2025 Thư Rô-ma
Kế hoạch cứu rỗi của Đức Chúa Trời
Rô-ma 11:1-36
Câu khóa 11:25-16
Các chương 9-11 dành riêng cho vấn đề cứu rỗi của Israel. Người Do Thái không những từ chối Phúc Âm mà còn là kẻ thù của nó cho đến ngày nay. Phao-lô, với tấm lòng của một người chăn chiên dành cho dân mình, đã vô cùng đau khổ và phiền muộn. Điều này có nghĩa là kế hoạch cứu rỗi toàn thể nhân loại của Đức Chúa Trời thông qua Israel đã thất bại sao? Không. Phao-lô hiểu rằng việc Israel bị bỏ rơi cũng là một phần trong kế hoạch của Đức Chúa Trời. Ông thừa nhận rằng việc họ bị bỏ rơi đã dẫn đến sự tiến bộ đáng kể trong việc cứu rỗi toàn thể nhân loại, và ông ca ngợi sự khôn ngoan tuyệt vời của Đức Chúa Trời. Từ đoạn Kinh Thánh này, chúng ta học được về kế hoạch vĩ đại của Đức Chúa Trời dành cho sự cứu rỗi toàn thể nhân loại.
- Có bằng chứng nào cho thấy Đức Chúa Trời không bỏ rơi Israel (1-6)? Điều gì đã xảy ra với những người không được chọn (7-10)? Hậu quả của sự thất bại của họ là gì (11,12)?
Câu 1-6.
Vào thời điểm đó người Do Thái đã từ chối Chúa Giê-su. Giăng 1:11 chép rằng: “Ngài đến với dân của Ngài, nhưng dân của Ngài không tiếp nhận Ngài.” Vậy thì một câu hỏi đặt ra là: Nếu vậy, kế hoạch cứu rỗi toàn thể nhân loại của Đức Chúa Trời thông qua Y-sơ-ra-ên đã thất bại sao? Lời Chúa có phải là không đúng không? Phao-lô đáp: “Tuyệt đối không!” Trái lại, lời hứa của Đức Chúa Trời là chân thật, và kế hoạch của Đức Chúa Trời được thực hiện một cách thành tín.
Thứ nhất, chính mình Phao-lô đã tin Chúa Jesus. Phao-lô là một người Do Thái chính thống, một người Pha-ri-si điển hình. Ông tìm kiếm sự công chính cho riêng mình thông qua việc tuân giữ luật pháp hơn bất cứ ai khác. Vì điều này, ông đã từ chối Phúc Âm và dẫn đầu cuộc bách hại và giết hại các tín đồ Cơ đốc gốc Do Thái. Ông là kẻ thù của Phúc Âm, luôn tìm cách phá hủy Hội Thánh của Đức Chúa Trời. Tuy nhiên, Đức Chúa Trời đã không bỏ rơi ông, mà đã cứu rỗi ông bằng ân điển và thậm chí còn giao phó cho ông chức vụ sứ đồ. Nếu điều này là đúng, thì nhiều người Do Thái, giống như Phao-lô, những người đã từ chối Phúc Âm và là kẻ thù của nó, cũng có thể được cứu rỗi.
Thứ hai, Phao-lô dẫn chứng bảy ngàn người còn lại trong thời Ê-li. Ê-li là một tiên tri trong thời vua A-háp của Y-sơ-ra-ên. A-háp là vị vua độc ác nhất trong lịch sử Y-sơ-ra-ên. Sau khi cưới Giê-sa-bên, một người phụ nữ Si-đôn, ông trở thành một người sùng bái thần Ba-anh nhiệt thành. Ông dựng tượng thần Ba-anh khắp Y-sơ-ra-ên và ép buộc toàn dân phải thờ phượng chúng. Kết quả là, dân Y-sơ-ra-ên thờ phượng Ba-anh. Trong thời kỳ tối tăm này, Ê-li đã làm việc với lòng nhiệt thành phi thường để đưa dân Y-sơ-ra-ên trở lại với Đức Chúa Trời, nhưng chức vụ của ông không mang lại kết quả. Không ai trở lại, và dường như không ai thờ phượng Đức Chúa Trời ngoại trừ chính ông. Trong sự tuyệt vọng và chán nản tột cùng, ông kêu cầu Đức Chúa Trời. Đức Chúa Trời phán với Ê-li: “Nhưng ta đã để dành lại cho ta trong Y-sơ-ra-ên bảy ngàn người không có quì gối xuống trước mặt Ba-anh, và môi họ chưa hôn nó.” (1 Các Vua 19:18) Họ không thể giữ vững đức tin nơi Đức Giê-hô-va bằng ý chí của riêng mình. Họ chỉ có thể giữ vững đức tin vì Đức Chúa Trời đã bảo vệ họ bằng ân điển.
