, Sa-mu-ên và Đa-vít. Ảnh hưởng của tổ phụ đối với con cháu họ là rất lớn. Dù muốn hay không, con cháu vẫn bắt chước đời sống của tổ phụ mình. Vì vậy, chúng ta phải để lại di sản đức tin cho con cháu qua đời sống đức tin của mình. Dân Y-sơ-ra-ên, nhờ có nhiều tổ phụ đức tin, đã có thể trở thành những tôi tớ vĩ đại của Đức Chúa Trời, giống như tổ phụ của họ.

Thứ tám, Chúa Giê-su Christ, Con Đức Chúa Trời, đã sinh ra cho họ. Nhờ đặc ân này, họ có nhiều cơ hội để sống như dân sự của Đức Chúa Trời ngay cả trong thời Tân Ước.

  1. Theo nghĩa nào thì lời Đức Chúa Trời không bị thất bại (6)? Ai trong số con cháu Áp-ra-ham được công nhận là con cái Đức Chúa Trời (7-9)? Đức Chúa Trời chọn Gia-cốp khi nào, và mục đích của sự chọn lựa này là gì (10-13)?

1) 6 Nhưng không phải lời Đức Chúa Trời không ứng nghiệm:

Đức Chúa Trời đã hứa với Áp-ra-ham rằng con cháu ông sẽ trở thành dân của Ngài. Ngài cũng hứa với Môi-se rằng Y-sơ-ra-ên sẽ là một dân tộc thánh và một vương quốc thầy tế lễ. Nhưng trên thực tế, lời Chúa đã không được ứng nghiệm vì sự bất tuân của Y-sơ-ra-ên. Vậy làm sao chúng ta có thể tin cậy lời Chúa? Lời Chúa có thực sự đúng không? Phao-lô trả lời thế nào? 6Dĩ nhiên không phải Lời Đức Chúa Trời đã thất bại. Vì không phải tất cả những người ra từ Y-sơ-ra-ên đều là người Y-sơ-ra-ên; 7cũng không phải tất cả dòng giống của Áp-ra-ham đều là con của Áp-ra-ham, nhưng như có chép: “Bởi Y-sác dòng giống ngươi sẽ được gọi theo tên ngươi.” 8Nghĩa là không phải con cái về phần xác là con cái Đức Chúa Trời, nhưng con cái của lời hứa mới được kể là dòng giống thật. 9Về lời hứa thì có lời nói thế này: “Sang năm cũng vào kỳ này ta sẽ đến và Sa-ra sẽ có một con trai.”

Như chúng ta thấy, con cái của Đức Chúa Trời không được sinh ra bởi huyết thống, nhưng bởi lời hứa của Đức Chúa Trời và bởi đức tin vào lời hứa đó. Không phải tất cả người Israel đều là dân của Đức Chúa Trời. Chỉ những ai đã chấp nhận lời hứa của Đức Chúa Trời bằng đức tin mới là Israel thật và là dân thật của Đức Chúa Trời. Do đó, việc người Do Thái bị từ chối vì không tin vào Chúa Giê-su, lời hứa của Đức Chúa Trời, không có nghĩa là Lời Đức Chúa Trời đã mất đi quyền năng. Bất cứ ai tin vào lời hứa của Đức Chúa Trời, ngay cả khi họ không phải là dòng dõi huyết thống của Áp-ra-ham, đều có thể trở thành Israel thật và là dân của Đức Chúa Trời. Giăng 1:11-13: “Ngài đã đến trong xứ mình, nhưng dân mình chẳng tiếp nhận. Nhưng hễ ai đã tiếp nhận Ngài, thì Ngài ban cho quyền phép trở nên con cái Đức Chúa Trời – không phải sinh ra bởi huyết thống, cũng không phải bởi ý muốn của xác thịt, cũng không phải bởi ý định của xác thịt, nhưng bởi Đức Chúa Trời .”

