Bài 1
ĐỨC CHÚA TRỜI
Câu gốc: Ngươi phải hết lòng, hết linh hồn, hết trí khôn, hết sức mà kính mến Chúa là Đức Chúa Trời ngươi. (Mác 12:30)
1/ Danh từ “thượng đế” có nghĩa là gì trong văn hoá hiện đại? Tại sao con người luôn cố tìm kiếm cho mình một thần tượng để tôn thờ?
Trong ý nghĩa rộng, danh từ “God – Thượng Đế – Đức Chúa Trời” có nghĩa là một đối tượng để tôn thờ, là đối tượng mà con người sẵn sàng dâng trọn trái tim, tình yêu, sức lực, thậm chí sự sống.
Trong tâm linh, tấm lòng con người có tồn tại một cái “ngai lòng”, mà người ta luôn đặt một ai đó, hoặc cái gì đó, hoặc một lý tưởng, một thần tượng nào đó lên để tôn thờ.
Trên ngai lòng con người Thượng Đế – có thể là người yêu, là cha mẹ hoặc con cái, nhà lãnh đạo tôn giáo hoặc xã hội, một ca sỹ thần tượng, tiền bạc, danh vọng, quyền lực,… hoặc là “cái tôi”.
Như vậy khái niệm Đức Chúa Trời trong văn hóa thế gian có rất nhiều, và cũng tồn tại nhiều thần tượng – nhiều “thượng đế” khác nhau. Thượng Đế của Cơ đốc giáo là Đức Chúa Trời trong Kinh thánh.
Thế thì ai là “Thượng Đế thật”?
2/ ĐỨC CHÚA TRỜI thật là ai? (Sáng thế ký 1: 1) Làm thế nào để có thể phân biệt được Đức Chúa Trời thật hay giả? Tại sao lại phải xác định được Đức Chúa Trời chân thật và tại sao lại phải thờ phượng Ngài?
Có 1 câu hỏi xác định được ai là Đức Chúa Trời chân thật: ai tạo dựng nên thế giới? Ai là Đấng Tạo Hóa?
Đức Chúa Trời là Đấng Tạo Hóa, Đấng sáng tạo nên vũ trụ và muôn loài vạn vật, người Do-thái gọi là Đức Giê-hô-va (YHWH), người Việt gọi là Ông Trời. Đức Chúa Trời thật là Đức Chúa Trời của Kinh thánh, bởi vì Kinh thánh là cuốn sách duy nhất trên thế giới khải thị đầy đủ về Đức Chúa Trời.
Thượng Đế – là đối tượng tôn thờ mà con người đặt ở vị trí đầu tiên trong tấm lòng, trên ngai lòng. Ở vị trí này Thượng Đế:
- ảnh hưởng đến đạo đức, nguyên tắc sống, thế giới quan, hệ thống giá trị,…
- điều khiển cuộc đời chúng ta
- có ảnh hưởng đến tương lai, trái quả cuộc đời.
Thực tế Đức Chúa Trời – đối tượng tôn thờ – có vai trò rất quan trọng trong đời sống con người, do đó rất quan trọng việc xác định đúng ai là Đấng mà chúng ta đang thờ phượng. Nếu đó không phải là Đức Chúa Trời chân thật, thì kết quả đời sống sẽ thảm hại.
Rô-ma chương 1:18-19 chép “Vì cơn thịnh nộ của Đức Chúa Trời đã bộc lộ từ trời nghịch lại mọi hình thức không tôn kính Đức Chúa Trời và bất chính của những người lấy bất chính áp chế sự thật. 19Bởi những gì có thể biết về Đức Chúa Trời đều rõ ràng đối với họ vì Đức Chúa Trời đã tỏ bày cho họ rồi. ”. Như vậy con người hoặc là sẽ đáp ứng với lời kêu gọi của Chúa bằng đức tin hoặc là sẽ áp chế lẽ thật bằng sự bất chính. Nếu đáp ứng với sự kêu gọi của Chúa bằng đức tin thì sẽ nhận được sự thỏa lòng. Ngược lại nếu đàn áp lẽ thật bằng sự bất chính thì cuối cùng sẽ thờ lạy thần tượng. Con người sẽ không bao giờ có một vị trí trung lập về tâm linh bởi vì hoặc là thờ lạy Đức Chúa Trời hoặc là thờ lạy thần tượng. Con người hoặc là thờ lạy Đức Chúa Trời và tương giao với Đấng Hằng sống và tăng trưởng trong việc nhận biết Chúa, hoặc là sẽ cố gắng tìm kiếm ý nghĩa của cuộc đời trong sự thờ thần tượng mà không có mối liên hệ gì với Đức Chúa Trời.