*Ở đây chúng ta tìm hiểu về khái niệm về một nhóm người còn sót lại. Không chỉ trong thời Ê-li, mà cả trong thời Phao-lô, và thậm chí đến ngày nay, vẫn tồn tại một nhóm người được chọn bởi ân điển. “Nhóm người còn sót lại” là những người, ngay cả trong thời đại vô thần, vẫn giữ vững đức tin, sự thờ phượng và phục vụ Chúa.
Câu 7-10.
Dân Israel không nhận được sự cứu rỗi, mà chỉ những người được chọn trong số họ mới nhận được sự cứu rỗi nhờ đức tin vào Phúc Âm, còn những người khác thì trở nên chai lì trong lòng. Ân điển của Chúa không được ban cho toàn thể dân Israel một cách vô điều kiện. Những người ngoan cố khẳng định sự công chính của riêng mình và từ chối chấp nhận Phúc Âm vẫn mãi ở trong tình trạng đó. Những việc làm xấu xa của họ đã làm mù mắt họ và khiến họ còng lưng xuống.
11Tôi lại hỏi: “Có phải họ đã bị sẩy chân để rồi ngã nhào xuống không? Không bao giờ! Do họ vấp phạm mà sự cứu rỗi đến với các dân tộc ngoại quốc, để làm họ ganh đua. Nhưng điều này không có nghĩa là cuộc đua đã hoàn toàn kết thúc. Trong khi Israel vấp ngã, dân ngoại đã có cơ hội tiến lên trong cuộc đua này, đã tìm thấy đích đến – là Đấng Christ – và chỉ mới bắt đầu chạm đích. Thấy vậy, Israel sẽ ghen tị và chạy đua quyết liệt hơn nữa. “Gây ra sự ghen tị là sự khôn ngoan của Đức Chúa Trời.”
12Nhưng nếu sự vấp phạm của họ làm giàu cho thế gian và sự thất bại của họ làm cho các dân tộc ngoại quốc phong phú, một khi họ được đông đủ thì sự phong phú càng vĩ đại đến chừng nào?” Vì người Do Thái không chấp nhận Phúc Âm, sự cứu rỗi đã đến với dân ngoại. Điều này mang lại những phước lành to lớn cho thế giới. Tuy nhiên, đây không phải là kết thúc. Khi Phúc Âm lan rộng trong dân ngoại và họ bắt đầu hưởng những phước lành đáng kinh ngạc, người Do Thái sẽ trở nên ghen tị. Họ sẽ tự hỏi tại sao những phước lành thuộc về họ lại được ban cho dân ngoại. Họ sẽ nhận ra sai lầm của mình và cuối cùng chấp nhận Phúc Âm. Khi đó, sự trọn vẹn của họ sẽ là gì? Sự trọn vẹn có nghĩa là sự trọn vẹn của Phúc Âm về Nước Trời trên khắp thế giới. Vì vậy, sự sa ngã hiện tại của người Do Thái rốt cuộc là một phần trong kế hoạch của Đức Chúa Trời cho sự cứu rỗi toàn thể dân Israel.
- Tại sao Phao-lô tự hào về chức vụ sứ đồ của mình cho dân ngoại (13-15)? Tại sao các tín đồ dân ngoại không nên khoe khoang trước mặt dân Y-sơ-ra-ên (16-18)? Tại sao họ không nên kiêu ngạo, mà nên kính sợ Đức Chúa Trời (19-21)?
Những người ngoại đạo khinh miệt dân Israel, nói rằng: “Chúng đã trở nên kiêu ngạo và bị Đức Chúa Trời bỏ rơi.” Sau đây là lời cảnh cáo dành cho họ:
“Tôi nói với anh chị em là người ngoại quốc: “Bấy lâu nay làm sứ đồ cho các dân tộc ngoại quốc, tôi làm vẻ vang cho chức vụ mình. 14Nếu tôi kích thích lòng ganh đua của đồng bào tôi, chỉ là để cứu rỗi một số người trong vòng họ.”
