Xuất Ê-díp-tô ký. Bài 1.
NHỮNG BÀ MỤ CÓ LÒNG KÍNH SỢ ĐỨC CHÚA TRỜI
Xuất Ê-díp-tô ký 1:1-21
Câu khóa 1:17
Chúng ta nhớ lại trong giao ước của Đức Chúa Trời lập với Abraham có 3 điểm chính: 1. Đất đai, 2. Dòng dõi, 3. Chủ quyền. Thế thì sách Xuất Ê-DÍP-TÔ ký nói về điều gì? Nói về việc 3 lời hứa này của Đức Chúa Trời đã được thực hiện như thế nào. Sáng thế ký nói về lời hứa, còn Xuất ê-díp-tô ký nói về sự thực hiện lời hứa.
Xuất ê-díp-tô ký có nghĩa gì với chúng ta ngày nay? Xuất – là ra khỏi, Ê-díp-tô là tượng trưng cho nô lệ. Chúng ta cầu nguyện để qua việc học Xuất ê-díp-tô ký, mỗi chúng ta đều hoàn toàn xuất ra khỏi nô lệ của tội lỗi, trở thành công dân của Nước Đức Chúa Trời, trở thành các thầy tế lễ của Chúa, sống để rao giảng Tin Lành của CHÚA JESUS. Các ngươi sẽ thành một nước thầy tế lễ, cùng một dân tộc thánh cho ta. Amen.
- Các con trai của Israel đã trở nên thế nào ở Ê-díp-tô? Họ đã sinh sôi nhiều như thế nào? (1-7)
Khởi đầu của sách Xuất ê-díp-tô ký nói ngay về việc thực hiện lời hứa về dòng dõi – về “một dân lớn”. Sau đó qua họ Đức Chúa Trời sẽ xây dựng Vương quốc của Ngài. Cuối cùng họ sẽ phải chiếm lấy đất đai mà Đức Chúa Trời hứa ban cho họ. Vì vậy Xuất ê-díp-tô ký ngay từ đầu nói đến lời hứa về dòng dõi. Lúc mới vào Ê-díp-tô họ chỉ có 70 người, bây giờ họ đã là 2 triệu người. Trong đó có 600 ngàn người nam có khả năng chiến đấu. Còn lại là người già, phụ nữ và trẻ em. Xuất 12:37 “Dân Y-sơ-ra-ên đi từ Ram-se đến Su-cốt, số không kể con nít, được chừng sáu mươi vạn người đàn ông đi bộ.” “Đó là những người trong dân Y-sơ-ra-ên mà người ta tu bộ tùy theo tông tộc mình. Trong các trại quân hết thảy người đã kê sổ từng đội ngũ là sáu trăm ba ngàn năm trăm năm mươi người. ” (Dân 2:32)
Chúng ta đọc câu 5 “Hết thảy những người bởi Gia-cốp sanh ra, được bảy mươi người;” Tại sao lại là 70 người? Bởi vì gia tộc của Gia-cốp xuống Ê-díp-tô là 70 người. Nhưng số 70 có ý nghĩa thuộc linh. Dòng dõi của các con trai của Nô-ê là Sem, Cham, Gia-phết ghi chép lại trong Sáng chương 10 là 70 người, và là tổ tiên của cả thế gian. Do đó trong Kinh thánh 70 người tượng trưng cho toàn nhân loại. CHÚA JESUS huấn luyện 12 sứ đồ, nhưng khi Ngài sai các môn đồ đi rao giảng tin lành theo từng đôi, thì con số là 70. Điều đó có nghĩa là Tin Lành được dành cho toàn nhân loại, và CHÚA JESUS sai 70 môn đồ đi ra để cứu rỗi toàn thế giới. 70 người của Israel chính là thầy tế lễ cho toàn nhân loại.
Chúng ta xem câu 7 “Con cháu Y-sơ-ra-ên thêm nhiều lạ lùng, nẩy nở ra, và trở nên rất cường thạnh; cả xứ đều đầy dẫy.”
Cách đây không lâu báo chí thông báo là dân số thế giới gồm khoảng 7 tỷ dân. Vào năm 1985 dân số thế giới là 5 tỷ dân. Vào thế kỷ 18 thế giới có khoảng 1 tỷ dân. Sự bùng nổ dân số thế giới chỉ xảy ra khoảng 200 năm trước đây. Vào thời Chúa Jesus, trên trái đất có khoảng 250 triệu dân sinh sống. Còn vào 3500 năm trước, lúc mà Môi-se viết sách này, thì sự gia tăng dân số là một hiện tượng kỳ lạ bất thường.
Khi chúng ta đọc câu 7, chúng ta nhớ lại Sáng 1:28. Khi Môi-se miêu tả sự việc kỳ lạ này, ông đã sử dụng lời của Sáng 1:28, ông nhìn thấy bàn tay của Đức Chúa Trời đã ban phước cách kỳ diệu cho dòng dõi của Abraham. Đó chính là Đức Chúa Trời thực hiện lời hứa của Ngài đối với Abraham.
