Áp-ra-ham được xưng công chính bởi đức tin (Rô-ma 4:1 – 4:25)

2025 Rô-ma 7

Áp-ra-ham được xưng công chính bởi đức tin

Rô-ma 4:1 – 4:25

Câu gốc 4:13

  1. Áp-ra-ham được xưng công chính như thế nào (1-3)? Đức tin của ai được Đức Chúa Trời kể là công chính (4,5)? Đa-vít đã nói gì về phước hạnh của một người như vậy (6-8)?

1) Câu 1-3

   Vậy thì chúng ta sẽ nói gì, Áp-ra-ham, tổ phụ chúng ta, đã đạt được theo xác thịt? Áp-ra-ham không làm bất kỳ việc lớn nào, ông không tuân giữ luật pháp, vào thời đó thậm chí không có luật pháp, luật pháp chỉ được ban hành trong thời của Môi-se. Nếu ông đã được xưng công chính bởi những việc làm, ông sẽ có điều gì đó để khoe khoang. Nhưng ông không có gì để khoe khoang trước mặt Đức Chúa Trời, vì ông chỉ được xưng công chính bởi đức tin, nghĩa là bởi ân điển của Đức Chúa Trời. Phao-lô đã rất khôn ngoan khi viện dẫn Áp-ra-ham như một ví dụ về đức tin. Phao-lô giải thích những lời trong Kinh thánh, mà tất cả người Do Thái đều biết rất rõ, và chứng minh rằng đây không phải là ý kiến riêng của ông, mà là một lẽ thật được nêu rõ trong Kinh thánh. Qua ví dụ của Áp-ra-ham, tổ phụ của họ, ông đã chỉ ra rằng một người Do Thái được xưng công chính bởi đức tin và người ngoại cũng được xưng công chính bởi đức tin, và không có sự khác biệt giữa người Do Thái và người ngoại. Với những lời này, Phao-lô giải quyết nan đề về sự cứu rỗi của người ngoại. Và xác nhận sự hiệp nhất trong đức tin của họ.

2) Câu 4-5

Ở đây “kẻ làm việc” có nghĩa là làm việc lành và giữ luật pháp. Người nào muốn được xưng công bình bởi luật pháp hoặc bởi việc làm của chính mình, thì người ấy khoe khoang về việc làm và khả năng của mình. Người ấy nghĩ rằng mình xứng đáng được cứu rỗi và Đức Chúa Trời mắc nợ người ấy. Người ấy đến với Đức Chúa Trời để nhận tiền công. Một người như vậy không bao giờ tạ ơn, nhưng luôn phàn nàn về Đức Chúa Trời và những người xung quanh, và đòi hỏi nhiều sự chú ý hơn. Nếu ai đó khoe khoang về việc làm hoặc khả năng của mình, điều này có nghĩa là người đó không có đức tin, và do đó vẫn chưa nhận được sự xưng công bình. Chúng ta phục vụ Chúa không phải để nhận được điều gì đó, mà là từ ân điển lớn lao mà chúng ta đã nhận được bởi đức tin. Người được xưng công bình bởi đức tin biết rằng điều này là bởi lòng thương xót lớn lao của Đức Chúa Trời, và luôn cảm tạ Đức Chúa Trời, là Đấng xưng công bình cho tội nhân, và phục vụ Ngài bởi ân điển.

Bạn đến với Chúa để được trả công hay đến với Ngài bởi ân điển?

