ĐỨC GIÊ-HÔ-VA NGỰ XUỐNG LÀM VUA (Xuất Ê-díp-tô Ký chương 35-40)

Xuất Ê-díp-tô ký. Bài 26.

ĐỨC GIÊ-HÔ-VA NGỰ XUỐNG LÀM VUA

Xuất Ê-díp-tô Ký chương 35-40

Câu khóa. 40:38 “Vì trong các sự hành trình của dân Y-sơ-ra-ên, thì áng mây của Đức Giê-hô-va ở trên đền tạm ban ngày, và có lửa ở trên đó ban đêm hiện trước mặt cả dân Y-sơ-ra-ên.”

Những chương này ghi chép về việc lều tạm đã được xây dựng như thế nào. Đáng lý ra thì nó phải được xây dựng nên từ lâu rồi, nhưng tiến trình xây dựng bị kéo dài. Tại sao?

Trong chương 24 Đức Chúa Trời ký giao ước với dân ISRAEL. Môi-se đã lên núi và nhận được tất cả những chỉ dẫn về việc xây dựng đền tạm (chương 25-31). Nhưng đáng tiếc là trước khi bắt đầu xây dựng lều tạm thì dân chúng và A-rôn đã phản nghịch chống lại Đức Chúa Trời. Họ tạo nên con bò vàng và thờ lạy thần tượng. Giao ước bị phá hủy (chương 32).

Sau đó giao ước được phục hồi nhờ sự cầu thay của Môi-se (chương 34). Và Môi-se lại lên núi kiêng ăn uống 40 ngày. Ở đó ông nhận được lời Chúa và 2 bảng đá thứ hai. Khi ông xuống núi thì mặt ông rực sáng. Chúng ta đã biết nguyên nhân tại sao Môi-se lại lấy miếng vải che mặt lại và sự việc này đã ảnh hưởng như thế nào đến lịch sử của dân ISRAEL.

Bây giờ ISRAEL cần phải xây dựng lều tạm theo thiết kế mà họ nhận được từ Đức Chúa Trời. Đã bị mất đi cả một khoảng thời gian dài vô ích. Ý muốn của Đức Chúa Trời thì vẫn sẽ được thực hiện.

Đây là nội dung và bố cục của phân đoạn Kinh thánh chương 35-40:

  1. 35:1-3 Việc đầu tiên dân ISRAEL cần phải làm là biệt riêng nên thánh ngày sabath, nó có ý nghĩa là phục hồi trật tự mà Đức Chúa Trời ban cho tạo vật. Nơi nào có sự hiện diện của Đức Chúa Trời thì nơi đó trật tự tạo vật được phục hồi.
  2. 35:4-36:7 Những nguyên vật liệu dùng cho việc xây dựng lều tạm.
  3. 36:8-38 Xây dựng lều tạm.
  4. 37:1-9 Hòm bảng chứng. Trung tâm của lều tạm là hòm giao ước, bởi vì Đức Chúa Trời hiện diện trên đó, gặp gỡ loài người và ban lời của Ngài. Vật quan trọng nhất trong đền tạm – đó là hòm bảng chứng. Nắp đậy hòm bảng chứng – là nắp thi ân – ngai ân điển – đó là nơi Đức Chúa Trời hiện diện. Trong hòm bảng chứng có 2 bảng đá – là lời của Đức Chúa Trời. Sự hiện diện của Đức Chúa Trời xảy ra trên nền của Lời Chúa.

Khi chúng ta giữ lời Chúa và vâng phục lời, Đức Chúa Trời hiện diện cùng chúng ta. Nếu chúng ta không vâng phục lời Chúa, chúng ta không thể nào kinh nghiệm được sự hiện diện của Chúa. Khi Đức Thánh Linh ngự đến, Ngài cũng hành động trên nền tảng Lời Chúa. Trong Công vụ chương 2, các sứ đồ ngồi học Kinh thánh và cầu nguyện, khi đó Đức Thánh Linh giáng xuống. Và Đức Thánh Linh trong hình dạng những chiếc lưỡi bằng lửa ban cho họ ân tứ ngoại ngữ để học có thể đi ra và rao giảng Tin lành của Chúa Jesus Christ phục sinh cho muôn dân. Chứng cớ của sự đầy dẫy Đức Thánh Linh – đó là mong muốn nóng cháy và dạn dĩ rao giảng Phúc Âm. Đó là lễ Ngũ tuần cho môn đồ người Do thái.

Đức Thánh Linh và lời Đức Chúa Trời luôn đi cùng nhau. Sự tuôn đổ Đức Thánh Linh lần thứ 2 trong Công vụ chương 10:44, xảy ra trong nhà của thầy đội Cọt-nây. Khi sứ đồ Peter đang rao giảng Tin lành, thì Đức Thánh Linh tuôn đổ xuống trên tất cả những người đang nghe lời Chúa. Đấy là lễ Ngũ tuần cho dân ngoại. Như vậy cứ mỗi lần Đức Thánh Linh tuôn đổ, là lúc Tin lành được rao giảng ra.