- Tại sao người Ê-díp-tô lại bắt đầu lo lắng? (8-9) Pha-ra-ôn quyết định làm gì với dân Israel? (10-14)
Chúng ta xem câu 8-9 “8 Nhưng bấy giờ tại nước Ê-díp-tô, có một vua mới lên ngôi, chẳng quen biết Giô-sép. 9 Vua phán cùng dân mình rằng: Nầy, dân Y-sơ-ra-ên đông và mạnh hơn chúng ta;”
Ở Ê-díp-tô có một vua pha-ra-ôn mới lên ngôi, không biết Giô-sép. Khi Giô-sép đến ê-díp-tô, thì ở đó là triều đại Gixos cai trị. Họ là dòng dõi của Sem. Trước họ là đế quốc Ai-cập cổ đại. Triều đại Gixos đã đến vùng lưu vực sông Nile, chiếm lấy vùng đất này và dựng nên triều đại Gixos. Họ đã sáng chế ra xe ngựa bằng sắt, nên có sức mạnh quân sự. Nhưng triều đại Gixos cai trị được khoảng 200 năm. Sau đó triều đại mà bị Gixos đuổi đi đã trở nên mạnh mẽ và quay lại chiếm lấy đất Ê-díp-tô. Triều đại này là triều đại thứ 18. Đó là triều đại Amoses. Họ có liên quan đến nước. Tất cả các vua pha-ra-ôn đều có tên là Amoses, hoặc Moses. Tên của Môi-se, Moses nghĩa là được cứu ra từ nước. Ông được đặt tên như vậy vì ông được gia nhập vào hoàng gia. Khi mà triều đại Amoses cường thịnh, thì họ không biết Giô-sép là ai cả.
Chúng ta đọc câu 10-14 “hè! ta hãy dùng chước khôn ngoan đối cùng họ, kẻo họ thêm nhiều lên, một mai nếu có cơn chinh chiến xảy đến, họ sẽ hiệp cùng quân nghịch đánh lại ta, và ra khỏi xứ chăng. 11 Vậy, người Ê-díp-tô bèn đặt các kẻ đầu xâu để bắt dân Y-sơ-ra-ên làm xâu khó nhọc; họ xây thành Phi-thom và Ram-se dùng làm kho tàng cho Pha-ra-ôn. 12 Nhưng người Ê-díp-tô càng bắt làm khó nhọc chừng nào, dân Y-sơ-ra-ên càng thêm nhiều lên, và tràn ra chừng nấy. Người Ê-díp-tô bèn đem lòng ghen ghét dân Y-sơ-ra-ên, 13 bắt làm công việc nhọc nhằn, 14 gây cho đời dân ấy nên cay đắng, vì nỗi khổ sở nhồi đất, làm gạch và mọi việc khác ở ngoài đồng. Các công việc nầy người Ê-díp-tô bắt dân Y-sơ-ra-ên làm nhọc nhằn lắm.” Vào thời cổ đại sự gia tăng dân số có ý nghĩa rất quan trọng. Nền kinh tế phụ thuộc vào sức lao động. Gia tăng dân số có nghĩa là nền kinh tế tăng trưởng. Thứ hai, đó là sức mạnh quân sự. Cho nên việc dân số Israel gia tăng là sự đe dọa lớn đối với pha-ra-ôn. Cho nên vua pha-ra-ôn sợ hãi dân Israel. Ông ta cố tình làm mọi thứ mưu mô để cho dân Israel không được gia tăng và cường thịnh.
- Pha-ra-ôn ra mệnh lệnh gì cho những bà mụ đỡ đẻ để tiêu diệt dân Israel? (15-16)
Vì sợ hãi nên pha-ra-ôn đưa ra một mệnh lệnh vô cùng độc ác. “15 Vua xứ Ê-díp-tô cũng phán cùng các bà mụ của dân Hê-bơ-rơ, một người tên Siếp-ra và một người tên Phu-a, 16 mà rằng: Khi các ngươi đi rước thai cho người đàn bà Hê-bơ-rơ, hễ thấy sanh con trai, thì hãy làm cho chết đi; còn con gái, thì hãy để cho sống.”
Chúng ta nhìn thấy ở đây sự sợ hãi của pha-ra-ôn. Ông ta sợ bị mất quyền lực, sợ dân Israel chiếm đất. Nhưng ông ta không thể làm gì được cả. Sự sợ hãi của pha-ra-ôn là sự sợ hãi của con người chống nghịch lại Đức Chúa Trời. Ông ta nhìn thấy rằng cánh tay của Đức Chúa Trời ban phước cho dân Israel, làm họ nên cường thạnh, làm cho dân sinh sôi nảy nở. Cho nên ông ta ra lệnh giết chết những hài nhi. Vì sợ hãi ông ta càng phạm tội ác lớn hơn. Một trong những chủ đề chính của bài học đầu tiên là sự sợ hãi của pha-ra-ôn, sự sợ hãi của con người chống nghịch lại Đức Chúa Trời.
