NGUỒN GỐC CÁC TÔN GIÁO

World Religions Planet Earth Flower World religions - flower icon made of religious symbols and planet earth in center. Isolated vector illustration on white background.

TÔN GIÁO BABYLON

Như chúng ta đã biết sau khi bị rủa sả bởi tội lỗi, Adam biết rằng con đường phục hồi lại mối liên hệ với Đức Chúa Trời chỉ qua dòng dõi của người nữ, qua Đấng Messiah, nên Adam đã đặt tên vợ là Eva, nghĩa là sự sống, điều đó có quan hệ mật thiết với lời hứa của Đức Chúa Trời trong Sáng 3:15. Sau khi bị đuổi khỏi vườn Ê-đen, Adam trở thành nhà truyền đạo đầu tiên với trách nhiệm rao giảng về niềm hy vọng cứu rỗi nhờ Đấng Messiah. Trong Sáng chương 5 chép lại tên của 10 người, đó chính là 10 nhà truyền đạo, là thầy trưởng tế trong 10 thế hệ trước Đại hồng thuỷ, là những người gánh trách nhiệm rao giảng Tin lành cứu rỗi của Đấng Messiah. Sự hiểu biết của nhân loại về Đấng Messiah và Đức Chúa Trời trước Đại hồng thuỷ rất đáng kinh ngạc, nằm ngoài trí tưởng tượng của chúng ta. Hàng đêm người ta vẫn nhìn thấy những lưỡi gươm chói loà của các thiên sứ canh giữ lối vào vườn Ê-đen. Những hiểu biết về thiên văn học được bày tỏ qua vị trí của các kim tự tháp ở Ai-cập, tên gọi của các chòm sao cũng nói về Tin lành cứu rỗi.

Loài người lúc đó phân hoá ra làm 2: dòng dõi chống nghịch lại Thượng đế là hậu duệ của Cain, và dòng dõi của những người giữ niềm tin vào lời hứa của Đức Chúa Trời. Đến thời Nô-ê thì cả thế gian đầy dẫy điều ác. Chỉ có Nô-ê là người giữ vững niềm tin.

Trong cuốn “Những năm xưa của người Do-thái” Joseph Flavius kể rằng, sau cơn Đại hồng thuỷ, dòng dõi chống Chúa tiếp diễn qua hậu duệ của Cham, mà đại biểu là Nim-rốt. Nim-rốt xây các thành phố ở đồng bằng Si-nê-a, và thuyết phục người ta thần phục ông ta mà không cần phải kính sợ Chúa. Ông ta nói là cần phải xây dựng một cái tháp cao hơn mức nước lụt, bằng cách đó trả thù cho tổ tiên. Đám đông cho rằng ý kiến của Nim-rốt có lý và họ nghĩ rằng vâng phục Đức Chúa Trời là một sự nô lệ mù quáng. Và thế là họ bắt đầu xây dựng tháp Ba-bên không tiếc công sức. Tương truyền rằng theo kế hoạch trên đỉnh tháp sẽ là đền thờ thần mặt trời. Một số nhà sử học cho rằng vị thần Marduk, là vị sáng lập ra Babylon thượng cổ, cũng chính là Nim-rốt. Vợ của Nim-rốt là Semiramis, cũng được thần thánh hoá, hiện thân thành Đức Chúa Trời mẹ. Như vậy tôn giáo đầu tiên do con người sáng lập nên là Tôn giáo Ba-by-lôn thượng cổ, là tôn giáo thờ thần mặt trời.

Nimrod là một thợ săn hùng mạnh chống lại Đức Giê-hô-va . Theo nghĩa đen là  “ở trước mặt” , nhưng mang nghĩa thách thức và chống đối, như trong cùng một cách diễn đạt ở  Dân số 16:2 ;  Giô-suê 7:12-13 ;  1 Sử ký 14:8 ;  2 Sử ký 14:10 ;  Gióp 23:4 . Các bản dịch Targum của người Do Thái, các tác phẩm của nhà sử học Josephus, và cả bối cảnh của chương 10 sách Sáng thế ký đều cho thấy Nimrod là một thợ săn hùng mạnh chống lại Đức Giê-hô-va.