3) Câu 6 -8

Bây giờ Phao-lô làm chứng rằng một người được xưng công chính bởi đức tin, qua câu chuyện về Đa-vít. Đa-vít là niềm kiêu hãnh của người Do Thái. Nhưng ông ca ngợi phước hạnh của Áp-ra-ham, người được xưng công chính không phụ thuộc vào việc làm. Làm sao Đa-vít có thể ca ngợi về phước hạnh của Áp-ra-ham? Vì chính ông đã nhận được ân điển xưng công chính từ Đức Chúa Trời. Đa-vít là một vị vua, một nhạc sĩ và một nhà thơ. Ông đã đạt được mọi thứ mà mọi người mong muốn và tận hưởng mọi thứ trong cuộc sống của mình. Nhưng khi đó ông không hạnh phúc, và ông không bao giờ hát về phước hạnh của mình. Ông cũng là một tội nhân. Một ngày nọ, ông nhìn thấy Bát-sê-ba, một người phụ nữ đang tắm, và trong lòng ham muốn, ông đã phạm tội ngoại tình với bà. Sau đó, để che đậy, ông đã cử chồng bà là U-ri ra tiền tuyến nguy hiểm để giết ông ta. Bằng cách này, ông đã vi phạm năm trong Mười Điều Răn: ngoại tình, giết người, thèm muốn vợ của người khác, trộm cắp và làm chứng gian. Tội ác hoàn hảo của ông đã thành công. Nhưng ông không hạnh phúc. Ngược lại, ông là người đàn ông khốn khổ nhất trên thế giới. Ông không có niềm vui, không có sức lực, không có ý nghĩa trong cuộc sống. Ông không cảm thấy mình đang sống. Nhưng khi tiên tri Nathan đến với ông và vạch trần tội lỗi của ông, ông đã ngã xuống đất. Ông khóc lóc thảm thiết, đến nỗi giường ông ướt đẫm nước mắt. Khi ông đến với Chúa với tấm lòng tan vỡ, Chúa đã ban cho ông sự biện minh. Vào thời điểm đó, David đã nhận được sự tha thứ tội lỗi và đạt được hạnh phúc cao nhất không thể tìm thấy trên thế giới này. Ông viết bài ca Thi-thiên 51: “Phước cho những ai được tha thứ tội lỗi và được che đậy tội lỗi. Phước cho người nào Chúa không kể tội.”

Lý do khiến con người bất hạnh không phải là họ không có tiền hay là điều kiện sống tệ hại. Lý do khiến con người bất hạnh là tội lỗi. Tội lỗi cướp đi niềm vui và hạnh phúc của tâm hồn. Tội lỗi hủy hoại nhân cách, hủy hoại các mối quan hệ của con người, hủy hoại gia đình và xã hội. Nhưng vấn đề tội lỗi không thể giải quyết bằng sức mạnh và ý chí của riêng chúng ta. Vấn đề tội lỗi chỉ có thể được giải quyết khi Chúa giải quyết. Chúa Jesus đã đổ huyết trên thập tự giá vì tội lỗi của chúng ta. Và đối với những ai tin vào Chúa Jesus, Ngài che phủ mọi tội lỗi. Người được tha thứ tội lỗi và được che phủ tội lỗi là người hạnh phúc nhất trên thế giới.

  1. Phước lành này có liên hệ với ai (9)? Khi nào sự công chính được ban cho Áp-ra-ham (10)? Tại sao Áp-ra-ham trở thành cha của tất cả những người tin Chúa (11,12)?

9 Phước lành này có liên quan đến việc cắt bì hay không cắt bì? Chúng ta nói rằng đức tin của Áp-ra-ham được kể là công chính. Người Do Thái rất tự hào về phép cắt bì của họ, và tin rằng phép cắt bì mang lại cho họ sự tha thứ tội lỗi. Họ không thể chấp nhận rằng những người Ngoại bang không cắt bì cũng có cùng ân điển tha thứ tội lỗi. Do đó, Phao-lô giải thích rằng Áp-ra-ham đã được xưng công bình bởi đức tin khi ông không cắt bì, nghĩa là ông cũng là một người Ngoại bang. Đây là câu 10 Khi nào thì được tính? Sau khi cắt bì hay trước khi cắt bì? Không phải sau khi cắt bì, mà là trước khi cắt bì.

 Sau đó, người Do Thái hỏi: Lợi ích của việc cắt bì là gì?

Câu 11-12

 Và ông đã nhận được dấu hiệu cắt bì như một dấu ấn của sự công chính của đức tin mà ông đã có khi chưa cắt bì. Đức Chúa Trời đã ban cho ông lời này: Ngươi sẽ là cha của nhiều dân tộc. Áp-ra-ham đã tin và Đức Chúa Trời đã kể điều đó cho ông là sự công chính. Cắt bì là dấu hiệu cho thấy ông được xưng công chính bởi đức tin và là biểu hiện bên ngoài của đức tin rằng ông sẽ sống đến cùng bằng đức tin vững chắc vào lời hứa của Đức Chúa Trời.

