ĐỨC CHÚA TRỜI KÊU GỌI MÔI-SE (Xuất Ê-díp-tô ký 2:23-3:12)

Xuất Ê-díp-tô ký. Bài 3.
ĐỨC CHÚA TRỜI KÊU GỌI MÔI-SE
Xuất Ê-díp-tô ký 2:23-3:12
Câu khóa 3:4
Bài học Kinh thánh ngày hôm nay kể về câu chuyện mà Môi-se được Đức Chúa Trời kêu gọi thành nhà tiên tri của Lịch sử Xuất hành. Tại sao Đức Chúa Trời lại kêu gọi Môi-se không phải lúc ông còn trẻ khỏe, đầy sức lực và mong muốn làm nên lịch sử, mà mãi đến khi ông thành một ông già 80 tuổi? Chúng ta cầu nguyện để Đức Thánh Linh dạy chúng ta về những tiêu chuẩn để Chúa có thể kêu gọi và đại dụng chúng ta trong lịch sử của Ngài. Amen.
I. Đức Chúa Trời chuẩn bị Môi-se (2:22-25)
Khi chúng ta học sách Xuất Ê-díp-tô ký, chúng ta cần phải hiểu rằng đây là những sự kiện lịch sử chân thực. Khi Giô-sép lên làm tể tướng và dân Israel chuyển cư đến Ê-díp-tô, lúc đó theo các nghiên cứu của các nhà sử học là triều đại Gixos đang cai trị. Họ nhận được miền đất tốt nhất, các vua pha-ra-ôn Gixos đối xử với họ rất tốt. Họ nghĩ rằng sẽ ở lại đó mãi mãi. Họ tiếp nhận văn hóa của Ê-DÍP-TÔ, thờ thần của người Ê-DÍP-TÔ, và đồng hóa trở thành một phần của dân tộc xứ Ê-DÍP-TÔ. Nếu cứ để như vậy, họ sẽ hòa tan vào Ê-DÍP-TÔ và không bao giờ còn nhớ đến nguồn gốc của mình và giao ước của Đức Chúa Trời với tổ tiên của họ nữa. Nhưng chuyện gì đã xảy ra?
Một triều đại pha-ra-ôn mới lên ngôi, và họ nhìn thấy hiểm họa trong dân Israel. Cho nên họ bắt đầu đàn áp dân Israel. Vị vua giết hại các hài nhi người Do thái là Tutmoses 1. Khi ông chết thì con gái của ông là Hatshepsut lên trị vì, chính là nàng công chúa đã nhận Môi-se làm con nuôi. Sau khi công chúa chết, thì vị vua pha-ra-ôn tiếp theo là Tutmoses 3, chính là người đã đuổi giết Môi-se, làm cho Môi-se hoảng sợ và phải chạy trốn vào đồng vắng xứ Ma-đi-an. Ông ta chết trước khi Môi-se quay về Ê-DÍP-TÔ (2:23).
Sau Tutmoses 3 lên ngôi cai trị là Amenhotep 2 là vị vua trong lúc xảy ra 10 phép lạ và bị chết đuối ở Biển Đỏ khi đuổi theo dân Israel. Vị vua kế tiếp là Tutmoses 4, không phải là con trai nối dõi của Amenhotep 2. Các nhà khảo cổ học đã tìm thấy ở Thung lũng của các vị vua ở Luxor một tượng đài của giấc mộng được dựng lên bởi vua Tutmoses 4. Trên đó có viết: “Tôi đang đi dạo và bỗng nhiên thấy mình đang đứng dưới con Nhân sư sphinx. Trong giấc mơ Nhân sư hiện ra và nói với tôi: anh trai của ngươi đã chết và ngươi sẽ trở thành vua. Ngươi hãy ngay lập tức trở về nhà. Khi tôi về nhà, anh trai thực sự đã chết không rõ lý do, và tôi trở thành vua pha-ra-ôn. Tôi dựng nên tượng đài này để tạ ơn Nhân sư”. Do đó tượng đài này được gọi là Tượng đài của giấc mộng.
Không tìm thấy bất cứ ghi chép gì về cái chết của người anh trai này của Tutmoses 4. Trong lịch sử Ê-díp-tô các nhà sử gia không ghi chép lại những cái chết xấu hổ, họ chỉ chép về những cái chết vinh quang oai hùng. Có lẽ vì lý do này mà trong lịch sử Ê-DÍP-TÔ không có bất kỳ một ghi chép nào về Môi-se và câu chuyện về 10 tai vạ. Các nhà nghiên cứu sử học cho rằng anh trai của vua Tutmoses 4 đã chết trong thời kỳ 10 tai vạ. Amenhotep II bị chết đuối ở Biển Đỏ, còn con trai đầu lòng của ông ta thì bị chết vào lúc tai vạ thứ 10 xảy ra. Vì vậy Tutmoses 4 mới có thể trở thành vua pha-ra-ôn. Như thế các nhà sử học và khảo cổ học đã chứng minh sự kiện lịch sử này là có thật, hệt như Kinh thánh chép.
