Bài 10: HỘI THÁNH VÀ CÁC THÁNH LỄ
Câu gốc: Nhưng anh em là dòng giống được lựa chọn, là chức thầy tế lễ nhà vua, là dân thánh, là dân thuộc về Đức Chúa Trời, hầu cho anh em rao giảng nhân đức của Đấng đã gọi anh em ra khỏi nơi tối tăm, đến nơi sáng láng lạ lùng của Ngài (I Phi-e-rơ 2:9).
1 Cô-rinh-tô 1: 2 “Hội thánh Đức Chúa Trời tại thành Cô-rinh-tô, tức là cho những người đã được nên thánh trong Đức Chúa Jêsus Christ, được gọi làm thánh đồ, lại cho mọi người bất luận nơi nào, cầu khẩn danh Đức Chúa Jêsus Christ chúng ta, là Chúa của những người ấy và của chúng ta”.
II Cô-rinh-tô 6: 16-18 “Vì chúng ta là đền thờ của Đức Chúa Trời hằng sống, như Đức Chúa Trời đã phán rằng: Ta sẽ ở và đi lại giữa họ; ta sẽ làm Đức Chúa Trời của họ, và họ làm dân ta. 17 Bởi vậy Chúa phán rằng: Hãy ra khỏi giữa chúng nó, hãy phân rẽ ra khỏi chúng nó, đừng đá động đến đồ ô uế, Thì ta sẽ tiếp nhận các ngươi: 18 Ta sẽ làm Cha các ngươi, Các ngươi làm con trai con gái ta, Chúa Toàn năng phán như vậy.”
1/ Hội Thánh là gì?
Lần đầu tiên từ “hội thánh” được Chúa Jesus sử dụng trong Ma-thi-ơ 16:18. Trong nguyên tác tiếng Hy-lạp đó là “Ekklesia”, là từ ghép “ek” – “ex lối ra”, và “klesia- kaleo” – “được kêu gọi”. Nó được dùng trong tiếng Hy-lạp để nói về một cuộc họp của các công dân được kêu gọi ra khỏi nhà của họ để lo công việc của cộng đồng. Còn từ “synagoge” – nhà hội, có nghĩa là “đem đến cùng nhau”.
Hội thánh là hội nhóm của những người tin vào Chúa Cứu Thế Jesus Christ (Ma-thi-ơ 16:16-18), đến cùng nhau để thực hành đời sống Cơ-đốc. Không thể nào thực hành được đời sống Cơ-đốc một mình. Phần lớn đời sống Cơ-đốc là những gì chúng ta làm cùng nhau. Chúa cứu chúng ta cách cá nhân, rồi đem chúng ta đến cùng nhau, để xây dựng một cộng đoàn mới cho Chúa.
Từ “hội thánh” nên được dịch sang tiếng Việt cách đúng là “cộng đoàn” (như trong Giáo hội Công giáo), hay là “hội chúng” (như trong các hệ phái Tin lành).
2/ Có mấy loại Hội Thánh? (Ma-thi-ơ 16:18, 18:17)
Từ “hội thánh” chúng ta nhận được từ chính Chúa Jesus. Chúa Jesus nói Ngài xây dựng Hội thánh của Ngài, Ngài có 2 lần đề cập đến từ “hội thánh”, và mỗi lần đều có ý nghĩa khác nhau. Vậy đó là loại hội thánh nào?
Có 2 loại Hội thánh:
– Ma-thi-ơ 16:18. Hội thánh phổ thông, phổ quát, toàn cầu (“catholic” trong tiếng Hy-lạp có nghĩa “universal”): gồm tất cả các con cái Chúa ở khắp nơi trên thế giới, bao gồm mọi thời đại.
– Ma-thi-ơ 18:17. Hội thánh địa phương (local church):gồm những tín đồ tại một địa phương nhóm lại để thờ phượng Chúa, có thể tại nhà thì được gọi là “Hội thánh tư gia”.