Chúng ta xem Xuất Ê-díp-tô ký 25:22 “Ta sẽ gặp ngươi tại đó, và trên nắp thi ân, giữa hai tượng chê-rubim, trên hòm bảng chứng, ta sẽ truyền cho ngươi các mạng lịnh về dân Ysơ-ran.” Đức Chúa Trời bày tỏ Ngài ở đâu? Ở trên hòm bảng chứng đựng Lời Ngài. Đức Chúa Trời bày tỏ Ngài trên lời Ngài! Sự hiện diện của Đức Chúa Trời và sự hiện diện của Lời Chúa luôn xảy ra cùng nhau. Nếu Đức Thánh Linh mà tuôn đổ không theo lời Chúa, thì đó là một thần lạ.

  1. 37:10-16 bàn để bánh trần thiết: bánh tượng trưng cho lời sự sống.
  2. 37:17-24 chân đèn: vinh hiển của Chúa.
  3. 37:25-29 bàn thờ xông hương: sự cầu nguyện của các thánh đồ.
  4. 38:1-7 bàn thờ của lễ thiêu: dâng hiến hết bản thân mình cho Chúa.
  5. 38:8 thùng bằng đồng: rửa sạch mình khỏi mọi tội lỗi.
  6. 38:9-20: hành lang, màn treo, hàng rào che hành lang: dành cho toàn thế giới. 12 chi phái.

Điều gì tạo nên lều tạm? Lời của Đức Chúa Trời. 39:32, 43; 40:16,19,21,23,25,27,29,32

Lời Chúa trở thành lều tạm, ở giữa các trại quân. Điều này chỉ về Chúa Jesus Christ  – Ngôi Lời trở thành xác thịt (Giăng 1:14).

Như vậy chúng ta đã lướt qua 6 chương cuối cùng của sách Xuất Ê-díp-tô ký. Nếu như chúng ta nghiên cứu sâu từng đồ vật trong lều tạm thì sẽ rất mất thời gian. Mà bây giờ chúng ta không còn phải dâng của lễ thiêu trong khi thờ phượng nữa, CHÚA JESUS đã hoàn thành và làm trọn việc dâng của tế lễ rồi.

Phần quan trọng nhất là những câu Kinh thánh cuối của sách 40:34-38, nói về việc lời hứa của Đức Chúa Trời đã được thực hiện như thế nào. Chúng ta xem câu 40:34-35 “34 Áng mây bao phủ hội mạc và sự vinh hiển của Đức Giê-hô-va đầy dẫy đền tạm, 35 cho đến nỗi Môi-se vào chẳng đặng, vì áng mây bao phủ ở trên và sự vinh hiển của Đức Giê-hô-va đầy dẫy đền tạm”:

– Khi đền tạm vừa được xây dựng xong, thì Đức Chúa Trời ngự xuống đầy vinh hiển (câu 34).

– Khi đền tạm vừa được xây dựng xong, thì có sự thay đổi lớn. Môi-se không thể đi vào đền tạm được (câu 35).

Lều hội kiến trong 33:7 và lều tạm trong chương 40 khác nhau. Trong trại hội kiến Đức Chúa Trời thường xuyên gặp gỡ Môi-se. Nhưng khi lều tạm được xây dựng xong, thì chỉ có thầy tế lễ thượng phẩm mỗi năm một lần nhờ huyết mới được vào. Còn trước đó thì chức năng của lều tạm dùng để hội kiến.

Khi nào Đức Chúa Trời ban cho lều hội kiến? Là khi Môi-se cầu nguyện và tranh đấu với Đức Chúa Trời để nhận được sự thương xót của Ngài.

Lều hội kiến và lều tạm khác nhau chỗ nào? Là trên lều hội kiến vinh quang của Chúa không ngự xuống thường xuyên, chỉ khi nào Môi-se đi vào đó để cầu nguyện thì mới có. Vả lại lều hội kiến nằm bên ngoài trại quân, cách xa trại quân, bởi vì giao ước với Đức Chúa Trời bị phá hủy. Nhưng khi lều tạm được xây dựng xong, thì nó luôn nằm trong trại quân. Như vậy lều hội kiến đã trở thành lều tạm đi vào bên trong trại quân, được bao quanh bởi 12 chi phái ISRAEL. Điều đó tượng trưng cho việc Đức Chúa Trời ngự giữa dân của Ngài, và lời hứa về chủ quyền được thực hiện. Đây là sự bày tỏ danh Emmanuen, danh của Chúa Jesus Christ.