Phao-lô nói rằng ông đã rao giảng cho người ngoại với niềm tự hào của một sứ đồ. Tại sao? Bởi vì ông đã nhiệt thành rao giảng Tin Lành cho họ, hy vọng khơi dậy lòng ghen tị của người Do Thái và nhờ đó cứu được một số người trong số họ. Phao-lô tha thiết mong muốn sự cứu rỗi cho những người đồng bào Israel của mình.
15Vì nếu khi họ bị vứt bỏ mà cả thế gian được làm hòa với Đức Chúa Trời thì khi họ được Ngài tiếp nhận sẽ là việc cải tử hoàn sinh. Cũng như trên thập tự giá Đức Chúa Cha đã bỏ rơi Chúa Giê-su và đã dẫn đến sự hòa giải giữa Đức Chúa Trời và tội nhân, thì sự chối bỏ người Do Thái đã mở đường cứu rỗi cho dân ngoại. Vì vậy, dân ngoại nên biết ơn dân Y-sơ-ra-ên và cầu nguyện cho sự phục hồi của Y-sơ-ra-ên. Khi những người Do Thái bị chối bỏ trở lại với Đức Chúa Trời, thì vinh quang của sự sống lại của dân Y-sơ-ra-ên đã chết sẽ được bày tỏ.
16Nếu lúa đầu mùa đã thánh thì cả đống bột cũng thánh; nếu cái rễ đã thánh thì các cành cũng thánh. Ở đây, “trái quả đầu mùa” và “rễ” ám chỉ tổ phụ của Israel, như Abraham, Isaac và Jacob, trong khi “cả đống bột” và “cành” ám chỉ những người Israel chưa tin. Người Do Thái đã trở thành một dân tộc thánh nhờ đức tin của tổ phụ. Họ vẫn nắm giữ lời hứa mà Đức Chúa Trời đã ban cho tổ phụ họ qua đức tin. Mặc dù họ là kẻ thù của Đức Chúa Trời đối với Phúc Âm, nhưng họ vẫn được yêu thương vì sự chọn lựa của tổ phụ họ. Mặc dù người Do Thái đã từ chối Chúa Giê-su Christ, nhưng họ vẫn phụng sự Đức Chúa Trời như là dân của Ngài trong hàng thiên niên kỷ. Đức Chúa Trời vẫn dành sự quan tâm đặc biệt cho dân tộc này và chờ đợi sự trở lại của họ. Chúng ta không nên phớt lờ hay bác bỏ.
17Nếu vài cành bị bỏ và ngươi vốn thuộc cây ô-liu hoang lại được ghép vào giữa các cành ấy và được chia sẻ nhựa sống từ rễ cây ô-liu, 18thì chớ khoa trương nghịch các cành ấy. Nếu ngươi khoa trương thì hãy nhớ rằng không phải ngươi cưu mang cái rễ mà cái rễ cưu mang ngươi. Phao-lô gọi dân ngoại là cây ô liu dại và dân Do Thái là cây ô liu thật. Dân Do Thái là gốc tổ, còn dân ngoại là chiết cành. Họ là những cành của cây ô liu thật, được nuôi dưỡng bởi nhựa sống thiêng liêng của đức tin tổ phụ họ: Áp-ra-ham, Môi-se và Đa-vít. Chúng ta, giống như cây ô liu dại, được ghép vào gốc nhờ đức tin nơi Chúa Giê-su.
19Ngươi sẽ nói: ‘Các cành kia bị bẻ đi để ta được ghép vào!’ 20Đúng lắm, các cành kia bị bẻ đi vì tội vô tín, còn ngươi bởi đức tin mà tồn tại; đừng kiêu căng hợm hĩnh, nhưng hãy kính sợ! 21Vì Đức Chúa Trời chẳng dung tha các cành tự nhiên thì Ngài cũng sẽ không dung tha ngươi. Vì chúng ta đã được ghép vào bởi ân điển của Đức Chúa Trời, nên chúng ta phải luôn sống bởi đức tin với tấm lòng đầy lòng biết ơn, kính sợ và run rẩy. Nếu Đức Chúa Trời không thương xót các nhánh tự nhiên khi chúng trở nên kiêu ngạo, thì Ngài càng bẻ gãy các nhánh ô liu dại được ghép vào khi chúng trở nên kiêu ngạo biết bao! Vì vậy, chúng ta phải luôn nhớ đến ân điển mình đã nhận được, biết ơn và sống với tấm lòng khiêm nhường và đức tin. 1 Cô-rinh-tô 10:12: “Vậy, ai tưởng mình đứng vững, hãy coi chừng kẻo ngã.”
