CHÚA JESUS Ở JERUSALEM (Mác chương 11-14)

CHÚA JESUS Ở JERUSALEM

Mác chương 11-14

Tuần trước chúng ta đã kết thúc sách mác, hôm nay tóm tắt qua Tin Lành theo Mác chủ đề chính Bài học hôm nay từ chương 11-14 nói việc Chúa Jesus đã làm sau khi Ngài vào thành Jerusalem

Tác giả Mác gọi câu chuyện trần thuật về CHÚA JESUS là Tin Lành, nghĩa là tin mừng chiến thắng (evangelio), nghĩa là chiến thắng của Ngài giải thoát chúng ta khỏi tội lỗi và sự chết, giúp chúng ta thoát khỏi đời sống nô lệ. để chúng ta trở nên dân của Ngài. Chiến thắng của CHÚA JESUS được miêu tả bởi 3 phương cách:

1/ Các phép lạ: Ngài chữa lành bệnh tật, đuổi quỷ, bày tỏ quyền uy của Đấng Tạo Hóa.

2/ Các cuộc tranh luận: qua kinh thánh chúng ta thấy không ai có thể thắng được sự khôn ngoan của Ngài. Ở đây chúng ta thấy hành động của Đấng chiến thắng: Ngài ra lệnh nghiêm quở và mọi thứ đề trở nên yên lặng. Ngài nghiêm quở tà linh và chúng trở nên yên lặng. Ngài nghiêm quở bệnh tật và bệnh tật lặng im. Ngài nghiêm quở bão tố và biển và chúng lặng im. Những kẻ tranh luận cũng im lặng.

3/ Sự vâng phục lời Đức Chúa Trời tuyệt đối.

Sách Mác chia làm 3 phần theo địa điểm:

1/ Ở Ga-li-lê

2/ Trên đường từ Ga-li-lê đến Jerusalem

Ở hai phần này kể về Tin lành được rao giảng, và nhiều phép lạ xảy ra. Và kể về việc Chúa chọn ra 12 sứ đồ và dạy dỗ huấn luyện họ.

3/ Ở Jerusalem

Sau đây là bố cục những việc CHÚA JESUS làm ở  Jerusalem.

  1. CHÚA JESUS dọn sạch đền thờ và rủa cây vả không trái (11:1-21).
  2. Tranh luận về uy quyền của CHÚA JESUS (11:27-33)
  3. CHÚA JESUS tranh luận trong đền thờ (12:1-44). Có 7 cuộc tranh luận trong đền thờ

– Ngụ ngôn về những người trồng nho (12:1-12)

– Tranh luận về việc nộp thuế (12:13-17)

– Tranh luận về sự sống lại (12:18-27)

– Tranh luận về điều răn đầu tiên (12:28-34)

– Tranh luận về Đấng Messiah (12:35-37)

– Tranh luận về 2 đồng xu của người đàn bà góa (12:38-44)

– Sự hủy phá đền thờ và thời kỳ tận thế (13:1-37)

Tác giả Mác cố ý gộp chung vào một chỗ các cuộc tranh luận của CHÚA JESUS trong đền thờ. Những người phe pha-ri-si, đảng Hê-rốt, người sa-đu-sê, các thầy thông giáo, không ai có thể trả lời đối đáp sự khôn ngoan của Chúa. Tất cả đều phải im lặng. Qua đó Mác muốn bày tỏ uy quyền của lời CHÚA JESUS và chiến thắng của Ngài. Mác nhìn vào các sự việc này như là chiến thắng của CHÚA JESUS, trong đó bày tỏ rõ ràng CHÚA JESUS là Đấng chiến thắng.

11:1-11 CHÚA JESUS đi vào thành Jerusalem.