Việc nhắc đến Nimrod một cách ngắn gọn trong Kinh Thánh chứa đựng nhiều manh mối về bản chất và ảnh hưởng của ông đối với xã hội loài người thời kỳ đầu. Thuật ngữ tiếng Do Thái “גבר” (Gibbor), được dịch là ‘người hùng mạnh’, không chỉ hàm ý sức mạnh thể chất mà còn cả tầm ảnh hưởng và quyền lực. Là ‘người đầu tiên trở thành người nắm quyền trên trái đất’, Nimrod trở thành một nhà lãnh đạo, một người cai trị và một nhân vật có ảnh hưởng, mở ra một kỷ nguyên mới về sự tự quản của con người, trái ngược với ý định ban đầu của Chúa về sự hướng dẫn và cai trị thiêng liêng.

Việc được gọi là “thợ săn hùng mạnh” nói lên rất nhiều điều về tính cách của Nimrod. Thoạt nhìn, nó có thể ám chỉ khả năng săn bắt thú hoang của ông ta, nhưng cụm từ “chống lại Đức Giê-hô-va” lại mang một ý nghĩa sâu sắc hơn. Nimrod không chỉ đơn thuần là một thợ săn thú mà có thể còn là một “thợ săn” người, mở rộng vương quốc của mình bằng vũ lực và sự khuất phục, áp đặt ý chí của mình lên người khác, từ đó khẳng định quyền lực của con người nơi mà quyền lực thiêng liêng lẽ ra phải là tối cao.

Những chiến công của Nimrod không chỉ dừng lại ở vương quốc Shinar, bao gồm các thành phố như Babel, Erech và Accad. Ông mở rộng quyền cai trị sang Assyria và xây dựng các thành phố như Nineveh, Rehoboth-Ir và Calah. Sự bành trướng này càng làm nổi bật tham vọng thiết lập quyền lực của Nimrod, tạo ra một đế chế trải rộng khắp các vùng, có thể là đế chế quy mô lớn đầu tiên sau trận Đại hồng thủy.

Việc xây dựng một tòa tháp “vươn tới trời” tượng trưng cho nỗ lực của con người nhằm khẳng định quyền tự chủ, cạnh tranh với quyền năng thiêng liêng, về cơ bản là tự đặt mình đối lập với Chúa. Thứ hai nữa đây là một thách thức kiêu ngạo đối với Thượng Đế, rằng họ không chịu ăn năn khuất phục và nếu Chúa trừng phạt một lần nữa, thì nước lụt sẽ không đủ cao để có thể nhấn chìm tòa tháp này. Họ đã thể hiện sự vô tín đối với giao ước Cầu vồng, rằng Chúa hứa sẽ không cho nước lụt đến nữa, nhưng họ kiêu ngạo không chịu ăn năn và khôntin vào lời hứa nhân từ của Chúa.

Những hành động lịch sử của Nimrod đã đặt nền móng cho sự phát triển của hình thức tự quản của con người và sự đa dạng hóa các tôn giáo. Trong hành động khẳng định quyền lực và uy quyền của con người, Nimrod và những người dưới ảnh hưởng của ông đã coi thường ý định và sự hướng dẫn ban đầu của Đức Chúa Trời, dẫn đến sự hỗn loạn ngôn ngữ tại Babel ( Sáng thế ký 11:9 ). Sự kiện này đánh dấu sự phân tán của con người và sự ra đời của các nền văn hóa và tôn giáo đa dạng, đi chệch khỏi sự thờ phượng ban đầu đối với Đức Giê-hô-va, Đấng Tạo Hóa.

Họ tản mát, mang theo những cách hiểu khác nhau về sự kiện và niềm tin tôn giáo mà họ nắm giữ.