Đức Chúa Trời làm gì khi ngự trong lều tạm? Chúng ta xem câu 40:36-37 “36 Vả, trong các sự hành trình của dân Y-sơ-ra-ên, khi nào áng mây từ đền tạm ngự lên thì họ ra đi; 37 còn nếu áng mây không ngự lên thì họ cũng không đi, cho đến ngày nào áng mây ngự lên. 38 Vì trong các sự hành trình của dân Y-sơ-ra-ên, thì áng mây của Đức Giê-hô-va ở trên đền tạm ban ngày, và có lửa ở trên đó ban đêm hiện trước mặt cả dân Y-sơ-ra-ên.” Đây là sự dẫn dắt của Đức Chúa Trời. Đức Chúa Trời đến giữa dân Ngài để làm Vua và hiện diện giữa họ, dẫn dắt họ. Một danh xưng của Đức Chúa Trời là Jehovah Savaop – Chúa của vạn (10.000) quân, Ngài là Vị Tổng tư lệnh. Ngài chiến đấu thay cho dân Ngài – đó là Sừng cứu rỗi.

Trong chương 40 Chúa Jehovah Savaov lần đầu tiên ngồi trên ngai và cầm cây gậy sắt và bắt đầu tể trị trên dân mình. Sự tể trị và thi hành chủ quyền của Đức Chúa Trời trên dân Ngài bắt đầu. Dân sự vâng phục Ngài.

Đức Chúa Trời làm tròn lời hứa đối với Abraham trong Sáng 12:2-3.

Đám mây và trụ lửa – đó là sự dẫn dắt và sự bảo vệ cho dân sự. Người ả-rập sống ở hoang mạc phải khoác vải trắng lên mình để tránh nóng. Nhưng dân ISRAEL thì không phải làm điều này vì đám mây che đi cái nắng gay gắt của mặt trời, còn trụ lửa ban đêm thì sưởi ấm cho họ. Đây là sự nhân từ và thương xót quá vĩ đại! Đây là quyên năng vô hạn của Đức Chúa Trời Đấng sáng tạo nên trời và đất!

Quyền năng sáng tạo và quyền năng sự sống hiện diện cùng họ, đến nỗi mà áo xống không cũ đi và giày dép không bị hư sờn “Ta đã dẫn dắt các ngươi bốn mươi năm trong đồng vắng, áo xống không cũ trên mình ngươi, giày không mòn dưới chân ngươi” (Phục truyền 29:5). Bánh ma-na từ trời rơi xuống, nước chảy ra từ hòn đá trong sa mạc, không có bệnh tật gì. Tất cả đều khỏe mạnh và được an toàn… những sự việc kỳ diệu như vậy xảy ra trong vòng suốt 40 năm. Quyền năng và tình yêu thương của Đấng Sáng Tạo luôn ở cùng họ đầy trọn.

Ban đêm trong sa mạc nhiệt độ xuống rất lạnh, nếu không có sưởi ấm thì không ai sống sót được. Dân ISRAEL lấy đâu ra củi lửa? Làm thế nào để được sưởi ấm? Đức Chúa Trời đã làm nên trụ lửa và hơn 2 triệu người say giấc nồng mỗi đêm.

Đám mây, trụ lửa, ma-na và vô vàn những phép lạ khác – đó là điềm lạ. Điềm lạ (sign) khác với phép lạ (miracle). Điềm lạ có ý nghĩa đặc biệt và đem đến đức tin, còn phép lạ chỉ làm cho người ta ngạc nhiên và chỉ thế.

Những điềm lạ này khải thị cho chúng ta biết rằng trong Đức Chúa Trời chúng ta có được sự cứu rỗi, sự sống và ân điển, và làm cho đức tin chúng ta vững mạnh. Đức Chúa Trời là Chúa của sự sống, Chúa của ân điển và Ngài thực hiện lời hứa của Ngài.

Tất cả những phép lạ mà CHÚA JESUS làm – đó là điềm lạ (sign). Khi CHÚA JESUS biến nước lã thành rượu vang, thì các môn đồ tin Ngài. CHÚA JESUS hóa bánh ra nhiều, nuôi sống 5000 người và Ngài phán: “Ta là bánh sự sống”. CHÚA JESUS phục sinh La-xa-rơ từ nấm mồ và Ngài phán: “Ta là sự sống lại và sự sống”. CHÚA JESUS chữa lành người mù bẩm sinh và Ngài phán: “Ta là sự sáng cho thế gian”.

Đức Chúa Trời cũng ban cho dân ISRAEL những điềm lạ như vậy. Phép lạ mà Đức Chúa Trời làm trong hoang mạc cho dân ISRAEL và phép lạ mà CHÚA JESUS làm – là giống như nhau.

Hành trình 40 năm trong hoang mạc – đó là cuộc hành trình truyền giáo của chính Đức Chúa Trời. Chính Ngài là nhà truyền giáo.

Như vậy Đức Chúa Trời ban cho Abraham 3 lời hứa:

– đất đai: được thực hiện trong thời vua David

– dân lớn: được thực hiện ở đầu sách Xuất Ê-díp-tô ký

– chủ quyền (sự tể trị của Vua): được thực hiện ở cuối sách Xuất Ê-díp-tô ký.

 

Be the first to comment

Leave a Reply