2) 10Không chỉ vậy thôi, nhưng khi Rê-bê-ca từ một người là Y-sác, tổ phụ chúng ta mà có thai; 11thì dù hai con chưa được sinh ra, cũng chưa làm điều gì thiện hay ác, để cho mục đích theo sự lựa chọn của Đức Chúa Trời được giữ vững, 12không do việc làm nhưng do sự kêu gọi của Chúa, thì bà được nói cho biết: Đứa lớn sẽ phục sự đứa nhỏ; 13như đã có chép: “Ta yêu Gia-cốp, nhưng ghét I-sau.”
Và sự cứu rỗi đến từ sự kêu gọi của Đức Chúa Trời. Gia-cốp và Ê-sau khi sinh ra chưa hề làm điều thiện hay điều ác. Vậy mà Đức Chúa Trời đã chọn Gia-cốp, người em trai. Tại sao? Điều này là để ân điển không dựa trên việc làm của con người, mà chỉ dựa trên sự lựa chọn của Đức Chúa Trời (Rô-ma 11:36). Nếu sự kêu gọi của Đức Chúa Trời dựa trên việc làm của con người, thì không ai có thể được cứu vì sự yếu đuối của họ. Ngay cả khi họ được chọn, họ chắc chắn sẽ bị từ chối vì tội lỗi và sai lầm của họ. Tuy nhiên, sự kêu gọi của Đức Chúa Trời không dựa trên việc làm của chúng ta, mà dựa trên lòng thương xót vô biên của Ngài. Đây là lý do tại sao sự cứu rỗi đến từ ân điển. Bởi vì chúng ta được cứu bởi ân điển, ngay cả những tội nhân không xứng đáng cũng có thể được cứu. Hơn nữa, một khi được cứu, chúng ta sẽ không bị từ chối.

  1. Tại sao sự lựa chọn tối cao của Đức Chúa Trời không thể bị coi là bất công (14-18)? (Xem Rô-ma 1:28) Tại sao con người không thể chất vấn việc làm của Đức Chúa Trời (19-21)? Đức Chúa Trời đối xử với “những bình đáng giận” và “những bình được thương xót” như thế nào (22,23)?

1) 14Vậy chúng ta sẽ nói làm sao? Không phải Đức Chúa Trời bất công đó sao? Chẳng hề như vậy. 

Gia-cốp được chọn, nhưng Ê-sau thì không, mặc dù ông chẳng làm điều thiện hay điều ác nào. Điều này có vẻ bất công. Nhưng Phao-lô tuyên bố chắc chắn: “Không hề!” Vì nếu Đức Chúa Trời Nếu Đức Chúa Trời phán xét con người qua việc làm của họ, thì sẽ chẳng có ai được cứu. Cả Gia-cốp và Ê-sau đều là tội nhân, phải chịu sự phán xét và hủy diệt. Đức Chúa Trời, với lòng thương xót bao la của Ngài, đã khởi đầu công cuộc cứu rỗi qua Gia-cốp. Việc này không hề có sự bất công. Việc Đức Chúa Trời chọn Gia-cốp là bằng chứng cho lòng thương xót bao la của Ngài. Câu 15, 16: ” 15Vì Chúa có nói với Môi-se rằng:
“Ta sẽ nhân từ với kẻ nào Ta muốn nhân từ,
Ta sẽ thương xót kẻ nào Ta muốn thương xót.”
16Vì thế không phải bởi người ta ước muốn, cũng không phải bởi bôn ba mà được, nhưng bởi sự nhân từ của Đức Chúa Trời. 

Hoàn cảnh hay nỗ lực của con người không ảnh hưởng đến sự lựa chọn của Chúa. Sự cứu rỗi hoàn toàn thuộc về quyền tể trị của Chúa. Câu 17-18. “17Kinh Thánh phán với Pha-ra-ôn rằng: Chính vì điều này mà Ta lập ngươi lên, để Ta có thể dùng ngươi tỏ quyền năng của Ta ra, và để cho Danh Ta được vang ra khắp đất. 18Như vậy Ngài muốn nhân từ với ai thì nhân từ, muốn làm cứng lòng ai thì làm.Cứng lòng không có nghĩa là Đức Chúa Trời gieo vào lòng người một tấm lòng gian ác. Đức Chúa Trời không có sự gian ác. Nó có nghĩa là phó mặc cho lòng chai cứng. Đức Chúa Trời đã để phó mặc người Do Thái trong sự chai lì của họ. Kết quả là, Phúc Âm được lan truyền giữa dân ngoại, và nhiều người được cứu. Vì vậy, mục đích tối hậu của quyền tể trị của Đức Chúa Trời là bày tỏ lòng thương xót cho nhiều người hơn và cứu họ.