Do đó, Abraham không chỉ trở thành tổ phụ của người Do Thái đã cắt bì, mà còn là tổ phụ của tất cả những người có cùng đức tin, giống hệt như Abraham trước khi cắt bì. Ngay cả những người Ngoại bang chưa cắt bì cũng có thể được xưng công chính bởi đức tin và là con cháu của Abraham. Tuy nhiên, người Do Thái coi trọng việc thực hành cắt bì hơn. Họ đã cắt bì, nhưng họ không tin vào lời hứa của Chúa và họ không hoàn thành sứ mệnh mà Chúa giao phó là trở thành nguồn phước lành cho mọi dân tộc. Họ tin rằng bản thân việc cắt bì khiến họ trở nên công chính. Đây là một niềm tin sai lầm. Nếu họ đã cắt bì, nhưng không noi theo bước chân đức tin của Abraham, họ không thể là con cháu của ông. Con cháu thực sự của Abraham không phải là những người thực hành cắt bì, mà là những người có cùng đức tin với Abraham và sống bởi đức tin. Nếu những người Do Thái trong Hội thánh Rô-ma tự hào về việc cắt bì của họ trong cộng đoàn, thì điều này sẽ chia rẽ cộng đoàn. Chỉ có đức tin mới đoàn kết được cộng đoàn.

  1. Lời hứa ban cho Áp-ra-ham và dòng dõi của ông dựa trên cơ sở nào (13)? Tại sao Đức Chúa Trời khiến những người tin Chúa trở thành người thừa kế (14-16)?

Câu 13 Vì lời hứa về quyền thừa kế thế gian không phải ban cho Áp-ra-ham hay dòng dõi ông qua luật pháp, nhưng qua sự công chính của đức tin.

  Trong văn bản, trở thành “người thừa kế của thế gian” có nghĩa là trở thành người thừa kế vương quốc vĩnh cửu của Đức Chúa Trời. Lời hứa trở thành người thừa kế đã được ban cho Áp-ra-ham và con cháu của ông không phải bởi luật pháp, mà bởi sự công bình của đức tin. Người Do Thái tin chắc rằng chỉ có người Do Thái mới được thừa hưởng vương quốc của Đức Chúa Trời vì chỉ có họ mới có luật pháp và giữ luật pháp. Nhưng Phao-lô giải thích rằng Đức Chúa Trời đã ban cho Áp-ra-ham ngay từ đầu lời hứa rằng những người được xưng công bình bởi đức tin, giống như Áp-ra-ham, là người thừa kế của Đức Chúa Trời.

Câu 14-16.

Luật pháp và lời hứa không tương thích. Nếu những người thuộc về luật pháp là người thừa kế, thì đức tin là vô ích và lời hứa không có hiệu lực. Tại sao vậy? Nếu Đức Chúa Trời đã hứa: “Hãy giữ luật pháp một cách trọn vẹn, và các ngươi sẽ là người thừa kế thế gian”, thì đức tin sẽ vô ích và lời hứa sẽ không có ích gì. Vì không ai có thể giữ luật pháp một cách trọn vẹn. Luật pháp cáo trách chúng ta về tội lỗi của mình và khiến chúng ta ý thức được cơn thịnh nộ của mình đối với Đức Chúa Trời. Luật pháp không có quyền năng cứu rỗi con người. Vì vậy, Đức Chúa Trời đã tạo điều kiện cho chúng ta trở thành người thừa kế thế gian bởi ân điển qua đức tin. Ngài biết những điểm yếu của chúng ta và đã khiến chúng ta trở thành người thừa kế vương quốc của Đức Chúa Trời bởi đức tin chứ không phải bởi việc làm của luật pháp. Thật vậy, Đức Chúa Trời giàu ân điển và lòng thương xót.

  1. Áp-ra-ham tin vào Đức Chúa Trời là Đấng như thế nào (17)? Làm thế nào Áp-ra-ham có thể trở thành cha của nhiều dân tộc (18)? Tại sao đức tin của ông được kể là công chính (19-22)?

Câu 17 (như có chép rằng: Ta đã lập ngươi làm cha nhiều dân tộc ) trước mặt Đức Chúa Trời, là Đấng ông đã tin, là Đấng ban sự sống cho kẻ chết và gọi những điều không có như đã có.

Đức Chúa Trời mà Abraham tin là Đức Chúa Trời – Đấng Tạo Hóa Toàn Năng. Cũng vậy, ở trung tâm đức tin của chúng ta là Đức Chúa Trời Toàn Năng, Đấng Tạo Hóa.

* Ta đã lập ngươi làm cha của nhiều dân tộc: Đức Chúa Trời từ lúc khởi đầu đã kêu gọi Abraham để cứu toàn thế giới. Người Do Thái đã che giấu lẽ thật này và giới hạn Đức Chúa Trời là Đức Chúa Trời của riêng người Do Thái. Phao-lô, bằng cách bác bỏ lỗi lầm của người Do Thái và giải thích giao ước Áp-ra-ham là giao ước phổ quát, mở ra cho cả người Do Thái và dân ngoại, đã xác nhận sự hiệp nhất của Phúc âm và tính hợp pháp của chức Sứ đồ của ông.