Chúa Giê-xu vào thành Giê-ru-sa-lem trong tuần lễ cuối cùng của Ngài trên đất là một sự kiện vô cùng quan trọng. Bởi sự kiện này dọn đường để Đấng Christ tiến đến đỉnh điểm của chức vụ Ngài trên đất, ấy là chịu chết trên cây thập tự. Phân đoạn này không đơn thuần cho chúng ta biết về việc Chúa Giê-xu vào thành Giê-ru-sa-lem mà thôi, nhưng phía sau sự kiện ẩn chứa cả một kế hoạch vĩ đại của Đức Chúa Trời. Trong khi mọi người bận rộn chuẩn bị ngày Lễ Vượt Qua cho long trọng thì Chúa Giê-xu lại chuẩn bị hy sinh chính mình để hoàn tất sứ mệnh trên đất của Ngài.

Tất cả những người hành hương về Jerusalem phải đi bộ vào thành để thể hiện sự tôn kính thành thánh. Chúa Jesus đã vào tahnfh bằng lừa con điều đó ứng ngiệm với lời tiên tri về một vị vua thuộc dòng dõi David sẽ đến cai trị (Xa-cha-ri 9:9) “Hỡi con gái Si-ôn, hãy mừng rỡ cả thể! Hỡi con gái Giê-ru-sa-lem, hãy trổi tiếng reo vui! Này, Vua ngươi đến cùng ngươi, Ngài là công bình và ban sự cứu rỗi, nhu mì và cưỡi lừa, tức là con của lừa cái”. Chúa Giê-xu cưỡi lừa vào thành Giê-ru-sa lem cũng có nghĩa là Ngài đã chính thức công bố chính Ngài là Vị Vua mà dân chúng trông đợi. Là Đấng Đức Chúa Trời sai xuống

Hình ảnh CHÚA JESUS là vị Vua đến trên lưng lừa tượng trưng cho vị Vua khiêm nhường, nhu mì, vua của hòa bình. Vương quốc của Ngài là vương quốc của sự khiêm nhường, nhu mì và sự phục vụ. Ngài đến để cứu thế gian, chứ không phải để nắm thế gian trong quyền điều khiển, bắt thế gian phải phục vụ Ngài.

Phân đoạn này CHÚA JESUS bày tỏ uy quyền của Đấng Tạo Hóa. Ngài công khai đi vào thành Jerusalem với tư cách là Vua chân lý, Vua khiêm nhường và Vua hòa bình.

11:11-21 CHÚA JESUS rủa cây vả.

Có lẽ đây là cây vả không may mắn nhất trong số các cây vả ở Israel. Lúc này chưa đến vụ thu hoạch vả, cho nên việc CHÚA JESUS rủa cây vả từ quan điểm khác thật là vô lý. Dường như CHÚA JESUS hành xử không giống Chúa của tình yêu thương. Do đó sự kiện này chắc chắn phải có ý nghĩa đặc biệt khác. Cách tác giả Mác chép lại sự việc này cũng rất đặc biệt. Câu 12-14 CHÚA JESUS rủa cây vả, sau đó Mác đan xen vào đó giữa câu 15-19 là sự việc CHÚA JESUS dọn sạch đền thờ, tiếp sau đó câu 20-21 cây vả bị khô.. Điều này có ngụ ý gì? Việc rủa cây vả và dọn sạch đền thờ có liên quan tới nhau. Vào lúc đó các lãnh đạo tôn giáo và đền thờ giống như cây vả chỉ có lá xanh tốt bề ngoài mà không có trái quả, chỉ có hình thức bên ngoài mà không có nội dung.

Một ngày trước đó CHÚA JESUS đã đến đền thờ và nhìn thấy tình trạng đó. Những ngày này CHÚA JESUS không sống ở trong thành Jerusalem mà sống ở làng Bê-tha-ni, nơi La-xa-rơ và 2 chị em Ma-thê và Ma-ri. Mỗi ngày CHÚA JESUS đều đi đến thành Jerusalem ở đàng sau núi Ô-li-ve, vì thế nên Ngài bị mệt và bị đói. Ngày hôm sau, khi Ngài đi đến thành Jerusalem, Ngài nhìn thấy cây vả này, và cây vả giống chính xác như đền thờ, đó là lí do Ngài tức giận và rủa cây vả. Thực ra CHÚA JESUS rủa cây vả hay đền thờ? Ngài rủa đền thờ. Bởi vì đền thờ đã bị những lãnh đạo thuộc linh thời đó lợi dụng biến thành trung tâm thương mại để kiếm tiền.