2) 19Anh chị em sẽ nói với tôi: Tại sao Ngài còn quở trách? Vì ai có thể chống lại ý Ngài? 20Hỡi người, ngươi là ai mà dám đối đáp nghịch với Đức Chúa Trời? Có thể nào vật được nắn lên nói với người nắn nên nó: Tại sao ông nắn tôi nên như thế này? 21Hay người thợ gốm không có quyền từ cùng một đống đất sét mà nắn nên bình này dùng cho việc sang, bình kia dùng cho việc hèn sao?
 Là tạo vật, con người không có quyền chất vấn quyền tối thượng của Đức Chúa Trời. Như người thợ gốm nặn đất sét, một chiếc bình cũng được tạo ra. Chiếc bình không thể hỏi người thợ gốm: “Sao ông lại tạo ra tôi như thế này?” Đức Chúa Trời thực hiện quyền tối thượng của Ngài theo ý muốn của Ngài. Tuy nhiên, Ngài không bao giờ dùng quyền tối thượng đó để làm hại con người. Điều này là bởi vì bản chất của Đức Chúa Trời là lòng nhân từ và thương xót. Đức Chúa Trời là sự sáng, và trong Ngài không có bóng tối hay điều ác. Vì vậy, Đức Chúa Trời sử dụng quyền tối thượng của Ngài để thiết lập trật tự của tạo vật và cứu rỗi sự sống.

3) 22Nhưng nếu Đức Chúa Trời, Đấng muốn tỏ ra thịnh nộ và làm cho người ta biết quyền năng của Ngài, đã kiên nhẫn chịu đựng rất nhiều những bình đáng giận chỉ hợp cho sự hủy diệt. 23Và để cho biết sự giàu có vinh quang Ngài trên những bình được thương xót mà Ngài đã chuẩn bị sẵn để được vinh quang,

Theo quan điểm của Đức Chúa Trời, có hai loại sự sống: bình chứa cơn thịnh nộ và bình chứa lòng thương xót. Bình chứa cơn thịnh nộ là những người sẵn sàng công bố cơn thịnh nộ và quyền năng của Đức Chúa Trời. Bình chứa lòng thương xót là những người sẵn sàng đón nhận vinh quang, để bày tỏ vinh quang của Đức Chúa Trời. Đức Chúa Trời ban ân điển như nhau cho cả hai loại sự sống. Đức Chúa Trời kiên nhẫn và chờ đợi những bình chứa cơn thịnh nộ. Con người khao khát Đức Chúa Trời nhanh chóng phán xét kẻ ác. Có một người không thể chịu đựng được kẻ liên tục hành hạ mình, đã kêu cầu Đức Chúa Trời: “Lạy Chúa, con không thể chịu đựng được người này. Con phải chịu đựng hắn ta đến bao giờ nữa? Ngài không thể sớm đưa hắn ta đi sao?” Đức Chúa Trời đáp: “Ta biết điều đó thật khó khăn cho ngươi! Nhưng còn khó khăn hơn biết bao đối với Ta, người đã chịu đựng ngươi suốt cuộc đời này? Ta không biết Ta phải chịu đựng ngươi đến bao giờ nữa!” Vì vậy, Đức Chúa Trời kiên nhẫn chờ đợi ngay cả kẻ ác ăn năn và quay trở lại. Mặt khác, Ngài ban ân điển tuyệt vời cho những bình chứa lòng thương xót mà Ngài đã chuẩn bị cho sự vinh quang. Vì vậy, Ngài cho phép chúng ta thấu hiểu sự bao la và kỳ diệu của vinh quang Đức Chúa Trời. Cuối cùng, mục đích của việc Đức Chúa Trời thực thi quyền tự do tối thượng là để ban ơn thương xót lớn hơn, chứ không phải để làm chai cứng và hủy diệt. Đây chính là bản chất và phương pháp làm việc của Đức Chúa Trời. Vì vậy, không ai có thể buộc tội Đức Chúa Trời bất công liên quan đến quyền tối thượng của Ngài.

  1. Ai là “những bình chứa lòng thương xót” (24)? Theo Ô-sê, ai sẽ được gọi là con của Đức Chúa Trời (25, 26)? Tiên tri Ê-sai đã tiên tri về sự cứu rỗi như thế nào? (27-29)