* ông tin vào quyền năng ban sự sống cho người chết – nói về sự kiện trong chương 22 của Sáng thế ký, khi Abraham dâng con trai mình là Isaac làm của lễ thiêu trên núi.

* ban sự sống, kêu gọi – cả hai động từ đều ở thì hiện tại. Điều này có nghĩa là Chúa vẫn tiếp tục hoạt động sáng tạo và phục sinh của Ngài ngay cả bây giờ.

Câu 18-22

Phao-lô giải thích đức tin của Áp-ra-ham qua 3 sự kiện.

1) Câu 3. Vì Kinh Thánh nói gì? Áp-ra-ham tin Đức Chúa Trời, và điều đó được kể là công bình cho ông. Điều này dựa trên Sáng thế ký 15:5-6 : Ngài đưa ông ra và nói, “Hãy ngước mắt lên trời và đếm các vì sao, nếu ngươi có thể đếm được.” Và Ngài nói với ông, “Dòng dõi ngươi sẽ như vậy.” Áp-ram tin Chúa, nên Ngài kể điều đó là công chính cho ông .

2) câu 17- 22. Đoạn này dựa trên Sáng thế ký 17 : 5: Đức Chúa Trời đã viếng thăm Áp-ra-ham và hứa rằng: “ Ngươi sẽ không còn được gọi là Áp-ram nữa, nhưng tên ngươi sẽ là Áp-ra-ham, vì Ta sẽ khiến ngươi trở thành cha của nhiều dân tộc.” Ngài truyền lệnh cho ông phải chịu phép cắt bì như một dấu hiệu của đức tin. Đức Chúa Trời đã ban sự công chính một lần nữa. Làm thế nào Áp-ra-ham tin lời Đức Chúa Trời và được công chính một lần nữa? Câu 18 -22 Vì vậy, điều đó được kể là công chính cho ông.

3) Và Gia-cơ cũng giải thích rằng Áp-ra-ham được xưng công bình bởi đức tin nào. (Gia-cơ 2:20-21) Nhưng hỡi người ngu dại kia, anh có muốn biết rằng đức tin không có việc làm thì chết không? Chẳng phải Áp-ra-ham, tổ phụ chúng ta, đã được xưng công bình bởi việc làm khi dâng con trai mình là Y-sác trên bàn thờ sao?

Điều này dựa trên Sáng thế ký 22:16-18 và nói rằng: Chúa phán: Ta lấy chính mình ta mà thề rằng: Vì ngươi đã làm điều này, không tiếc con trai ngươi, tức là con một ngươi, với ta, thì ta sẽ ban phước cho ngươi, và sẽ thêm nhiều dòng dõi ngươi như sao trên trời, như cát trên bờ biển; dòng dõi ngươi sẽ chiếm được các cửa thành quân thù mình; và nhờ dòng dõi ngươi, mọi dân tộc trên đất sẽ được phước: vì ngươi đã vâng theo tiếng ta. Điều này được giải thích

   Điều này có nghĩa là gì? Sự biện minh không phải là một sắc lệnh tư pháp có hiệu lực mãi mãi sau một lần tuyên bố: nghĩa là, một khi bạn đã được tha thứ, thì được tha thứ mãi mãi “một lần được cứu, mãi mãi được cứu?”. Nhiều người đã chấp nhận những quan điểm như thế này, đặc biệt là những người theo tà giáo. Nhưng điều này không đúng. Đức Chúa Trời đã quy đức tin của Abraham là sự công chính cho ông không chỉ một lần mà là ba lần trong suốt cuộc đời ông. Nghĩa là, sự biện minh mà Áp-ra-ham nhận được là sự biện minh của Đức Chúa Trời theo mối quan hệ cá nhân của ông với Đức Chúa Trời. Trong cuộc sống đức tin của Áp-ra-ham, bất cứ khi nào ông có mối quan hệ hoàn hảo với Đức Chúa Trời, Đức Chúa Trời đều quy điều đó cho ông là sự công chính. Điều này được nhắc đến ba lần trong Kinh thánh. Phao-lô đã lấy ba ví dụ về sự biện minh:

1) Câu 1-3 – về sự kiện trong chương 15 của Sáng thế ký. Áp-ra-ham tin lời Chúa và Chúa kể điều đó với ông là công chính. Lúc đó Áp-ra-ham đã 85 tuổi.