- Tại sao chúng ta cần phải đứng vũng trong lòng nhân từ Chúa? Lòng nhân từ và sự nghiêm minh của Đức Chúa Trời là gì ? Điều gì sẽ xảy ra nếu Israel quay trở lại bây giờ (23,24)?
22Vậy hãy gẫm xem lòng nhân từ và nghiêm minh của Đức Chúa Trời, nghiêm minh đối với những người đã ngã, Đức Chúa Trời nhân từ với ngươi nếu ngươi kiên trì trong lòng nhân từ Ngài; bằng không ngươi cũng sẽ bị cất bỏ. Dân ngoại cần nhớ hai điều: thứ nhất, lòng nhân từ của Chúa, và thứ hai, sự nghiêm minh của Ngài. Lòng nhân từ dành cho người khiêm nhường, và sự nghiêm khắc dành cho kẻ kiêu ngạo. Thật dại dột khi quên đi sự nghiêm khắc của Chúa và chỉ dựa vào lòng nhân từ của Ngài. Để sống trong lòng nhân từ của Chúa cần có một tấm lòng khiêm nhường và một đức tin vững chắc.
23Còn đối với họ, nếu họ không kiên trì trong sự vô tín, họ sẽ lại được tháp vào; vì Đức Chúa Trời có quyền tháp họ lại. 24Nếu ngươi đã được cắt ra từ bản chất cây ô-liu hoang và đem ghép vào cây ô-liu tốt, trái với bản chất tự nhiên, thì các cành tự nhiên này lại càng đáng được ghép vào chính cây ô-liu của chúng. ( Dân ngoại, những người sống trong sự phản nghịch với Đức Chúa Trời, đã được ghép vào cây ô liu thật bằng cách chấp nhận Phúc âm qua đức tin.) Huống chi dân Do Thái, vốn là những nhánh của cây ô liu thật, sẽ được ghép trở lại vào cây ô liu thật bằng cách ăn năn và chấp nhận Phúc âm qua đức tin. Dân Do Thái, những nhánh tự nhiên, sẽ được ghép trở lại vào cây dễ dàng hơn dân ngoại. Điều này được chứng minh rõ ràng từ câu 10:21: “Nhưng về Y-sơ-ra-ên, Ngài phán rằng: ‘Suốt ngày Ta đã giang tay với một dân không vâng lời và cứng đầu.'”
- Israel sẽ còn ở trong tình trạng cứng lòng bao lâu nữa (25)? Nhưng cuối cùng điều gì sẽ xảy ra (26-27)? Tại sao Phao-lô lại chắc chắn về điều này như vậy (28-29)?
25Thưa anh chị em, tôi không muốn anh chị em chẳng biết huyền nhiệm này để anh chị em không tự cho mình là khôn ngoan: Một phần Y-sơ-ra-ên cứ ngoan cố cho đến khi số người các dân tộc ngoại quốc gia nhập đầy đủ. Câu “Vì tôi không muốn anh em không biết về điều mầu nhiệm này, hỡi anh em” nhấn mạnh tầm quan trọng của nội dung. Phao-lô đang nói về kế hoạch mầu nhiệm của Đức Chúa Trời dành cho sự cứu rỗi của Y-sơ-ra-ên. Đức Chúa Trời không bỏ rơi Y-sơ-ra-ên mãi mãi; Ngài để họ trong tình trạng thờ ơ cho đến khi sự trọn vẹn của dân ngoại đã đến.
26Vậy cả Y-sơ-ra-ên sẽ được cứu, như Kinh Thánh đã chép: ‘Đấng Cứu Rỗi sẽ ra từ Si-ôn Dẹp bỏ sự vô đạo khỏi nhà Gia-cốp 27Và đây là giao ước Ta lập với họ Khi Ta xóa sạch tội lỗi họ rồi.
Cuối cùng, toàn thể dân Y-sơ-ra-ên sẽ được cứu rỗi. Từ “toàn thể dân Y-sơ-ra-ên” ở đây ám chỉ tất cả những người mà Đức Chúa Trời đã chọn để được cứu rỗi, bao gồm cả người Do Thái và người ngoại. Việc Đức Chúa Trời bỏ rơi dân Y-sơ-ra-ên cho đến thời điểm này là một phần trong kế hoạch của Ngài để cứu rỗi toàn thể dân được Ngài chọn.