Quay trở lại với bài học Kinh thánh hôm nay. Cuộc đời của Môi-se được chia làm 3 giai đoạn, mỗi giai đoạn gồm 40 năm.
– 40 năm là hoàng tử Ê-díp-tô
– 40 năm là người chăn cừu ở xứ Ma-đi-an
– 40 năm làm người lãnh đạo cuộc Xuất hành.
Đức Chúa Trời kêu gọi Môi-se khi ông 80 tuổi. Thời kỳ lúc đó là như thế nào?
Chúng ta xem câu 2:22 “Nàng sanh một con trai; Môi-se đặt tên là Ghẹt-sôn vì nói rằng: Tôi kiều ngụ nơi ngoại bang.” Đó là lúc định dạng của Môi-se về bản thân là hoàng tử Ai-cập đã hoàn toàn bị tan vỡ, lúc mà mọi tàn tích của vị hoàng tử đã biến mất. 40 năm Môi-se chăn cừu trong đồng vắng – là thời gian để đập vỡ cái tôi. Câu 22 đã miêu tả cách ngắn gọn về 40 năm cuộc đời của Môi-se trong đồng vắng: khi đứa con trai đầu sinh ra, Môi-se đặt tên là Ghẹt-sôn “kẻ kiều ngụ nơi ngoại bang”.
Trong vòng 40 năm Môi-se cứ tự hỏi mình: Tôi là ai? Tôi không phải là hoàng tử. Tôi không phải là chủ nông trại cừu,là người ở rể, không quyền lực, không của cải tiền bạc. Tôi không là ai cả. Ah, tôi là kẻ kiều ngụ nơi ngoại bang! Ông nhận ra rằng ông là kẻ hành hương. Định dạng của ông giờ đây là kẻ kiều ngụ, kẻ hành hương. Bởi thế, khi đứa con trai đầu sanh ra, ông đã đặt tên cho nó là Ghẹt-sôn “kẻ ngoại bang”. Sau cuộc Xuất hành, Đức Chúa Trời thường xuyên nhắc cho dân Israel rằng họ là dân ngoại bang (Xuất 22:21, 23:9). Trong cuốn sách luật pháp Đức Chúa Trời phán rằng Israel là khách ngoại bang. Kẻ kiều ngụ nơi ngoại bang – đó là khuôn mẫu định dạng bản thân của dân Israel. Tại sao dân Israel lại phải nhớ nằm lòng điều này? 1/ Để họ luôn nhớ ân điển của Đức Chúa Trời, và luôn luôn hạ mình khiêm nhường xuống trước mặt Chúa, và để có thể phục vụ những khách ngoại bang khác. Nếu Israel quên đi điều này, họ sẽ trở nên kiêu ngạo, sẽ hành xử theo cảm xúc, gây tự ái tổn thương cho người khác, và ức hiếp kẻ yếu. 2/ Để họ luôn biết rằng thế gian này chỉ là tạm thời, mỗi chúng ta ở đây giống như kẻ hành hương mà thôi. Chỉ Vương quốc của Đức Chúa Trời trên trời mới là vĩnh cửu. Đó mới là quê hương thật của chúng ta.
Khi nào chúng ta có thể hầu việc Đức Chúa Trời? Khi chúng ta còn đang nỗ lực chứng tỏ bản thân, chưa phải là thời gian của Chúa. Những người như vậy chỉ cầu xin Chúa cho những mục đích cá nhân, và họ không tăng trưởng thuộc linh được. Mong muốn chứng tỏ bản thân mạnh đến mức làm cho họ không thể nhìn thấy người khác. Họ không hề thấy họ làm tổn thương đến các mục sư, đến các anh chị em khác. Họ không nhìn thấy những cộng sự khác có đau khổ hay không. Ngược lại, chính họ luôn cảm thấy đau khổ vì những ham muốn của họ chưa được thỏa mãn: họ luôn bị mâu thuẫn nội tâm, luôn than vãn. Chỉ khi nào một người buông bỏ được cái tôi, từ bỏ nỗ lực chứng tỏ mình, và căn bệnh “hoàng tử, công chúa”, thì người đó mới nhìn thấy mình, nhìn thấy những người xung quanh, và có thể phục vụ được người khác. Đối với những ai được tái sanh bởi Đức Thánh Linh trong Chúa Jesus Christ thì cũng phải trải qua quá trình từ bỏ cái tôi. Chỉ sau đó người đó mới có thể phục vụ được sứ mệnh mà Đức Chúa Trời giao cho.