CHÚA JESUS đã rủa các thầy tế lễ cả như thế nào? Chúng ta xem câu 17 “Nhưng các ngươi đã làm thành cái hang trộm cướp.” Tại sao Ngài lại gọi họ là “hang ổ trộm cướp”? Để miêu tả không khí đền thờ Ngài đã sử dụng một ẩn dụ ở đây. Thời đó con đường từ Giê-ri-cô đến Jerusalem nổi tiếng vì nạn cướp bóc. Nó đi quanh co qua những núi đồi, và có rất nhiều hang động ở đây. Các băng đảng trộm cướp thường trốn trong các hang động đợi chờ những con mồi béo bở. Và ở đây CHÚA JESUS muốn nói: “Trong sân đền thờ trộm cướp còn đáng sợ hơn trên đường đến Giê-ri-cô”.

Có mấy lý do sau đây biến đền thờ thành hang trộm cướp

1/ Độc quyền buôn bán con sinh tế. Khi dân chúng đem những con vật đến đền thờ để dâng của tế lễ, các thầy tế lễ chủ yếu là người phe sa-đu-sê họ tìm lí do rằng con sinh tế không đủ tiêu chuẩn và không tiếp nhận.  Họ chỉ nhận những con vật mà người nhà của họ bán trong sân đền thờ. Họ được độc quyền, cho nên họ bán rất đắt, nhưng dân chúng không có quyền lựa chọn. Rồi còn một sự việc liên quan đến buôn bán bồ câu. Trong Lê-vi 12:8, 14:22, 15:14 cho phép người nghèo thay vì phải đem chiên con thì đem chim bồ câu làm con sinh tế. Bồ câu có thể mua ngoài chợ rất rẻ, nhưng người kiểm định của đền thờ chắc chắn sẽ “bới lông tìm vết”, sẽ phế bỏ và bắt phải mua bồ câu bán trong đền thờ. Mà nơi đây nó có giá “trên trời” – đắt gấp khoảng 20 lần. Nhìn qua đã thấy rõ ràng là lừa đảo. Nhưng điều đáng nói là tất cả những hệ thống thương mại này đều tập trung trong tay gia đình của thầy tế lễ cả Anne.

2/ Độc quyền đổi tiền. Mỗi người Do-thái mỗi năm phải trả thuế đền thờ là ½ siếc-lơ, là tiền trả cho khoảng 2 ngày công nhật. Và tiền thuế này phải trả vào thời kỳ diễn ra ngày Lễ vượt qua bằng đồng tiền đặc biệt do nhà thờ phát hành. Khi đổi tiền ra đồng siếc-lơ nhà thờ, người đổi phải trả phí là 1/12 siếc-lơ, và nếu phải thối lại tiền thì phải trả thêm 1/12 siếc-lơ nữa. Như thế phần lớn khách hành hương phải trả khi đổi tiền là 1/6 siếc-lơ. Cộng thêm ½ siếc-lơ thuế đền thờ nữa.

Như vậy những thầy tế lễ người sa-đu-sê kiếm được bộn tiền và trở thành những người rất giàu có. Bằng tiền này họ mua hết các vườn nho ở xứ Ga-li-lê. Nông dân phải đi thuê lại đất, còn họ lấy tiền thuê đất rất cao. Những người làm thuê không đủ tiền ăn, phải vay lãi cao. Đến vụ thu hoạch họ trả nợ hết, và lại phải đi vay mượn để sống đến vụ sau – một vòng tròn của nợ nần. Người sa-đu-sê kiếm được rất nhiều tiền ở đền thờ và trở thành “trộm cướp”. CHÚA JESUS lột trần bản chất của họ.

Người sa-đu-sê không chịu ăn năn tội lỗi của mình. Ngược lại họ lại tìm cách giết Chúa. Tại sao? Tại vì lời CHÚA JESUS bày tỏ sự tối tăm của họ ra trước sự sáng. Làm lộ bản chất của họ trước dân chúng, lành ảnh hưởng đến hệ thống thương mại của cả một đế chế ngầm lợi dụng đền thờ và niềm tin của dân chúng để kiếm tiền. Chúng bị sốc nặng bởi sự sợ hãi và căm ghét. Bởi vậy họ tìm mọi cách để giết Ngài đi.