Cơ đốc nhân Tân ước phải thuộc về cả hai loại hội thánh này: bạn thuộc về hội thánh toàn cầu là thân thể của Đấng Christ nếu bạn tin nhận Chúa Jesus. Và bạn cần thuộc về một nhóm hội thánh địa phương để có mối thông công, giải trình với nhau. Có những người là thành viên của một hội thánh địa phương nhưng không thuộc về hội thánh phổ thông vì họ chưa được cứu. Có nhiều hội thánh kết nạp thành viên thông qua ví dụ như báp-têm nước,… mà không quan tâm đến việc họ đã ăn năn và được tái sinh hay chưa.
3/ Hội Thánh được thành lập có những mục đích nào? (Công vụ 2: 42-47; Ê-phê-sô 4: 11-12)
– Cùng nhau thờ phượng Đức Chúa Trời. Công vụ 2:42-47 “ Vả, những người ấy bền lòng giữ lời dạy của các sứ đồ, sự thông công của anh em, lễ bẻ bánh, và sự cầu nguyện. 43 Mọi người đều kính sợ vì có nhiều sự kỳ phép lạ làm ra bởi các sứ đồ. 44 Phàm những người tin Chúa đều hiệp lại với nhau, lấy mọi vật làm của chung. 45 Bán hết gia tài điền sản mình mà phân phát cho nhau, tùy sự cần dùng của từng người. 46 Ngày nào cũng vậy, cứ chăm chỉ đến đền thờ; còn ở nhà, thì bẻ bánh và dùng bữa chung với nhau cách vui vẻ thật thà, 47 ngợi khen Đức Chúa Trời và được đẹp lòng cả dân chúng. Mỗi ngày Chúa lấy những kẻ được cứu thêm vào Hội thánh.”
– Gây dựng đức tin cho nhau. Ê-phê-sô 4:11-12 “Ấy chính Ngài đã cho người nầy làm sứ đồ, kẻ kia làm tiên tri, người khác làm thầy giảng Tin Lành, kẻ khác nữa làm mục sư và giáo sư, 12 để các thánh đồ được trọn vẹn về công việc của chức dịch và sự gây dựng thân thể Đấng Christ”.
– Truyền giảng Tin Lành.
4/ Không có nhà thờ thì có được gọi là Hội Thánh không? (I Cô-rinh-tô 1: 2; Ma-thi-ơ 16:18.)
Người ta hay phạm phải mấy sự nhầm lẫn sai lầm khi sử dụng từ “hội thánh” trong những trường hợp sau đây.
– Hội thánh không được dùng để chỉ một tòa nhà, địa điểm. Nhưng cách dùng này lại rất phổ biến ở khắp châu Âu. Tòa nhà nên được dùng với ý nghĩa “nhà thờ hoặc nhà nguyện”.
– Bị sử dụng sai khi gọi một giáo hội, hay hệ phái: hội thánh Giám lý, báp-tít, trưởng lão… Đó là sự lạm dụng từ ngữ.
– Bị dùng sai khi nói về các buổi nhóm lớn để tập trung vào âm nhạc, sự chữa lành… Những buổi nhóm này không phải là hội thánh. Ngày nay người ta còn có xu hướng thành lập hội thánh on-line, hội thánh Facebook,…
5/ Hội Thánh có những danh hiệu nào khác? (I Phi-e-rơ 5:2-4; I Cô-rinh-tô 12; Rô-ma 12: 5; Cô-lô-se 1: 18; I Cô-rinh-tô 6: 19-20; Ê-phê-sô 2: 19-21; 2 Cô-rinh-tô 11: 2; Khải huyền 22.)
– Là thân thể của Đấng Christ. Mỗi thành viên trong Hội thánh là chi thể trong một thân, có người lãnh đạo thuộc linh do Chúa lập nên và Đấng Christ là đầu Hội thánh.( Ê-phê-sô 2: 19-21)
– Là đền thờ của Đức Chúa Trời (1 Cor 6:19-20)
– Là cô dâu của Đáng Christ (2 Cor 11:2; Khải huyền 22)
6/ Hội Thánh có những thánh lễ nào?