Nỗ lực vươn lên đỉnh cao danh vọng – là điều ác trước mặt Đức Chúa Trời. Những ai luôn muốn thành người đứng thứ nhất, người quan trọng nhất, vượt trổi hơn người khác, thì họ không thể hiểu được người khác. Đức Chúa Trời không thể làm việc với những người như vậy. Cho đến khi nào những ý nghĩ “Tôi là người quan trọng nhất, tôi là số zách, là bố đời” chưa biến mất, thì Đức Chúa Trời không thể nào sử dụng chúng ta được.
Ghẹt-sôn “kẻ kiều ngụ” – có nghĩa là “tôi là kẻ kiều ngụ, con trai tôi cũng là kẻ kiều ngụ”. Trong Môi-se lúc này không còn vương vấn chút hương vị nào của hoàng tử Ê-díp-tô nữa. Ý nghĩa của tên Ghẹt-sôn là: không phải là nhân vật trung tâm của xã hội, mà là kẻ ngoài lề, không cường mạnh mà là yếu đuối, không phải là hoàng gia, mà là thường dân chăn cừu nơi hoang mạc, “không là ai cả”. Chính lúc đó Đức Chúa Trời mới kêu gọi Môi-se và làm nên lịch sử mới qua ông.
Chúng ta xem câu 23 “Sau cách lâu, vua xứ Ê-díp-tô băng; dân Y-sơ-ra-ên than thở kêu van vì phải phục dịch khổ sở; tiếng kêu van lên thấu Đức Chúa Trời.” Đức Chúa Trời nghe thấy tiếng than thở kêu van. Ý tưởng này được miêu tả trong Sáng 4:10; 18:20-21. Đây là nguyên tắc của Đức Chúa Trời khi thi hành sự phán xét. Sự trừng phạt kẻ ác cũng xảy ra đồng thời với sự cứu rỗi những người khốn khổ.  Sự trừng phạt và sự cứu rỗi là 2 mặt của một đồng tiền.
Đây cũng là lý do tại sao chúng ta lại phải chịu đau khổ và sống bởi đức tin trong thế gian này? Chúng ta cầp phải nhận biết một Đức Chúa Trời là Đấng lắng nghe sự than thở kêu van của những tín đồ và cứu rỗi họ. Lịch sử không diễn tiến theo bàn tay của kẻ mạnh, mà là Đức Chúa Trời điều khiển theo lời cầu nguyện của những kẻ yếu đuối, bởi huyết của các thánh đồ đổ ra (Khải huyền 6:11).
Chúng ta xem câu  24-25 “24 Ngài nghe tiếng than thở chúng, nhớ đến sự giao ước mình kết lập cùng Áp-ra-ham, Y-sác và Gia-cốp. 25 Đức Chúa Trời đoái lại dân Y-sơ-ra-ên, nhận biết cảnh ngộ của chúng.” Động cơ chính của cuộc Xuất hành – là giao ước của Đức Chúa Trời mà Ngài lập với các tổ phụ. Chúng ta thấy sự thành tín của Đức Chúa Trời và sự thành tín của giao ước Ngài. Chúng ta cũng thấy sự nhân từ của Đức Chúa Trời khi Ngài đoái xem dân Israel. Sự thành tín và sự nhân từ của Đức Chúa Trời – đó là nền tảng của lịch sử Xuất Ê-díp-tô.
Nhưng Đức Chúa Trời đi cứu dân Israel không phải một mình, Ngài đem theo Môi-se nữa.
II. Đức Chúa Trời kêu gọi Môi-se (3:1-12)
Chúng ta xem 3:1-4 “Vả, Môi-se chăn bầy chiên cho Giê-trô, ông gia mình, là thầy tế lễ tại xứ Ma-đi-an; dẫn bầy chiên qua phía bên kia đồng vắng, đến núi của Đức Chúa Trời, là núi Hô-rếp. 2 Thiên sứ của Đức Giê-hô-va hiện ra cùng người trong ngọn lửa, giữa bụi gai kia. Người nhìn thấy cả bụi gai đang cháy, nhưng không hề tàn. 3 Môi-se bèn nói rằng: Ta hãy tẻ bước lại đặng xem sự lạ lớn nầy, vì cớ sao bụi gai chẳng tàn chút nào. 4 Đức Giê-hô-va thấy người tẻ bước lại xem, Đức Chúa Trời bèn ở giữa bụi gai gọi rằng: Hỡi Môi-se, hỡi Môi-se! Người thưa rằng: Có tôi đây! ” Qua cách siêu nhiên Đức Chúa Trời gây sự chú ý của Môi-se. Ngài bày tỏ Ngài là Đấng toàn năng và siêu nhiên, mà Môi-se không thể nào hiểu được bằng tri thức, bằng trí thông minh, bằng lý trí của mình.