Khi đó, vào ngày hôm sau, khi CHÚA JESUS đến thành Jerusalem với các môn đồ. Họ nhìn thấy cây vả bị khô đến rễ. Phép lạ đã xảy ra. Điều này có ý nghĩa gì? Cây vả bị rủa khô đến rễ tượng trưng cho sự hủy diệt trong tương lai của các lãnh đạo thuộc linh và cả đền thờ Jerusalem. 40 năm sau Jerusalem bị thất thủ. Tất cả thầy tế lễ người sa-đu-sê bị giết chết, còn đền thờ bị hủy phá đến nỗi không còn một hòn đá trên hòn đá.

Đây là việc đầu tiên CHÚA JESUS làm ở thành Jerusalem. Đó là vạch trần sự giả hình dối trá của các lãnh đạo thuộc linh, bày tỏ sự tối tăm của họ ra trước sự sáng.

Sau việc làm đầu tiên, tiếp đến Chúa Jesus tranh luận ở trong đền thờ, những cuộc tranh luận đó là Ngài công bố ánh sáng lẽ thật và phơi bày sự tối tăm.

Ngụ ngôn về những người trồng nho 12:1- 12

Ở đây chúng ta biết chủ vườn nho Là Đức Chúa trời, vườn nho là dân Israel, người trồng nho ở đây ngụ ý là những lãnh đạo thuộc linh

Ông chủ sai một đầy tớ đến gặp những người trồng vườn. Nhưng họ đánh đuổi đi. Chủ lại sai đầy tớ khác đến và họ giết đi. Cuối cùng chủ sai con trai con một đến và họ lại giết đi. Họ nói gì khi giết con trai? Câu 12:7 “Thằng nầy là con kế tự; hè, ta hãy giết nó, thì phần gia tài nó sẽ về chúng ta.” CHÚA JESUS không cho Ngài là đầy tớ mà là Con trai. Qua Con trai Đức Chúa Trời phán lời cuối cùng và đặt dấu chấm hết.  Ở đây CHÚA JESUS tuyên bố Ngài chính là Đấng Messiah. Qua chi tiết của ngụ ngôn cho thấy rõ CHÚA JESUS biết rõ Ngài sẽ phải chịu chết. Thập tự giá không phải là tai nạn tình cờ. Ngài biết rằng con đường Ngài chọn chỉ dẫn đến thập tự giá. Mặc dù con đường thập tự giá là con đường khổ đau, hy sinh, nhục nhã, nhưng vì vâng phục Cha Chúa Jesus không ngại công bố lẽ thật. Ngài ám chỉ những người trồng vườn đang tìm giết Ngài (11:18). Bằng ngụ ngôn này CHÚA JESUS phơi bày tội lỗi, sự tối tăm và toan tính xảo quyệt của họ (12:12).

Chúng ta thấy sau mỗi cuộc tranh cãi thì sự hận thù càng mạnh hơn và đe dọa hơn. Nhưng CHÚA JESUS không hề có chút sợ hãi nào trước sự đe dọa của cái chết, mà Ngài luôn làm chứng về lẽ thật. Ở đây chúng ta thấy hình ảnh của Đấng chiến thắng. Chúng ta cũng thấy sự tương phản giữa Đấng chiến thắng chân chính và sự tối tăm của thế giới này. Sự tối tăm đó càng mạnh hơn trong 7 cuộc tranh luận tiếp theo. Qua 7 cuộc tranh luận càng làm sáng tỏ hơn những sự tương phản sau:

Lẽ thật của Đấng chiến thắng và sự gian ác của tội nhân.

Lẽ thật của Đấng chiến thắng và tội lỗi kiêu ngạo của con người.

Lẽ thật của Đấng chiến thắng và sự vô tín của con người.

Lẽ thật của Đấng chiến thắng và sự lầm đường lạc lối của con người.

Lẽ thật của Đấng chiến thắng và sự thất bại của ma quỷ.

Lẽ thật của Đấng chiến thắng và sự hủy diệt thế gian.