2) Câu 17 – về sự kiện trong chương 17 của Sáng thế ký. Khi Áp-ra-ham tin vào lời hứa của Đức Chúa Trời và đưa ra lời hứa, sự biện minh này được xác nhận bởi đức tin trọn vẹn của Áp-ra-ham. Đây là lúc Áp-ra-ham được 100 tuổi.

3) Các câu 17,21 – về sự kiện trong chương 22 của Sáng thế ký. Khi Abraham dâng Isaac làm của lễ thiêu trên núi, Chúa lại coi đó là sự công chính đối với ông. Lúc đó Abraham đã 115 tuổi.

Điều này có nghĩa là gì? Đức Chúa Trời bày tỏ cho chúng ta rằng nếu chúng ta nhận được sự biện minh của Đức Chúa Trời, thì đó không phải là sự biện minh của tòa án có giá trị mãi mãi, mà là sự biện minh theo mối quan hệ với Đức Chúa Trời. Chỉ khi chúng ta liên tục đứng trong mối quan hệ đúng đắn với Đức Chúa Trời, thì Đức Chúa Trời mới xác chứng với chúng ta sự biện minh của chúng ta. Vậy khi nào chúng ta có sự bảo đảm về sự biện minh? Đó là ân điển của Đức Chúa Trời mà Đức Thánh Linh ban cho chúng ta khi chúng ta đứng trong mối quan hệ đúng đắn với Đức Chúa Trời bởi đức tin. Sự bảo đảm về sự cứu rỗi này đến với chúng ta khi chúng ta đứng trước Đức Chúa Trời chỉ bởi đức tin, chứ không phải bởi việc làm trước mặt con người. Và điều này được ban cho không chỉ một lần, mà nhiều lần trong đời sống đức tin của chúng ta. Khi chúng ta ăn năn về sự vô tín của mình và vâng theo lời Đức Chúa Trời, thì mối quan hệ đúng đắn giữa Đức Chúa Trời và tôi được phục hồi, và mỗi lần sự biện minh của Đức Chúa Trời được xác nhận.

  1. Kinh Thánh cũng chép rằng điều đó được kể là công chính cho ai (23:24a)? Chúng ta tin vào Đức Chúa Trời là Đấng như thế nào (24b)? Chúa Giê-xu chết và phục sinh vì mục đích gì (25)?

Câu 23-25

Có phải thực sự Kinh thánh chỉ chép rằng điều đó được quy cho ông chỉ liên quan đến một mình Abraham không? Không, tất nhiên là không! Nhưng cũng liên quan đến chúng ta, những người tin vào lời của Chúa.

Đức tin của Áp-ra-ham và đức tin của chúng ta đều được ứng nghiệm như nhau trong Chúa Giê-xu Christ. Áp-ra-ham cũng tin vào Đức Chúa Trời Toàn Năng, Đấng có thể biến điều không thể thành có thể. Ông cũng tin vào quyền năng khiến người chết sống lại. Đức tin này giống hệt với đức tin của chúng ta rằng Chúa Giê-xu đã chết và sống lại, đang ngồi bên hữu Đức Chúa Trời, cai trị toàn thế giới. Do đó, cũng như Áp-ra-ham được xưng công bình bởi đức tin, thì chúng ta cũng được xưng công bình bởi đức tin nơi Chúa Giê-xu. Vì vậy, chúng ta là hậu duệ của đức tin của Áp-ra-ham.

* Tóm lại: trong cả Cựu Ước và Tân Ước, đối với cả người Do Thái và dân ngoại, Đức Chúa Trời đều coi đức tin là sự công chính. Do đó, chúng ta phải có đức tin mạnh mẽ hơn nữa vào Đức Chúa Trời Toàn Năng, Đức Chúa Trời của sự phục sinh, Đấng đã phó Chúa Jesus trên thập tự giá để chuộc tội cho chúng ta và sau đó khiến Ngài sống lại từ cõi chết. Và đức tin đó không phải là đức tin chết (sự đồng ý về giáo lý trên tâm trí về mặt lý thuyết), mà phải là đức tin sống (là đức tin hành động và được chứng minh bằng đời sống đạo, bằng cuộc sống và hành động thật sự). Chúng ta phải luôn là dân sự của Đức Chúa Trời, làm đẹp lòng Đức Chúa Trời bằng đức tin của mình và trở thành hậu duệ thuộc linh của Áp-ra-ham.

 

Be the first to comment

Leave a Reply