3/ Không thấy ĐỨC CHÚA TRỜI mà tin có hợp lý không? Có phải chỉ những người thiếu hiểu biết mới tin vào ĐỨC CHÚA TRỜI không? (Rô-ma 1: 20; Hê-bơ-rơ 1: 2; Giăng 14: 7; I Ti-mô-thê 3:16; II Cô-rinh-tô 3: 3)
Nhiều người cho rằng phải thấy thì mới tin, mới công nhận sự tồn tại. Nhưng “nhìn thấy được” – đó không phải là tiêu chuẩn tuyệt đối để xác định sự tồn tại của Đức Chúa Trời. Có rất nhiều thứ không nhìn thấy được nhưng vẫn tồn tại: không khí, dòng điện, linh hồn, tình yêu,… Đức Chúa Trời là Đấng thần linh, Ngài vô hình và phi vật chất, nên không có ai có thể nhìn thấy Ngài được.
Trên thực tế có rất nhiều nhà bác học vĩ đại đều tin vào Đức Chúa Trời: Newton, Galilei, Johann Kepler, Pasteur, Einstein,…
4/ Niềm tin vào ĐỨC CHÚA TRỜI có phản khoa học hay không?
Chúng ta xem xét khía cạnh: tin Đức Chúa Trời có phản khoa học hay không?
1. Khoa học là gì?
Thường khi người ta nói về khoa học trong khi tranh cãi về đức tin, thì ngụ ý ở đây là khoa học tự nhiên. Đây cũng là một dạng thế giới quan. Khoa học đưa ra một trong những phương cách nhìn nhận thế giới.
Đối tượng nghiên cứu của khoa học tự nhiên – là thế giới vật chất. Mục đích – tìm ra những quy luật vật lý. Phương pháp – trực quan và thí nghiệm. Kết quả cuối cùng – những quy luật vật lý viết ở dạng công thức toán học. Khoa học chỉ trả lời cho câu hỏi: bằng cách nào (How)? Khoa học không thể và không có thẩm quyền để trả lời cho câu hỏi: để cho mục đích gì?
Khoa học tự nhiên – đó là nỗ lực miêu tả những hiện tượng thiên nhiên bằng những công thức toán học. Nghĩa là những quy luật khoa học có ích, nếu như chúng ta tiếp nhận chúng với vai trò là những mô hình hoặc cơ chế hoạt động bình thường của thiên nhiên. Nhưng chúng không phải là phương cách duy nhất để miêu tả những cơ chế hoạt động của thiên nhiên. Quy luật vật lý – đó là những cơ chế hoạt động bình thường. Nhưng có tồn tại những cơ chế hoạt động bất thường, vượt ra ngoài giới hạn của những mô hình bình thường. chúng ta gọi những hiện tượng bất thường này là phép lạ.
2. Phép lạ:
Phép lạ có 2 ý nghĩa: 1) là một sự việc bất thường có sức mạnh tạo nên những hiện tượng kỳ diệu, 2) là dấu hiệu của một điều gì đó tác động từ bên ngoài.
Những phép lạ được miêu tả trong Kinh thánh – là những điềm báo về Đức Chúa Trời kêu gọi phải ăn năn, tin cậy và vâng lời. Chúng đặt chúng ta đứng trước câu hỏi về ý nghĩa và mục đích sống.
Nói theo ngôn ngữ khoa học thì phép lạ – đó là ngoại lệ, là sự phá vỡ quy luật tự nhiên. Người nào có tư duy chỉ theo khoa học thì không chấp nhận phép lạ, bởi vì họ cho rằng quy luật là tuyệt đối và không thể bị phá vỡ. Nhưng khi phép lạ vẫn xảy ra thì họ không thể nào giải thích được.
Nếu như phép lạ thường xuyên xảy ra, thì đó không phải là ngoại lệ, mà lại trở thành quy luật. Xuất hiện một câu hỏi: quy luật của những phép lạ có mâu thuẫn với quy luật vật lý không? Không. Bởi vì có tồn tại song song 2 thế giới: thế giới vật chất hữu hình và thế giới tâm linh vô hình. với những quy luật tâm linh.
Thế giới vật chất vận hành theo những quy luật vật lý. Thế giới tâm linh vận hành theo những quy luật tâm linh. Quy luật vật lý điều khiển vật chất. Quy luật tâm linh điều khiển thế giới tâm linh. Quy luật tâm linh siêu việt hơn, cao hơn quy luật vật lý. Làm thế nào chúng ta có thể biết được những quy luật tâm linh? Chỉ trong Kinh thánh.