Vương quốc đời đời của CHÚA JESUS và sự hủy diệt của thế gian này.

Qua các cuộc tranh luận chúng ta thấy phản ứng của người sa-đu-sê, pha-ri-si, các thầy thông giáo là im lặng và sự hận thù càng tăng lên. CHÚA JESUS là Đấng chiến thắng chân chính, Ngài nhìn thấy sự đe dọa của sự chết, nhưng Ngài không thỏa hiệp mà dũng cảm làm chứng về Vương quốc Đức Chúa Trời và lẽ thật của Nước Trời. Ngài đã chiến thắng bằng uy quyền Lời Ngài. Quyền lực của tội lỗi và sự chết, quyền lực của thế gian, các nhà chính trị gia, quyền lực của các lãnh đạo tôn giáo,… không có ai và không có cái gì có thể thắng được CHÚA JESUS vì Ngài là Đấng chiến thắng chân chính.

Chương 14.

Từ câu 1-11:

Đoạn Kinh thánh này chỉ 11 câu nhưng Mác đã kể cùng lúc hai chuyện để giúp người đọc hiểu tận tường hơn, Mác lồng câu chuyện người phụ nữ xức dầu thơm cho Chúa Jesus trong câu chuyện Các thầy thông giáo, các thầy tế lễ cả xây dựng kế hoạch để bắt và giết Chúa. (c.1,2,10,11). Hành động tận hiến của bà dành cho Chúa Giê-xu tương phản âm mưu gian trá của các thầy tế lễ cả (c.1), Người phụ đã gặp CHÚA JESUS. Tiếp nhận Chúa Jesus, tiếp nhận sự tha thứ tội lỗi của Ngài, và Chúa giải thoát cô khỏi quyền lực của tà linh. Cô ta trở thành một tạo vật mới hoàn toàn. Còn các lãnh đạo thuộc linh bởi sự kiêu ngạo và tham lam sau khi bị Chúa quở trách thay vì tiếp và ăn năn thì họ chống lại Chúa Jesus, bởi quyết định đó của họ nên càng ngày họ càng căm thù Chúa và họ tìm cách giết Ngài

Và cũng làm lộ rõ tấm lòng của một số các môn đồ. Cùng một hành động nhưng cái nhìn của Chúa và các môn đồ hoàn toàn khác nhau. Bởi vì môn đồ quen nhận Lãnh từ Chúa Jesus mà chưa từng nghĩ đến làm gì đó cho NGÀI.

Cách nhìn của Chúa Jesus cho chúng ta thấy hành động của người phụ nữ, không phải bồng bột theo cảm xúc nhưng xuất phát từ tấm lòng biết ơn, tình yêu sự quan tâm của người nữ tin kính Chúa. Cô ấy biết điều gì sắp xảy ra với Chúa Giê-xu và quyết định dâng lên Chúa bình dầu rất quý của mình trong thời điểm thích hợp nhất. Chính vì vậy, Chúa phán rằng lòng dâng hiến rộng rãi của bà sẽ trở thành gương tốt cho muôn đời sau noi theo (câu 9).

Người thứ hai là Giu-đa Ích-ca-ri-ốt. Ông cũng tận tâm làm việc và làm đúng lúc, nhưng làm việc xấu. Chỉ vì 30 miếng bạc, Giu-đa đã bằng lòng nộp Chúa cho các thấy tế lễ cả. Cùng hăng hái, cùng làm việc đúng lúc nhưng một người làm vì yêu Chúa, một người vì lợi riêng. Kết quả đối với bà Ma-ri: “Nơi nào Phúc Âm được truyền giảng, việc người đã làm cũng sẽ được nhắc lại để tưởng nhớ người.” Đối với Giu-đa, Chúa nói: “Khốn thay cho kẻ phản bội Con Người! Thà nó đừng sinh ra thì hơn!” (21)

Trong phân đoạn Kinh Thánh này có 2 con người. Một người bán CHÚA lấy tiền, một người đàn bà thì dâng CHÚA JESUS hoàn toàn đời sống mình. Câu chuyện của 2 con người đối lập này đưa chúng ta đến sự chọn lựa dâng CHÚA hoàn toàn đời sống mình hay không? Và bình dầu thơm nào chúng ta sẵn sàng dâng lên CHÚA?