Khi các nhóm này phân tán khắp trái đất, niềm tin và cách hiểu của họ đã phát triển, chịu ảnh hưởng bởi các truyền thống và sự kiện địa phương. Mặc dù bắt nguồn từ một nguồn duy nhất, những ý tưởng này đã phân nhánh thành vô số phiên bản, độc đáo như chính các nền văn hóa nắm giữ chúng.

Những truyền thuyết củng cố thêm độ tin cậy của câu chuyện trong Kinh Thánh.

Ảnh hưởng của Kinh Thánh sâu rộng đến mức không chỉ lan tỏa vào nhiều khía cạnh của văn hóa và lịch sử nhân loại, mà còn cả lĩnh vực văn hóa dân gian và thần thoại toàn cầu. Vô số truyền thuyết trên khắp thế giới dường như phản ánh, hoặc ít nhất là tương đồng với, những câu chuyện quan trọng trong Kinh Thánh, củng cố tính xác thực lịch sử của các ghi chép trong Kinh Thánh. Hiện tượng này trở nên đặc biệt rõ ràng khi chúng ta tìm hiểu những câu chuyện phản ánh các ghi chép trong Kinh Thánh về Tháp Babel và trận Đại hồng thủy, như được mô tả trong sách Sáng Thế Ký.

Ví dụ, ở miền bắc Myanmar, có một niềm tin truyền thống rằng tất cả mọi người ban đầu “sống trong một ngôi làng lớn và nói một thứ tiếng”. Tương tự như câu chuyện về Tháp Babel trong Kinh Thánh, Sáng Thế Ký 11:1-9 , truyền thuyết của người Myanmar kể rằng những người này đã cố gắng xây dựng một tòa tháp vươn tới mặt trăng. Khi tòa tháp được xây dựng lên, những người thợ xây làm việc ở các tầng riêng biệt, dần dần mất liên lạc với nhau. Theo thời gian, họ “có những phong tục, tập quán và cách nói chuyện khác nhau”.

Tương tự, người Yenisei-Ostyak ở miền bắc Siberia kể lại một câu chuyện về trận lụt có sự tương đồng đáng kinh ngạc với Sáng thế ký 7-8 . Trong phiên bản của họ, con người sống sót sau trận lụt tàn khốc bằng cách bám vào những khúc gỗ và bè trôi nổi. Sau trận lụt, một cơn gió bắc mạnh đã phân tán những người sống sót này, và sau đó họ “bắt đầu nói những ngôn ngữ khác nhau và hình thành nên những dân tộc khác nhau”.

Trên khắp thế giới, trong các nền văn minh cổ đại của châu Mỹ, chúng ta tìm thấy thêm những truyền thuyết tương tự như những câu chuyện trong Kinh Thánh. Người Aztec tin rằng “sau trận Đại hồng thủy, một người khổng lồ đã xây dựng một ngọn đồi nhân tạo vươn tới tận mây”, khiến các vị thần nổi giận và ném lửa hoặc đá từ trên trời xuống để đáp trả. Câu chuyện này tương đồng với câu chuyện về Tháp Babel, nơi sự kiêu ngạo của con người dẫn đến sự can thiệp của thần thánh.

Truyền thuyết của người Maya cũng rất thú vị. Họ tin rằng Votan, người đầu tiên trên thế giới, đã tham gia vào việc xây dựng một ngôi nhà khổng lồ vươn tới tận trời. Công trình này là “nơi Đức Chúa Trời ban cho mỗi bộ lạc ngôn ngữ riêng của họ”, một chủ đề trực tiếp vang vọng câu chuyện về tháp Babel, nơi Đức Chúa Trời làm cho ngôn ngữ của loài người trở nên hỗn loạn để ngăn chặn nỗ lực ngạo mạn của họ ( Sáng thế ký 11:7 ).