- Những bà mụ đã sợ ai hơn? Và họ đã làm gì khi những đứa con trai được sanh ra? (17-19)
Nhưng ở đây có những người cũng có sự sợ hãi, nhưng là sự kính sợ Đức Chúa Trời. Các bà mụ đỡ đẻ người ê-díp-tô lại kính sợ Đức Chúa Trời hơn là sợ vua pha-ra-ôn.
Mặc dù pha-ra-ôn là vua, là hoàng đế, người có địa vị cao nhất trong xã hội. Ông ta sợ hãi dân của Chúa, nên đã trở thành kẻ chống nghịch lại Đức Chúa Trời. Còn các bà mụ đỡ đẻ thì ở dưới đáy xã hội, địa vị thấp hèn. Nhưng họ có lương tâm, họ không thể giết hại hài nhi vì nhận biết hình ảnh của Đức Chúa Trời trong đó. Họ kính sợ Đức Chúa Trời hơn là sợ vua pha-ra-ôn, cho nên họ không thể giết hại trẻ em. Chúng ta thấy ở đây có hai nỗi sợ hãi đối nghịch. Thứ nhất là sự sợ hãi của vua pha-ra-ôn đang ngồi trên ngai tể trị. Thứ hai là sự kính sợ của những bà mụ ở đáy xã hội.
Chúng ta cần phải có sự sợ hãi nào? Chúng ta cần phải sợ ai hơn?
Chúng ta sống trong thời kỳ khi trẻ em sinh ra và ngay lập tức bị dòng sông “Nile” của tội lỗi, chủ nghĩa vật chất và sự hưởng lạc cuốn chìm. Chỉ những ai có lòng kính sợ Đức Chúa Trời mới có thể chống lại mệnh lệnh của pha-ra-ôn.
- Đức Chúa Trời đã làm gì cho những bà mụ vì điều này, và dân nhận được kết quả là gì? (20-21)
Chúng ta xem câu 20-21 “Đức Chúa Trời ban ơn cho những bà mụ; dân sự gia thêm và trở nên đông đúc. 21 Ấy vậy, vì bà mụ có lòng kính sợ Đức Chúa Trời, nên Ngài làm cho nhà họ được thạnh vượng.” Đức Chúa Trời nhìn thấy và ban phước cho cả nhà của các bà mụ được thạnh vượng. Khi các bà mụ chống lại mệnh lệnh của vua pha-ra-ôn, đó chỉ vì họ làm theo tiếng nói của lương tâm. Nhưng Đức Chúa Trời từ trên trời cao nhìn thấy mọi sự, và Ngài ban phước cho họ và cả gia đình họ nữa.
Bởi sự chống đối của họ đối với pha-ra-ôn mà kế hoạch ác độc của pha-ra-ôn không được thành, còn lịch sử của Đức Chúa Trời vẫn tiếp diễn. Qua họ một lịch sử cứu rỗi kỳ diệu được thực hiện. Ai là người thay đổi và làm nên lịch sử? Không phải là những người ngồi ở vị trí quyền lực, không phải là hoàng đế, cũng không phải là quân đội hùng mạnh, không phải là những quốc gia hùng cường… Mà là những con người có nghị lực nội tâm. Những con người bé nhỏ chống lại điều ác và tội lỗi. Chỉ là một lực lượng nhỏ nhoi. Nhưng chính họ mới là những người thay đổi lịch sử. Vào thời chúng ta đó là những môn đồ của CHÚA JESUS, là những con người sống bởi đức tin, chống lại tội lỗi. Những ai chống nghịch lại Đức Chúa Trời sẽ bị hư mất.
Trong lịch sử cứu rỗi Đức Chúa Trời không sử dụng những quốc gia hùng cường, những người khôn ngoan quyền thế, những kẻ mạnh của thế gian, vua pha-ra-ôn. Đức Chúa Trời sử dụng những con người bình thường, dường như ở đáy xã hội, có địa vị thấp kém, nhưng là những người yêu cuộc sống, sống bằng đức tin. Qua họ Đức Chúa Trời thực hiện lịch sử cứu rỗi của Ngài.
Nếu bây giờ chúng ta nhìn vào bản thân như những người không thể làm gì để có thể chống lại dòng cuốn mạnh mẽ của thế gian này, thì không đúng. Đức Chúa Trời thực hiện lịch sử cứu rỗi qua những con người giản dị nhưng sống bởi đức tin.
Ngày hôm nay chúng ta học biết rằng lời hứa và giao ước của Đức Chúa Trời chắc chắn sẽ được thực hiện. Chúng ta cần phải có đức tin vào lời hứa Chúa, giữ đức tin và kiên nhẫn chờ đợi thì giờ mà lời Chúa hứa thành hiện thực. Chúng ta cũng cần phải có sự kính sợ Đức Chúa Trời. Đức Chúa Trời là Đấng nhìn thấy tấm lòng và Ngài luôn đẹp lòng về những người có đức tin và sự kính sợ Ngài. Xin Chúa giúp chúng ta hôm nay có một quyết định của đức tin. Amen.
Leave a Reply
Bạn phải đăng nhập để gửi phản hồi.