14:12-31 bữa ăn tối cuối cùng:

Đoạn Kinh thánh này cho chúng ta thấy tâm thái bình tĩnh của Đấng chiến thắng trước sự khổ nạn và cái chết đang đến gần, và thái độ của Đấng chiến thắng đối với sự phản bội của người thân cận.

  • 12-21 Trong bữa ăn CHÚA JESUS phán trước về sự phản bội của Judas. CHÚA JESUS nhìn thấy rõ hết những gì trong lòng của Giu-đa, những toan tính của anh ta. Chúa nói điều không vui này trong bữa ăn tối cuối cùng mục đích của Ngài đó là lời kêu gọi cuối cùng của tình yêu thương dành cho Judas. Đây là cơ hội ăn năn. Chúa yêu anh ta và không muốn anh ta bị hư mất. Vàđây cũng là lời cảnh cáo cuối cùng cho Giu-đa. CHÚA JESUS cảnh báo trước về hậu quả khủng khiếp của chuyện hắn ta đang toan tính. Sẽ có hậu quả khùng khiếp
  • 26-31 CHÚA JESUS phán trước về sự chối bỏ Chúa của Phi-e-rơ. Chúa Giê-su biết rõ sự yếu đuối của chúng ta hơn chúng ta biết chính mình, đó là lý do tại sao Chúa Giê-su phán với Phi-e-rơ trong câu “Quả thật, ta nói cùng ngươi, hôm nay, cũng trong đêm nay, trước khi gà gáy hai lượt, ngươi sẽ chối ta ba lần.” Chúa nói điều này không phải để lên án Phi-e-rơ hay làm bẽ mặt ông, nhưng đây là lời Chúa dành cho ông, để khi sự vấp phạm xảy đến ông nhớ lời của Chúa Giê-xu, để ông có thể quay trở lại và ăn năn.
  • Trong đoạn này CHÚA JESUS cũng phán trước về sự cám dỗ của các môn đồ. câu 27-28 “Hết thảy các ngươi sẽ gặp dịp vấp phạm; vì có chép rằng: Ta sẽ đánh kẻ chăn chiên, thì bầy chiên sẽ tan lạc, Nhưng khi ta sống lại rồi, ta sẽ đi đến xứ Ga-li-lê trước các ngươi.” Chúa Giê-su cảnh báo trước cho các môn đồ về sự vấp ngã của họ, rằng họ sẽ bỏ Ngài ngay khi họ cảm thấy nguy hiểm cho mình. Nhưng đồng thời Chúa Giê-xu cũng đưa ra giải pháp rằng sau khi Ngài phục sinh, Chúa vẫn sẽ đợi họ ở Ga-li-lê. Mặc dù họ vấp phạm, phản bội nhưng Chúa không bỏ họ, Ngài không phán xét họ nhưng vẫn chờ đợi họ quay trở lại. Ngài gieo trong lòng họ niềm tin vào tình yêu của Ngài, nói rằng Ngài sẽ gặp họ sau khi Ngài phục sinh. Khi họ nhận ra rằng Chúa Giê-xu đã biết trước mọi sự, nhưng Chúa vẫn chờ đợi họ, họ hiểu Chúa sẽ không bao giờ bỏ họ, Ngài luôn chờ đợi họ quay về và ăn năn, điều đó làm họ dễ dàng trở lại với Ngài hơn. Chúa Giê-xu biết rõ sự yếu đuối của chúng ta hơn chính chúng ta, nhưng vẫn ban cho chúng ta lời hứa của Ngài và giữ Lời ấy cho đến cuối cùng. Đây là ân điển của Đức Chúa Trời.

(32-42) Lời cầu nguyện của CHÚA JESUS trong vườn Ghết-sê-ma-nê.