Thế giới tâm linh là thế giới của Đức Chúa Trời, của đức tin, của phép lạ. Phép lạ thường xuyên xảy ra trong đời sống của những người tin Chúa. Theo nghiên cứu của y học hiện đại, nếu trong vòng 10 phút tim ngừng đập, máu không bơm lên não, thì người đó sẽ chết. Nhưng trong Kinh thánh miêu tả trường hợp CHÚA JESUS làm cho 1 người chết đã 4 ngày, thân thể thối rữa sống lại. Sứ đồ Phao-lô làm cho một thanh niên ngã từ tầng 3 xuống đã chết sống lại. Nhà tiên tri Ê-lya làm sống lại đứa con trai đã chết của người đàn bà góa ở Sa-rép-ta. Trong mục vụ truyền giảng của các nhà truyền giáo luôn luôn xảy ra những sự chữa lành và phép lạ siêu nhiên.
Phép lạ lớn nhất – đó là sự cứu rỗi linh hồn khỏi hỏa ngục đời đời và sự thay đổi nhân cách mục đích sống của một tội nhân.
3. Đức tin và khoa học có mâu thuẫn không?
Không. Một người vừa tin vào Đức Chúa Trời, vừa có thể nghiên cứu khoa học. Đó là 2 lĩnh vực khác nhau. Khoa học nghiên cứu: thiên nhiên vận hành như thế nào? Đức tin nghiên cứu: để làm gì? Có mục đích gì? Ý nghĩa tồn tại của thiên nhiên là gì? Cái này không loại trừ cái kia, nhưng bổ sung cho nhau. Chính các nhà bác học tiên phong đã làm như vậy. Nhiều nhà bác học công nhận rằng chính Đức Chúa Trời đã dẫn dắt họ đến với những khám phá khoa học vĩ đại.
Như vậy, khoa học ban cho chúng ta tư duy khoa học về thế giới vật chất. Kinh thánh ban cho chúng ta tư duy về thế giới tâm linh. Những ai nghiên cứu Kinh thánh, sẽ có tư duy rộng hơn những ai chỉ có tư duy khoa học.
5/ Làm thế nào để nhận biết được Đức Chúa Trời?
Đức Chúa Trời là Thần linh, Ngài vô hình, nhưng Ngài luôn bày tỏ Ngài cho con người nhận biết được Ngài. Có 3 cách để nhận biết Đức Chúa Trời.
– Qua thiên nhiên, vật thọ tạo. Khi nghiên cứu thiên nhiên, các nhà bác học đều đi đến kết luận rằng thế giới của chúng ta không thể xuất hiện một cách ngẫu nhiên từ đống bụi, mà được tạo nên bởi một nhà thiết kế vô cùng khôn ngoan. Thiên nhiên và vũ trụ phải được tạo nên bởi Đấng Sáng Tạo (Rô-ma 1:19-20).
– Qua lương tâm. Đức Chúa Trời đặt vào trong lòng con người lương tâm, để cho con người biết điều đúng sai, thiện ác (Rô-ma 2:15). Lương tâm cáo trách khi chúng ta làm điều tội lỗi, cho con người bản năng về sự phán xét của Đức Chúa Trời.
– Qua Kinh thánh. Đức Chúa Trời bày tỏ Ngài qua Kinh thánh. Kinh thánh là cuốn sách duy nhất mặc khải đầy đủ về Đức Chúa Trời. Tất cả những ai nghiên cứu Kinh thánh một cách hệ thống, đều tin vào Đức Chúa Trời. Nhiều nhà bác học, giáo sư, tiến sỹ đã từng nghiên cứu Kinh thánh để lật đổ Cơ đốc giáo, nhưng cuối cùng họ đều bị thuyết phục bởi tính chính xác, chân lý của Kinh thánh và đều tin vào Đức Chúa Trời. Giáo sư Josh Mcdowell Đại học Cambridge phát biểu: “Tôi suy nghĩ rất nhiều về điều này khi còn là người vô thần để lật đổ Kinh thánh như là Lời của Đức Chúa Trời phán với con người. Cuối cùng tôi đi đến kết luận là tất cả những sự chỉ trích Kinh thánh đều là những phát biểu vớ vẩn xuất phát từ những người có thành kiến hoặc là những người thiếu hiểu biết, chưa nghiên cứu Kinh thánh đến nơi đến chốn”.
6/ĐỨC CHÚA TRỜI là Đấng như thế nào?
Đáp: a. ĐỨC CHÚA TRỜI có bản chất (natural attributes):
– Thần linh (Giăng 4: 24).
– Đấng hằng hữu (Xuất Ê-díp-tô Ký 3: 14, Thi-thiên 90: 2).
– Đấng không thay đổi (Ma-la-chi 3: 6; Thi-thiên 102: 25-27; Gia-cơ 1: 17).