 

Khi chúng ta đọc một số câu chuyện thần thoại, chúng ta có cảm giác đó là sự ngu xuẩn, là sản phẩm của con người, nhưng thực chất nó đại diện cho con đường sai trái của tà giáo. Nimrod là người đầu tiên xây dựng một tà giáo và tập hợp mọi người vào những cộng đoàn này; ông ta là người đầu tiên lãnh đạo nhân loại nổi loạn chống lại Chúa. Việc xây dựng tháp Ba-bên và sau đó là các kim tự tháp xác nhận điều này, tức là bắt chước Ngôi Lời chân chính, mong muốn đạt được sự sống vĩnh hằng, chuyển sang một chiều không gian khác, nhưng không theo cách mà Đức Chúa Trời đã định sẵn.

Sau khi Đức Chúa Trời làm lộn xộn tiếng nói, loài người tản lạc đi khắp mặt đất, và mang theo những khái niệm tôn giáo dựa trên những sự kiện lịch sử có thật. Bởi vì loài người đã thách thức Đức Chúa Trời, và bị Ngài trừng phạt, nên họ đành phải tìm những vị thần khác, nhưng lại mang những bản sao khác nhau của tôn giáo Babylon. Tên gọi của những vị thần khác nhau, nhưng cấu trúc và hệ thống tôn giáo thì giống nhau.

Tin lành được Đức Chúa Trời hứa ban trong Sáng 3:15, và được các trưởng tế rao giảng trong vòng 1656 năm trước khi nước lụt xảy ra, do đó loài người trước Đại hồng thuỷ biết rõ về Đấng Christ phải đến thế gian qua một nữ đồng trinh và phải chết để chuộc tội, nhưng Ngài sẽ phục sinh vào ngày thứ ba. Nhưng các tôn giáo giả thì luôn copy và làm méo mó Tin lành.

Chúng ta xem tôn giáo Babylon: Nim-rốt có vợ là Se-mi-ra-mis, chịu thai cách siêu nhiên sinh con trai là Tham-mu (Thammuz). Ê-xê-chiên 8:12-18 “12. Ngài bèn phán: Hỡi con người, ngươi có thấy sự các trưởng lão nhà Y-sơ-ra-ên mỗi người làm trong nơi tối tăm, trong phòng vẽ hình tượng của mình không? Vì chúng nó nói rằng: Ðức Giê-hô-va không thấy chúng ta đâu; Ðức Giê-hô-va đã lìa bỏ đất nầy! 13. Ngài lại phán rằng: Ngươi sẽ còn thấy những sự gớm ghiếc lớn khác nữa mà chúng nó làm! 14. Ngài dẫn ta đến lối cửa nhà Ðức Giê-hô-va, cửa ấy về phía bắc; nầy, tại đó ta thấy những đờn bà ngồi mà khóc Tham-mu.” Dưới đây là tượng chạm khắc bộ ba tôn giáo Babylon.

Sau khi Nimrod bị tiêu diệt, Semiramis, vợ của Nimrod, đã tạo ra huyền thoại rằng Nimrod đã phục sinh và giờ đây trở thành đứa con mà bà đã sinh ra. Đây chính là nguồn gốc của hình ảnh Đức Mẹ Đồng Trinh bế một hài nhi trong tay trong Công giáo.