Ở thời điểm này Chúa Jesus vẫn là một con người có đầy đủ cảm xúc ý chí mong muốn của con người, bởi vậy Chúa Giê-su trải qua xung đột nội tâm gay gắt. Chúa Giê-su không muốn chết, bởi tội lỗi thế gian chất trên Ngài là gánh nặng khủng khiếp vô cùng đối với Đấng Thánh Khiết. Nếu loài người có thể được cứu bằng cách khác, có lẽ Chúa Giê-xu đã từ chối cái chén đau khổ này rồi. Bởi xung đột nội tâm nên Ngài đã thức thâu đêm, chiến đấu trong sự cầu nguyện. Trong sự cầu nguyện  Chúa Giê-xu không bàn luận với Đức Chúa Trời cách hành động tốt nhất, nhưng đã mở rộng lòng Ngài và chấp nhận ý muốn của Đức Chúa Trời, chấp nhận thập tự giá. Đó là một cuộc chiến khó khăn. Nhưng Ngài không từ bỏ, Ngài cầu nguyện cho đến khi Ngài chiến thắng. Khi đó Chúa Giê-xu được tiếp thêm sức trong lòng, nhận được sức mạnh từ Đức Chúa Trời, và sẵn sàng vác thập tự giá đến cùng, Ngài bình thản chịu mọi đòn roi, mọi sự sỉ nhục từ người Rô-ma, người Pha-ri-si, và cả sự phản bội, sự thờ ơ của các môn đồ gần gũi với nhất với Ngài đang ngủ ngon, những điều này không thể làm rung chuyển Ngài nữa vì trong lời cầu nguyện, Chúa Giê-su đã chiến thắng khi Ngài chấp nhận ý muốn của Đức Chúa Trời.

Sự bắt giữ Chúa (43-52).

Trong sự hỗn loạn lúc đó chỉ có Chúa Jesus mới có sự bình tĩnh, như thể Ngài đang tể trị hoàn cảnh và mọi sự phải xảy ra như thế. Cuộc tranh đấu nội tâm đã được chiến thắng qua sự cầu nguyện ở vườn Ghết-sê-ma-nê. Giờ đây tâm hồn Ngài không bị xáo động nữa, Ngài biết rõ phải thực hiện ý muốn của Đức Chúa Cha.

Kinh thánh cho thấy khi Chúa Jesus bị bắt đó không phải là một biến cố bất ngờ đối với Ngài, Chúa Giêsu bị bắt không phải vì Judas quyết định phản Ngài, và không phải vì lòng căm thù của các thầy tế lễ, mà vì đó là ý muốn của Đức Chúa Trời. Chúa Giê-xu hạ mình xuống và phó chính Ngài trong tay những kẻ đến bắt Ngài, vì Ngài đã hoàn toàn chấp nhận chén này.

Sau khi Chúa Jesus bị bắt tất cả các môn đệ đều bỏ Chúa trốn đi, cho đến cuối cùng, Chúa Giê-xu vẫn hoàn toàn cô đơn, cô đơn khi cầu nguyện trong vườn cũng như khi đối diện với những kẻ bắt bớ, xét xử Ngài.

Tòa công luận kết án Chúa (53-65)

Khung cảnh xét xử Chúa Jesus vi phạm hàng loạt luật tố tụng. Nhưng bởi ham muốn mãnh liệt của các lãnh đạo thuộc linh bằng mọi giá phải tử hình Chúa Jesus nên họ bỏ qua tất cả.

khi thầy tế lễ thượng phẩm hỏi Chúa có phải là Đấng Cứu Thế không, Chúa Giê-xu đã dõng dạc trả lời, “Ta chính phải đó. Các ngươi sẽ thấy Con Người ngồi bên hữu quyền phép Đức Chúa Trời, và ngự giữa đám mây trên trời mà đến.” Chúa đã không ngần ngại công bố Ngài là Đấng Messiah. Và đây là cơ sở cho lời cáo buộc tội báng bổ, một sự phạm thượng đến Đức Chúa Trời: Tòa Công luận đã đạt được điều mình muốn.
chúng ta thấy có hai đức tính tuyệt vời của Chúa Giê-xu. 1/ Sự dũng cảm của Ngài. Ngài biết rằng một câu trả lời như vậy sẽ khiến Ngài phải trả giá bằng mạng sống của mình, nhưng Ngài đã không ngần ngại trả lời theo cách đó. Nếu Ngài bác bỏ lời buộc tội này, họ sẽ không thể làm gì được với Ngài. Nhưng đây là lẽ thật duy nhất có thể cứu họ và chúng ta. Đó là lý do Ngài công bố lẽ thật. Chúa Giê-xu là Đấng Christ, Đấng chiến thắng đích thực và là Vua đời đời. 2/ Sự tin quyết của Ngài. Ngay cả bây giờ khi thập tự giá đã trở thành điều không thể tránh khỏi, thì Ngài vẫn tiếp tục nói với sự tin tưởng hoàn toàn vào chiến thắng cuối cùng của Ngài.