Hội thánh có 2 Thánh lễ (hay còn được gọi là “bí tích”) chính: lễ báp-têm nước, lễ tiệc thánh. Ngoài ra có một số hội thánh thực hành thêm phép đặt tay cầu nguyện và sự xức dầu.
7/ Báp têm bằng nước có nghĩa gì?
Từ Báp-têm trong nguyên nghĩa tiếng Hy-lạp có nghĩa là nhấn chìm.
– Ma-thi-ơ 28:19-20 “Vậy, hãy đi dạy dỗ muôn dân, hãy nhân danh Đức Cha, Đức Con, và Đức Thánh Linh mà làm phép báp tem cho họ, 20 và dạy họ giữ hết cả mọi điều mà ta đã truyền cho các ngươi. Và nầy, ta thường ở cùng các ngươi luôn cho đến tận thế.” CHÚA JESUS ra lệnh cho các môn đồ phải làm phép Báp-têm nước cho các tín hữu mới.
– Công vụ 8:12,26-38. Lễ báp-têm nước là một hình thức biểu hiện bên ngoài của đức tin và sự ăn năn bên trong lòng. Đức tin ở trong lòng đem đến sự cứu rỗi. Do đó chỉ người đã được cứu, có đức tin, có hiểu biết thì mới nên làm phép báp-têm. Nếu người chưa được cứu, bước vào nước là tội nhân khô ráo, ra khỏi nước thì là tội nhân ướt át. Nước không tẩy rửa được tội lỗi và không đem đến sự cứu rỗi.
– Rô-ma 6:3-6. Khi tôi dìm mình xuống nước tượng trưng cho con người cũ tội lỗi đồng chết và đồng chôn với CHÚA JESUS. Khi tôi ra khỏi nước, tôi không còn là con người cũ nữa. Tôi đồng sống lại trong CHÚA JESUS phục sinh để hầu việc Đức Chúa Trời. Tôi tuyên bố với tất cả mọi người, với thế giới vô hình và hữu hình rằng tôi tin CHÚA JESUS, tôi thuộc về Chúa.
– 1 Phi-e-rơ 3:20-21 “về thời kỳ Nô-ê, khi Đức Chúa Trời nhịn nhục chờ đợi, chiếc tàu đóng nên, trong đó có ít người được cứu bởi nước, là chỉ có tám người. Phép báp-tem bây giờ bèn là ảnh tượng của sự ấy để cứu anh em, phép ấy chẳng phải sự làm sạch ô uế của thân thể, nhưng một sự liên lạc lương tâm tốt với Đức Chúa Trời, bởi sự sống lại của Đức Chúa Jêsus Christ”.
Lễ báp-têm nước có thể ví von như đám cưới với CHÚA JESUS.
8/ Điều kiện nào để được báp-têm bằng nước? (Mác 16: 16; Công vụ 8: 36-38; Ma-thi-ơ 28: 19; Hê-bơ-rơ 6: 1-2; Công vụ 8: 30-31; 36-38)
– Phải có đức tin rõ ràng vào CHÚA JESUS.
– Học Kinh thánh để hiểu biết về sự cứu rỗi, sự tha tội,…
9/ Lễ tiệc thánh có ý nghĩa gì? (I Cô-rinh-tô 11: 23-34)
Tiệc thánh là bữa tiệc được CHÚA JESUS thiết lập để nhắc chúng ta nhớ đến sự hy sinh của Ngài trên thập tự giá, nhờ đó chúng ta được cứu rỗi và chúng ta được bước vào giao ước mới với Đức Chúa Trời, rằng chúng ta là công dân trong Vương quốc đời đời của Đức Chúa Trời và Ngài là Chúa của chúng ta. Ăn bánh uống chén là thể hiện bày tỏ đức tin trong lòng ra bên ngoài. Khi chúng ta ăn mừng sự đắc thắng của Chúa thì quyền năng của Thập tự giá hành động, trong thế giới thuộc linh có quyền năng xảy ra: nhiều người được giải thoát khỏi sự trói buộc xiềng xích của ma quỷ, bệnh tật, tội lỗi…
– Tiệc thánh tượng trưng cho sự thông công và hiệp nhất của Hội thánh trong thân thể CHÚA JESUS (1 Cor 10:16-17). Những quyền lực chia rẽ Hội thánh sẽ bị hủy diệt. Huyết chảy từ chi thể này sang chi thể kia để tẩy rửa, đem đến sự sống.