Ngày 25/12: Semiramis và những kẻ theo bà ta phao tin rằng vào đêm 25-12 có một cây xanh vĩnh cửu mọc ra từ một gốc cây mục ở thành Ba-by-lôn (đó là lý do tại sao người ta chọn cây thông làm biểu tượng cho ngày lễ này). Hàng năm vào đêm đó Nim-rốt đem những món quà đến đặt cạnh gốc cây này. Từ đó người ta bắt đầu tin vào điều bịa đặt này và biến ngày này thành một ngày lễ thờ thần mặt trời, và chờ đón ngày đó từ đêm đến sáng để nhận được quà của Nim-rốt. Sau này ngày lễ này du nhập vào văn hóa của nhiều dân tộc vào thời cổ đại: đó là ngày lễ về chiến thắng của mặt trời “sol invictus”. Đó là ngày lễ lớn nhất trong năm, và rất phổ biến. Sol invictus: như chúng ta đã biết là theo quỹ đạo, thì mùa đông ngày ngắn dần, đêm dài ra. Ngày Đông Chí thông thường rơi vào ngày 21 tháng 12 hoặc 22 tháng 12. Khi đó tại Bắc bán cầu có ngày ngắn nhất và đêm dài nhất. Khoảng từ ngày 22/12 đến 26/12 thì độ chuyển dịch đó dừng lại, từ ngày 26/12 trở đi ngày lại bắt đầu dài ra, còn đêm thì ngắn dần lại. Do đó trong quá khứ những kẻ thờ thần mặt trời tạo nên một huyền thoại kể rằng thần mặt trời đánh nhau với thần bóng tối, và cuối cùng thì đến ngày 25/12 thần mặt trời chiến thắng. Do đó họ kỷ niệm ngày 25/12 là ngày lễ chiến thắng của Mặt trời sol invictus. Trong thế giới cổ đại, ngày 25/12 là ngày lễ thờ thần tượng lớn nhất của hầu hết các dân tộc. Ngày lễ này có nguồn gốc từ tôn giáo Babylon, là tôn giáo thờ thần mặt trời. Vào thế kỷ thứ 3 khi hoàng đế La-mã Constantinus lên ngôi và bắt tất cả thần dân quy đạo Cơ-đốc, Cơ đốc giáo trở thành quốc giáo của đế quốc La-mã. Để làm vừa lòng dân chúng ông ta đã đổi ngày lễ thờ thần mặt trời 25-12 thành ngày lễ Giáng sinh.

Cũng như vậy có những hiểu lầm về ngày lễ Phục sinh. Semiramis và những đồng loã tạo ra một huyền thoại kể rằng trước nạn hồng thủy có một thần linh từ trời bị ném xuống sông Ơ-phơ-rát trong một quả trứng. Từ quả trứng đó nở ra bà Semiramis – là vợ của Nim-rốt, còn có tên gọi khác là Át-tạt-tê (Astarta), Ishtar, hay là Easter. Từ đó có tên gọi quả trứng phục sinh (Easter egg). Trong bản dịch của King James sách Công vụ 12:4 những người phiên dịch đã đặt nhầm chữ Easter thay cho chữ Peisah (lễ Vượt qua trong tiếng Do-thái). Từ lỗi này, người ta đã nhầm Easter là Lễ phục sinh, và du nhập vào Cơ đốc giáo những quả trứng của Semiramis thành biểu tượng của ngày lễ Phục sinh. Nhưng chúng ta biết rằng Astarta, Easter là thần của sự sinh sản, và quả trứng và con thỏ, là biểu tượng của sự sinh sản. Sau này là bánh phục sinh giống hình của phallos, lại du nhập vào văn hóa Cơ-đốc.

Tham-mu là tên con trai của Nim-rốt và Semiramis. Là thần của người Phinikia, cũng là thần Adonis trong thần thoại Hy-lạp. Phiên âm theo tiếng cổ Shumer là Đu-mu-zi “con trai thật sự của vực nước sâu không đáy” – là thần của sự sinh sản, đã chết và phục sinh.  Khải huyền 9:1-2 “1. Vị thiên sứ thứ năm thổi loa, thì tôi thấy một ngôi sao từ trời rơi xuống đất, và được ban cho chìa khóa của vực sâu không đáy. 2. Ngôi sao ấy mở vực sâu không đáy ra, có một luồng khói dưới vực bay lên, như khói của lò lửa lớn; một trời và không khí đều bị tối tăm bởi luồng khói của vực.”

Tôn giáo Hy-lạp: Thần Dớt (Zeus), nữ thần Aphrodita, thần Eros. Ở Ấn-độ cũng vậy.