28Một mặt, theo Phúc Âm thì họ là thù địch vì cớ anh chị em. Mặt khác theo ơn lựa chọn thì họ là người thân yêu vì cớ các tổ phụ. 29Vì tặng phẩm Chúa ban và tiếng Chúa gọi không bao giờ hủy bỏ được. Phao-lô có hai quan điểm về dân Y-sơ-ra-ên. Thứ nhất, về phần Phúc âm, họ đã trở thành kẻ thù của Đức Chúa Trời vì chối bỏ Phúc âm, và điều này cũng đúng với các tín đồ Cơ-đốc gốc ngoại. Thứ hai, về phần sự tuyển chọn, họ được tổ phụ yêu thương vì lời hứa của Đức Chúa Trời dành cho họ vẫn còn hiệu lực. Ân tứ và sự kêu gọi của Đức Chúa Trời là không thể thu hồi. Vì vậy, không thể nói rằng lời hứa của Đức Chúa Trời đã chấm dứt hiệu lực.
- Dân ngoại đã nhận được lòng thương xót của Đức Chúa Trời như thế nào (30)? Israel sẽ nhận được lòng thương xót của Đức Chúa Trời như thế nào trong tương lai (31, 32)? Sự khôn ngoan nào được bày tỏ trong kế hoạch cứu rỗi của Đức Chúa Trời (33-36)?
Câu 30-32. Tại sao Đức Chúa Trời lại để cho người Do Thái bất tuân? Dân ngoại đã nhận được sự cứu rỗi và vương quốc đời đời của Đức Chúa Trời hoàn toàn nhờ lòng thương xót lớn lao của Ngài. Nếu dân Y-sơ-ra-ên nhận được ân điển của vương quốc Đức Chúa Trời bằng việc làm của chính họ, thì đó đã là công đức của riêng họ. Nhưng họ cũng bất tuân. Đức Chúa Trời đã bỏ rơi họ, để khi họ trở nên khiêm nhường, Đức Chúa Trời sẽ ban cho họ sự cứu rỗi vì lòng thương xót lớn lao của Ngài. Chúa ban ơn cứu rỗi cho tất cả mọi người bằng lòng thương xót của Ngài. Chúa là một Đức Chúa Trời đầy lòng thương xót. Ngài ban lòng thương xót cho tất cả mọi người và mong muốn sự cứu rỗi bằng lòng thương xót vô biên của Ngài. Khi chúng ta thừa nhận mình là những tội nhân vô vọng trước mặt Chúa và tìm kiếm lòng thương xót của Ngài, ân điển cứu rỗi sẽ đến. Sự cứu rỗi không phụ thuộc vào việc làm của con người, mà phụ thuộc vào lòng thương xót của Chúa. Vì vậy, ngay cả tội nhân cứng đầu nhất cũng có hy vọng được cứu rỗi. Trong lòng thương xót của Ngài, Chúa đã hiến dâng Con Một của Ngài, Chúa Giê-su Christ, lên thập tự giá để cứu rỗi cả những kẻ gian ác. Chúng ta phải hết lòng đón nhận tình yêu và lòng thương xót này của Chúa và hết lòng giúp đỡ ngay cả những người không còn hy vọng.
Câu 33-36. Trí tuệ của Chúa vượt xa sự hiểu biết của con người. Như trời cao hơn đất, thì tư tưởng của Chúa cũng cao như trời và sâu như đại dương. Làm sao con người có thể hiểu thấu tất cả những gì Chúa làm? Chúng ta phải tin vào một Đức Chúa Trời nhân từ với con người và làm những việc tốt lành, và chúng ta phải tạ ơn và ngợi khen Ngài vì mọi điều.
Tóm lại, ngay cả ngày nay vẫn còn một nhóm người còn sót lại được chọn bởi ân điển. Chúa vẫn dang rộng vòng tay đón nhận những người bất tuân và cứng đầu, mong muốn họ trở về. Ngài muốn tỏ lòng thương xót và cứu rỗi họ. Chúa là Chúa của lòng thương xót. Nhiệm vụ của chúng ta là mang lòng thương xót của Chúa đến cho mọi người trên thế giới.
Leave a Reply
Bạn phải đăng nhập để gửi phản hồi.