Chúng ta xem câu 5-6 “5 Đức Chúa Trời phán rằng: Chớ lại gần chốn nầy, Hãy cổi giầy ngươi ra, vì chỗ ngươi đang đứng là đất thánh. 6 Rồi Ngài lại nói: Ta là Đức Chúa Trời của tổ phụ ngươi, Đức Chúa Trời của Áp-ra-ham, Đức Chúa Trời của Y-sác, và Đức Chúa Trời của Gia-cốp. Môi-se liền che mặt, vì sợ nhìn đến Đức Chúa Trời.” Ở đây nói về chủ đề phục hồi sự thờ phượng. Giầy – tượng trưng cho sự bẩn thỉu của tội lỗi. Môi-se đã sống 40 năm không có Đức Chúa Trời – đôi giầy của ông đã bám đầy bụi bẩn của sự vô tín, số phận, sự tuyệt vọng, than vãn và tội lỗi. Đức Chúa Trời đã phán cho Môi-se tháo giầy, và chính vào lúc đó sự thờ phượng đã diễn ra.
Như vậy, sự thờ phượng là gì? Đó không phải là nghi lễ tôn giáo. Đó là sự hiện diện của Đức Chúa Trời. Còn sự đáp ứng của chúng ta là ăn năn từ bỏ tội lỗi, tháo bỏ đôi giầy bẩn, được nên thánh – đó là sự thờ phượng.
Chúng ta xem câu 7-10 “Đức Giê-hô-va phán rằng: Ta đã thấy rõ ràng sự cực khổ của dân ta tại xứ Ê-díp-tô, và có nghe thấu tiếng kêu rêu vì cớ người đốc công của nó; phải, ta biết được nỗi đau đớn của nó. 8 Ta ngự xuống đặng cứu dân nầy khỏi tay người Ê-díp-tô, dẫn từ xứ ấy lên đến một xứ kia đẹp đẽ và rộng rãi, đượm sữa và mật, tức là nơi dân Ca-na-an, dân Hê-tít, dân A-mô-rít, dân Phê-rê-sít, dân Hê-vít và dân Giê-bu-sít ở. 9 Nầy, tiếng kêu rêu của dân Y-sơ-ra-ên thấu đến ta, và ta đã thấy dân Ê-díp-tô hà hiếp chúng nó thể nào; 10 vậy bây giờ, hãy lại đây, đặng ta sai ngươi đi đến Pha-ra-ôn, để dắt dân ta, là dân Y-sơ-ra-ên, ra khỏi xứ Ê-díp-tô.” Đây là mục đích của cuộc Xuất hành. Xuất ra khỏi Ê-díp-tô không phải là mục đích cuối cùng. Đức Chúa Trời muốn dẫn họ vào Đất hứa – đó là lời hứa về đất đai. Cũng vậy ăn năn tin nhận CHÚA JESUS và được cứu rỗi ra khỏi sự chết đời đời không phải là tất cả, mà sau đó chúng ta cần phải trở thành thầy tế lễ của Đức Chúa Trời và sống với tư cách của dân thánh cho đến khi chúng ta bước vào miền Đất hứa là Nước Thiên Đàng đời đời trên trời.
Chúng ta xem câu 11-12 “11 Môi-se bèn thưa rằng: Tôi là ai, dám đi đến Pha-ra-ôn, đặng dắt dân Y-sơ-ra-ên ra khỏi xứ Ê-díp-tô? 12Đức Chúa Trời phán rằng: Ta sẽ ở cùng ngươi; nầy là điều làm dấu cho ngươi biết rằng ta đã sai ngươi đi: Khi ngươi dắt dân sự ra khỏi xứ Ê-díp-tô rồi, thì các ngươi sẽ phụng sự Đức Chúa Trời tại trên núi nầy.” Ta sẽ ở cùng ngươi. Lịch sử của Đức Chúa Trời không phụ thuộc vào Môi-se. Chính tự Đức Chúa Trời thực hiện. Công việc chính yếu mà Môi-se làm – đó là vâng phục. Đức Chúa Trời tìm kiếm và sử dụng những con người biết vâng phục.
Qua bài học ngày hôm nay chúng ta nhận biết rằng Đức Chúa Trời tìm kiếm và dạy dỗ một con người cách kiên nhẫn, cho đến khi người đó hoàn toàn từ bỏ cái tôi, để có thể hoàn toàn vâng phục và trông cậy Chúa trong mọi sự, chỉ khi đó thì Ngài mới đại dụng người đó. Cầu xin Đức Chúa Trời dấy lên những người lãnh đạo thuộc linh cho lịch sử vĩ đại của Ngài trong thế hệ chúng ta. Amen.

Be the first to comment

Leave a Reply