– Nhắc chúng ta nhớ ngày dự tiệc cưới Chiên Con (Ma-thi-ơ 26:26-29; Khải huyền 19:9), nhớ rằng CHÚA JESUS sắp tái lâm.
– Nhắc chúng ta trung tín truyền giảng (1 Cor 11:26)
10/ Khi dự Tiệc thánh chúng ta phải có thái độ như thế nào? (I Cô-rinh-tô 11: 27-29; 10: 16-17.)
– Phải tra xét lòng mình xem có phạm tội gì trước mặt Chúa và ăn năn tội trước khi dự Tiệc Thánh (1 Cor 11:28)
– Chân thành tái lập hứa nguyện trung tín rao giảng Tin Lành của Chúa.
– Với lòng kính sợ Chúa, hiệp một với Hội thánh (1 Cor 11:27-29; 10:16-17)
11/ Thánh lễ xức dầu có mục đích gì? (Mác 6:12-14; Gia-cơ 5:14-15; Xuất 30:22-30)
Sự xức dầu trong Kinh thánh thường liên quan đến chữa lành bệnh tật. Mác 6:12-14.
Dầu là biểu tượng của công việc của Đức Thánh Linh trong việc chữa lành. Dầu không đem đến sự chữa lành. Đức Thánh Linh thông qua lời cầu nguyện là kênh dẫn ban sự chữa lành. Việc xức dầu bày tỏ đức tin trông cậy Đức Thánh Linh bày tỏ quyền năng chữa bệnh.
Gia-cơ 5:14-15 – là thơ gửi cho Hội thánh, khuyên bảo anh chị em khi bị bệnh tật thì nhờ các trưởng lão của Hội thánh đến xức dầu, đặt tay cầu nguyện cho sự chữa lành. Người nào muốn được chữa lành thì phải tra xét lòng mình, ăn năn tội. Người đó phải tự mình mời các trưởng lão, không nhờ người khác – đó là sự đang vâng lời Chúa.
Sự xức dầu là biểu tượng của sự dâng hiến trọn vẹn cho Đức Chúa Trời. Xức dầu trên đồ vật và trên tín đồ – để biệt riêng ra nên thánh cho Đức Chúa Trời. (Xuất 30:22-30)
Xức dầu trên người chưa tin là để chữa lành.
12/ Sự đặt tay cầu nguyện có mục đích gì? (Lu-ca 4:40; Mác 16:17-18; Công vụ 8:14-17; 19:1-2; 6:2-6.)
– Hê-bơ-rơ 6:1-2 chép rằng đây là những nền tảng sơ học tối thiểu mà tín đồ cần phải biết.
– Luca 4:40, Mác 16:17-18: đặt tay cầu nguyện cho người bệnh.
– Công vụ 8:14-17; 19:1-2 đặt tay cầu nguyện cho người khác để họ tiếp nhận Đức Thánh Linh.
– Công vụ 6:2-6 đặt tay cầu nguyện cho người đi ra phục vụ Chúa.
– Hội thánh đặt tay cầu nguyện để phong chức để phục vụ Chúa.
– Ân tứ thuộc linh được chuyển giao để phục vụ – là sự xác nhận chức vụ và sự kêu gọi.
– Đặt tay cầu nguyện chúc phước cho trẻ em, phụ nữ có thai. Đặt tay cầu nguyện chúc phước cho người ở dưới mình, nên thường xuyên làm.
Leave a Reply
Bạn phải đăng nhập để gửi phản hồi.