S phản bội của Phi-e-rơ (66-72)

Phi-e-rơ này, đã từng nói với Chúa Giê-xu “Ngài là Đấng Christ” (Mác 8:29). Cũng chính ông trong câu 29, 31 đã thề “Dầu mọi người vấp phạm vì cớ thầy, nhưng tôi chẳng hề làm vậy.” “Dầu tôi phải chết cùng thầy, tôi cũng chẳng chối thầy đâu”. Nhưng hiện tại ông đã chối Chúa Giê-xu ba lần. Những lời hứa của Phi-e-rơ không có nghĩa rằng ông là người mạnh mẽ, mà là trong tấm lòng của ông ông thực sự yêu Chúa Giêsu. Tuy nhiên, bản tính con người là yếu đuối, nhu nhược và không thể trung tín. Ông yếu đuối bởi sự kiêu ngạo của bản thân. Qua đó ông nhận ra mình là kẻ phản bội và là tội nhân yếu đuối. Ông ăn năn giờ đây ông hiểu được sự yếu đuối và giới hạn của bản thân, ông không còn tự đề cao mình nữa, và câu chuyện phản bội đó là lời làm chứng của Phi-e-rơ.

Chương 15. Phi-lát phán quyết tử hình CHÚA JESUS. Cao trào của sự khổ nạn, nhưng CHÚA JESUS đã vâng phục đến chết.

Tất cả chiến thắng đó của Chúa Jesus là kết quả của sự cầu nguyện trong vườn Ghết-sê-ma-nê.

Tổng kết: sau khi quảng bá rao giảng tin lành, làm nhiều phép lạ, Chúa chọn 12 sứ đồ huấn luyện họ. Khi mọi thứ đã trọn vẹn Chúa quyết định vào thành Jerusalem một cách công khai, loạt bài ngày hôm nay chúng ta biết được những việc Ngài làm trong thành Jerusalem. Ngài vạch trần sự giả hình của các lãnh đạo thuộc linh phơi bày sự tối tăm của họ qua ánh sáng lời Chúa, Ngài công bố lẽ thật qua các cuộc tranh luận cách dạn dĩ, để nhiều người không bị lầm lạc trong sự lừa dối thuộc linh. Sau đó là kết quả của sự cầu nguyện, bằng sự cầu nguyện Chúa Jesus đã vâng phục ý muốn của Đức Chúa Trời một cách tuyệt đối và sẵn sàng thực hiện sứ mệnh đem đến cứu rỗi cho nhân loại. Đó là chiến thắng Mác đã mô tả về Chúa Jesus.

Cám ơn Chúa vì loạt bài học tin lành theo Mác cho tôi nhận biết được Chúa Jesus không chỉ là nhân vật lịch sử, mà Ngài là Đấng chiến thắng và hiện Ngài Đấng sống, chiến thắng của Chúa Jesus là sự thật không thể chối cãi, bởi nếu Ngài không chiến thắng thì sẽ không có con đường thập tự giá và tôi chắc chắn chẳng bao giờ được nghe về Chúa Jesus. Qua sự chiến thắng của Chúa Jesus điều mà tôi học được đó là trong mọi sự cần phải cầu nguyện để chiến thắng ham muốn của bản thân để vâng phục theo ý muốn của Đức Chúa Trời. Vâng phục theo ý muốn của Đức Chúa Trời đó là chiến thắng. Amen!

Be the first to comment

Leave a Reply