– Đấng toàn năng, Ngài làm được mọi sự (Sáng thế ký 18: 14; Lu-ca 1: 37).
– Đấng Toàn Trí, Ngài khôn ngoan vô hạn
– Đấng Toàn Tri, Ngài biết mọi sự (Thi-thiên 139: 1-4; Hê-bơ-rơ 4: 13).
– Đấng Toàn Tại, Ngài ở khắp mọi nơi (Thi-thiên 139: 7-10).
- 4 bản tính quan trọng của ĐỨC CHÚA TRỜI (moral attributes):
– Thánh khiết (I Phi-e-rơ 1: 15-16).
– Công bình (Thi-thiên 7: 9-11).
– Yêu thương (Ê-phê-sô 2: 4; Giăng 4: 8)
– Thành tín (Ca thương 3: 23); Khải-huyền 3:14).
1) Thánh khiết (I Phi-e-rơ 1: 15-16). Đức Chúa Trời thánh khiết nên Ngài ghét tội lỗi. Ngài sẽ trừng phạt tất cả tội lỗi và tội nhân. Chết không phải là hết, mà còn có hỏa ngục đời đời.
2) Công bình (Thi-thiên 7: 9-11). Công bình có ý nghĩa “công bằng”, Đức Chúa Trời không có thiên vị. Sự công bình nói về quy chuẩn tuyệt đối mà theo đó tất cả con người sẽ chịu phán xét. Theo luật công bình của Đức Chúa Trời tất cả loài người đều phải chết một lần vì tội lỗi, và sau đó phải đến trước tòa án của Đức Chúa Trời để nhận sự trừng phạt đời đời dưới hỏa ngục.
Sự công bình của Đức Chúa Trời còn có nghĩa là Ngài sẽ không trừng phạt một tội 2 lần: nếu chúng ta ăn năn tội lỗi, thì CHÚA JESUS CHRIST chịu sự trừng phạt tội thay cho chúng ta. Đức Chúa Trời công bình đã trừng phạt CHÚA JESUS CHRIST một lần vì tội lỗi chúng ta thì Ngài sẽ không trừng phạt chúng ta lần thứ hai nữa.
3) Yêu thương (Ê-phê-sô 2: 4; Giăng 4: 8) Đức Chúa Trời tạo nên loài người là tuyệt đỉnh vinh quang, Ngài ban cho con người hình tượng của Ngài nên Ngài rất yêu con người và không muốn cho con người bị trừng phạt đời đời ở hỏa ngục. Nhưng tính thánh khiết và công bình của Ngài bắt buộc phải trừng phạt loài người tội lỗi. Đây là bài toán khó không có lời giải. Nhưng sự khôn ngoan vô hạn của Đức Chúa Trời đã có lời giải, mà đã khiến các thiên sứ phải ngạc nhiên. Chính Đức Chúa Trời đã giáng thế làm người, chịu tội thay cho loài người, Ngài đã chết trên thập tự giá, và bằng cách đó Ngài thỏa mãn cả 2 điều kiện: sự công bình và yêu thương.
4) Thành tín (Ca thương 3: 23); Khải huyền 3:14). Đức Chúa Trời hứa nhiều lần trong Kinh thánh rằng nếu ai tin nhận CHÚA JESUS thì sẽ được tha tội và nhận được sự cứu rỗi một cách nhưng không. Đức Chúa Trời đã hứa thì Ngài sẽ làm. Ngài đã hứa sẽ cứu chúng ta thoát khỏi tội lỗi, hỏa ngục thì Ngài sẽ thực hiện điều đó. Điều Ngài cần từ phía chúng ta là đức tin vào Ngài và Lời hứa của Ngài.
Đây là 4 bản tính quan trọng, là chìa khóa để hiểu rõ bản chất của Phúc Âm.
7/ Con người phải có thái độ nào đối với ĐỨC CHÚA TRỜI?
(Mác 12: 30; Xuất Ê-díp-tô ký 20: 3; Giăng 4: 24; Ma-thi-ơ 4: 10; Giăng 12: 26; Lu-ca 1: 75)
Chúng ta phải hết lòng, hết linh hồn, hết trí khôn, hết sức mà:
– Kính mến Đức Chúa Trời (Mác 12: 30; Xuất Ê-díp-tô 20: 3).
– Thờ phượng Chúa (Giăng 4: 24; Ma-thi-ơ 4: 10).
– Hầu việc Chúa (Giăng 12: 26; Lu-ca 1: 75).
Phải học Kinh thánh và vâng phục làm theo. Thấm nhuần tư tưởng “Được phước khi làm theo Lời Chúa.”
Leave a Reply
Bạn phải đăng nhập để gửi phản hồi.