1) 24tức là chúng ta, những người được kêu gọi không phải chỉ từ trong người Do Thái mà từ các dân tộc khác nữa. 25Như Ngài có phán trong Ô-sê:
  “Ta sẽ gọi kẻ không phải dân Ta là dân Ta, Kẻ chẳng được yêu dấu là yêu dấu,
26và Chính tại nơi Ta đã nói với họ: Các ngươi không phải là dân Ta,
  Thì họ lại được gọi là con của Đức Chúa Trời hằng sống.”
“Bình này,” bình chứa lòng thương xót, bao gồm cả người Israel và dân ngoại. Người Do Thái tự coi mình là dân được Chúa chọn. Tuy nhiên, ngay từ ban đầu, Chúa không chỉ chọn người Do Thái mà còn chọn cả dân ngoại. Hàng trăm năm trước khi Chúa Jesus giáng sinh, Ngài đã phán với tiên tri Ô-sê: “Ta sẽ gọi những kẻ không phải dân Ta là dân Ta, và những kẻ không được yêu thương, thì được yêu thương” (25). Hơn nữa, tiên tri Ê-sai nói rằng không phải tất cả người Do Thái đều được cứu, mà chỉ có một số ít người còn sót lại (27). Do đó, kế hoạch ban đầu của Chúa là chỉ cứu một số ít người Do Thái còn sót lại; phần lớn người Do Thái sẽ bị từ chối, và dân ngoại sẽ được cứu. Do đó, Lời Chúa không bị hủy bỏ. Kế hoạch của Chúa không hề thất bại. Ngay cả khi con người thất bại, Chúa không bao giờ thất bại. Lịch sử nhân loại diễn ra theo ý muốn tốt lành và mục đích của Chúa.

2) 27I-sa đã kêu lên về dân Do Thái:
  “Dù số dân Do Thái đông như cát biển Thì cũng chỉ một số dân sót lại sẽ được cứu mà thôi. 28Chúa sẽ chắc chắn Và nhanh chóng làm thành lời Ngài trên đất.”
 29I-sa cũng đã nói trước: “Nếu Chúa Vạn Quân Không chừa lại những người nối dõi cho chúng ta Thì chúng ta đã trở thành như Sô-đôm Và giống như Gô-mô-rơ rồi.”

Vào thời Phao-lô, hầu hết người Do Thái dường như bị Chúa bỏ rơi. Tuy nhiên, vẫn còn một số người sót lại trong số họ. Hầu hết các môn đồ của Chúa Giê-su là người Do Thái. Hầu hết các thành viên của Hội thánh sơ khai cũng là người Do Thái. Họ chính là số người sót lại mà Đức Chúa Trời đã nói đến qua tiên tri Ê-sai. Xuyên suốt lịch sử nhân loại, luôn luôn có một “số người sót lại”. Số người sót lại này là những người kính sợ Đức Chúa Trời ngay cả trong thời đại bại hoại. Họ là những người sống theo lời Chúa. Vào thời Ê-li, tất cả dân Y-sơ-ra-ên đều quỳ gối trước Ba-anh. Ê-li tuyệt vọng, tin rằng mình là người duy nhất không quỳ gối trước Ba-anh. Đức Chúa Trời phán với Ê-li rằng có bảy ngàn người sót lại không quỳ gối trước Ba-anh. Đức Chúa Trời hoàn thành công việc cứu rỗi của Ngài thông qua số người sót lại nhỏ bé này. Ngay cả ngày nay, nơi chúng ta sống học tập và làm việc, vẫn có một số người sót lại được Đức Chúa Trời chọn. Mặc dù hầu hết mọi người đều từ chối Phúc Âm khi được chia sẻ, nhưng vẫn có những người chấp nhận. Nhiệm vụ của chúng ta, dù ít ỏi, là dạy dỗ lời Chúa cho số người sót lại này và giúp họ sống như những môn đồ của Chúa. Đây là sứ mệnh của chúng ta.

  1. Làm thế nào dân ngoại, những người không khao khát sự công chính, lại tìm được sự công chính (30)? Tại sao dân Y-sơ-ra-ên không thể tìm được sự công chính (31–33)? Ai là “hòn đá cản” và “tảng đá gây vấp ngã”?

30Vậy chúng ta sẽ nói thế nào? Các dân ngoại quốc không tìm kiếm sự công chính thì lại đã được sự công chính, nhưng là sự công chính do đức tin; 

Tại sao dân ngoại được cứu, còn dân Do Thái bị khước từ? Ban đầu, dân ngoại không phấn đấu cho sự công chính. Tuy nhiên, họ khiêm nhường thừa nhận tội lỗi và tiếp nhận Phúc Âm qua đức tin. Nhờ đức tin, họ tìm thấy sự công chính. Còn dân Do Thái tìm kiếm sự công chính bằng cách tuân giữ Luật Pháp. Tuy nhiên, họ đã không tuân giữ Luật Pháp một cách trọn vẹn và bị khước từ. Dân Y-sơ-ra-ên được chọn, nhưng đã khước từ đức tin và Phúc Âm. Họ không tin cậy vào đức tin và không vâng phục sự công chính của Đức Chúa Trời.