Tôn giáo Ai-cập: O-si-ris và vợ là I-si-đa. O-si-ris bị kẻ thù là Sét giết chết và cho vào 1 chiếc quan tài gỗ và bị cưa ra làm 13 mảnh rồi bị ném xuống sông Nil. I-si-đa tìm được 12 mảnh, mảnh thứ 13 – phallos không tìm thấy (là bộ phận sinh dục nam). Sau đó Osiris được phục sinh, cùng tác hợp với Isida và sanh ra 1 con trai là Horus.

Dưới đây là những biểu tượng chính của tôn giáo Ai-cập (Memphis Mich-ra-im)

Chúng ta xem biểu tượng phallos của Osiris tôn giáo Ai-cập trở thành biểu tượng bất diệt và là tượng đài chiến thắng khắp nơi trên thế giới:

Tượng đài ở Paris

Washington

Thổ nhĩ kỳ

St. Peterburg Leningrad

Vatican

Chúng ta xem những biến thể của Semiramis:

Isis , Isida ở Ai-cập

Aphrodita, Diana, Artemida – ở Hy-lạp

Át-tạ-tê (Astarta) ở Ca-na-an

Venus ở La-mã

Devka, Isi, Phật bà quan âm ở Ấn-độ

Nữ thần công lý và Comlumbia pictures

Tượng nữ thần tự do

Trong các hệ thống tôn giáo thờ thần tượng, thì các thần luôn luôn được nhân cách hoá, bởi vì nó được tạo nên từ con người, nên không có tính thánh khiết hoàn hảo. Các thần cãi cọ, cạnh tranh với nhau vì quyền lực, giết hại lẫn nhau, ngoại tình với nhau,… Điều đó không khác lạ vì chúng được copy từ ai?! Những tôn giáo như vậy không thể hướng dẫn đạo đức được và chỉ dẫn những người theo họ đến sự suy đồi.

Có một câu hỏi hóc búa: trên thế giới có vô vàn các tôn giáo khác nhau, làm thế nào để chọn cho mình con đường đi đúng? Nếu chúng ta quay về với cội nguồn lịch sử thì câu trả lời rất rõ ràng: chỉ có 2 tôn giáo, một cái là thật, cái kia giả. Tôn giáo thật thờ phượng Đức Chúa Trời là Đấng sáng tạo nên trời và đất, được lưu truyền theo dòng của Sết, đến Sem, đến dòng Hê-be, đến Abraham, và qua Đấng Cứu Thế Jesus Christ. Còn tôn giáo giả bắt nguồn từ Nim-rốt và Babylon đẻ ra vô vàn những biến thể khác nhau. Khải huyền 17:1-5 chép “1Bấy giờ trong bảy vị thiên sứ cầm bảy bát ấy, có một vị đến gần mà nói với tôi rằng: Lại đây, ta sẽ chỉ cho ngươi sự phán xét về con đại dâm phụ, nó ngồi trên các dòng nước lớn kia. 2Các vua trong thiên hạ phạm tội tà dâm với nó, và dân sự trong thế gian cũng say sưa vì rượu tà dâm của nó. 3Tôi được Thánh Linh cảm động, thiên sứ đó đem tôi tới nơi đồng vắng; thấy một người đàn bà ngồi trên lưng một con thú sắc đỏ sặm, mình mang đầy những tên sự phạm thượng, có bảy đầu và mười sừng. 4Người đàn bà ấy mặc màu tía màu điều, trang sức những vàng, bửu thạch và hột châu; tay cầm một cái chén vàng đầy những đồ gớm ghiếc và dâm uế. 5Trên trán nó có ghi một tên, là: SỰ MẦU NHIỆM, BA-BY-LÔN LỚN, LÀ MẸ KẺ TÀ DÂM VÀ SỰ ĐÁNG GỚM GHÊ TRONG THẾ GIAN.

Be the first to comment

Leave a Reply