31còn dân Do Thái tìm kiếm kinh luật của sự công chính thì lại không đạt được. 32Tại sao? Tại vì họ tìm kiếm không nhờ đức tin mà nhờ việc làm; họ đã vấp phải hòn đá cản, 33như Kinh Thánh chép: “Này Ta để tại Si-ôn một hòn đá cản, Tức là tảng đá làm vấp ngã, Và ai tin Ngài sẽ không bị hổ thẹn.”

Điều gì đã xảy ra? Câu 33. “Như có chép rằng: ‘Này, Ta đặt tại Si-ôn một hòn đá vấp chân, một tảng đá gây vấp ngã; nhưng ai tin Ngài sẽ không bị hổ thẹn.’” Câu này trích từ Ê-sai 28:16. Vào thời điểm đó, vương quốc Giu-đa ở phía nam đang phải đối mặt với cuộc xâm lược từ bên dưới của Ai Cập và từ bên trên của A-si-ri, vốn đã nuốt chửng vương quốc Y-sơ-ra-ên ở phía bắc và đang tiến về phía nam. Trong tình huống này, vua và dân chúng đã cố gắng giải quyết cuộc khủng hoảng bằng các biện pháp ngoại giao và quân sự, nhưng tiên tri Ê-sai kêu gọi họ nương cậy vào Đức Chúa Trời. Trước hết, ông nói, sự thờ phượng Đức Chúa Trời phải được khôi phục. Ông tiên tri rằng Đức Chúa Trời đã đặt tại Si-ôn một “hòn đá vấp chân” và một “tảng đá gây vấp ngã”. Nhưng những ai tin vào Đức Chúa Trời và nương cậy vào Ngài sẽ không bị hổ thẹn, nhưng sẽ được cứu. Sứ đồ Phao-lô giải thích “tảng đá” này là Chúa Giê-su, nói rằng Chúa Giê-su sẽ là tảng đá vấp ngã cho một số người và là tảng đá cứu rỗi cho những người khác. Cuối cùng, con người có thể được cứu rỗi nhờ đức tin nơi Chúa Giê-su Christ, lời hứa của Đức Chúa Trời. Hơn nữa, sự cứu rỗi này đạt được nhờ sự lựa chọn tối thượng của một Đức Chúa Trời nhân từ.

Kết luận: Ở đây chúng ta đã học được ai là người Israel thật. Người Israel thật không phải là người Israel theo huyết thống, mà là những người tin vào lời hứa của Đức Chúa Trời. Những người tin vào Đức Chúa Trời, Đấng công nhận những người công chính tin nhận Chúa Giê-su Christ, có thể được cứu và trở thành con cái của Đức Chúa Trời. Hơn nữa, việc trở thành người Israel thật không phải là vấn đề của ước muốn hay nỗ lực của con người, mà là sự lựa chọn tối cao của Đức Chúa Trời. Đức Chúa Trời hoàn thành lịch sử cứu rỗi một cách tối cao. Tuy nhiên, Đức Chúa Trời thực thi quyền tối cao của Ngài theo bản chất nhân từ và thương xót của Ngài. Do đó, ngay cả những tội nhân bất xứng cũng có thể nhận được sự cứu rỗi bởi ân điển của Đức Chúa Trời.

  • Tham khảo: Đoạn văn này trình bày các khái niệm về quyền tối thượng và sự tiền định của Đức Chúa Trời. Tuy nhiên, Phao-lô không chủ trương thần học “tiền định kép” ở đây. “Tiền định kép” là niềm tin rằng Đức Chúa Trời đã tiền định một số người được cứu rỗi và những người khác bị hủy diệt. Điều này phủ nhận ý tưởng rằng con người có thể tự do lựa chọn đức tin và được cứu rỗi. Do đó, một số người dùng tiền định kép như một cái cớ để trốn tránh trách nhiệm. Tuy nhiên, khi Phao-lô nói về thẩm quyền tối thượng của Đức Chúa Trời, ông giả định trước bản chất tội lỗi của nhân loại. Nói cách khác, ông tìm cách bày tỏ một Đức Chúa Trời thương xót tội nhân và nỗ lực cứu ít nhất một linh hồn bằng bất cứ giá nào. Vì vậy, nếu chúng ta thực sự hiểu được tấm lòng của Đức Chúa Trời, bổn phận của chúng ta với tư cách là những người được Ngài chọn là nỗ lực cứu ít nhất một linh hồn bằng bất cứ giá nào. Đức Chúa Trời ban cho chúng ta ý chí tự do và quyền lựa chọn, cho phép chúng ta hoàn thành sứ mệnh của mình với tinh thần trách nhiệm.

Be the first to comment

Leave a Reply