NAN ĐỀ CỦA GIU-ĐA ÍCH-CA-RI-ỐT (Công vụ 1:15-16)

Công vụ 7

Trong Kinh thánh có 2 chỗ khó hiểu về ý chỉ của Đức Chúa Trời: đó là đoạn nói về Pha-ra-ôn trong Xuất Ê-díp-tô và trong Tân ước nói về Giu-đa Ích-ca-ri-ốt. Hôm nay chúng ta sẽ học về điều này để hiểu rõ về ý muốn của Đức Chúa Trời và có cách nhìn đúng đắn về các sự việc.

Công vụ chương 1 nói về việc Phi-e-rơ đã giải quyết nan đề Giu-đa như thế nào. Lúc đó không ai trong số các môn đồ muốn đưa nan đề Giu-đa ra để giải quyết. Trong khi cầu nguyện Đức Chúa Trời bày tỏ cho Phi-e-rơ rằng cần phải giải quyết nan đề của Giu-đa Ích-ca-ri-ốt. Chúng ta xem câu 15-19 “15Trong những ngày đó, Phi-e-rơ đứng dậy giữa các anh em,–số người nhóm lại ước được một trăm hai mươi người,–mà nói rằng: 16Hỡi anh em ta, lời Đức Thánh Linh đã nhờ miệng vua Đa-vít mà nói tiên tri trong Kinh thánh về tên Giu-đa, là đứa đã dẫn đường cho chúng bắt Đức Chúa Jêsus, thì phải được ứng nghiệm.

Ở đây có một cụm từ gây bối rối cho nhiều Cơ đốc nhân “lời Đức Thánh Linh …tiên tri trong Kinh thánh về tên Giu-đa…phải được ứng nghiệm”. Chúng ta phải hiểu đúng câu này. Theo câu này dường như Giu-đa không hề có ý muốn phản bội Thầy của mình, nhưng Đức Chúa Trời đã tiền định rằng Giu-đa phải trở thành kẻ phản bội, và Ngài đã sắp xếp tất cả theo kế hoạch của Ngài để các lời tiên tri được ứng nghiệm, do đó Giu-đa không có tội gì. Nghĩa là con người không có ý muốn phạm tội, nhưng Đức Chúa Trời bắt buộc anh ta phạm tội, vì Ngài đã phán: “đã định trước rằng ngươi được sinh ra để phản bội”. Sau đó Ngài phán: “ngươi phản bội Đấng Christ, nên ngươi phải chịu sự trừng phạt đời đời”. Dường như con người chỉ là con tốt thí trong trò chơi của Đức Chúa Trời. Nhưng rõ ràng Đức Chúa Trời không phải như vậy. Đức Chúa Trời tạo dựng con người với một ý chí tự do, Ngài ban cho con người quyền tự do lựa chọn và quyết định. Vì vậy mới có sự phán xét. Nếu không có quyền tự do, sẽ không có toà án phán xét.

Có tồn tại một giáo lý về sự tiền định. Tuy nhiên điều đó không có nghĩa rằng Đức Chúa Trời đã sắp xếp trước tất cả mọi sự. Sự tiền định liên quan đến 3 luận điểm:

1/ điều đó có nghĩa là Đức Chúa Trời đã có một kế hoạch để cứu rỗi nhân loại. Đức Chúa Trời đã có kế hoạch cứu rỗi tất cả mọi người trong Đức Chúa Jesus Christ. Khi Chúa JESUS chết trên thập giá, Ngài đã trả hết tội cho nhân loại. Nhưng điều đó không có nghĩa là tất cả mọi người đều được tha tội và được cứu rỗi. Mà chỉ những ai lựa chọn tiếp nhận Chúa JESUS thì mới nhận được.

2/ điều đó liên quan đến 2 khái niệm về ý chỉ của Đức Chúa Trời. Ý chỉ chủ đạo (directive will) của Đức Chúa Trời là điều mà Ngài chắc chắn sẽ thi hành. Ý chỉ cho phép (permissive will) là những gì Ngài cho phép xảy ra. Đức Chúa Trời cho phép tội lỗi xâm nhập vào thế gian, chứ không chỉ đạo sự xâm nhập này. Mặc dù vậy Đức Chúa Trời vẫn tể trị trên tất cả những gì xảy ra. Ngài có quyền năng tối thượng để đưa những thiên ý của Ngài đến chỗ thành tựu.

3/ điều đó liên quan đến sự toàn tri của Đức Chúa Trời: Ngài biết trước mọi sự. Thời gian là khái niệm và rào cản đối với chúng ta. Nhưng Đức Chúa Trời nằm ngoài giới hạn của không gian và thời gian. Những gì xảy ra trong suốt tiến trình lịch sử hơn 6000 năm của nhân loại Đức Chúa Trời đã thấy trước từ lúc khởi đầu. Ngài đã thấy trước sự phản bội của 1 trong các sứ đồ và đã tiên tri về điều đó. Đức Chúa Trời biết trước những quyết định và hành động của bạn, nhưng sự biết trước này không sắp xếp và ép buộc bạn làm như vậy, Ngài không can thiệp vào ý chí hoàn toàn tự do lựa chọn và hành động của bạn. Trong câu chuyện ở Cựu Ước về vua Pharaoh Đức Chúa Trời có phán: “Ta sẽ làm cho nó cứng lòng để…bày tỏ quyền năng Ta.” Không phải Đức Chúa Trời tác động một cách tiêu cực lên tấm lòng của Pharaoh, dường như tấm lòng của Pharaoh rất tốt, thiện lành và Đức Chúa Trời cố tình tác động xấu để biến nó thành xấu xa để làm thành ý muốn của Ngài về dân Do-thái. Ở đây chúng ta thấy bản thân Pharaoh thờ thần tượng, lòng của ông ta rất ác vì ông ta giết hại trẻ em sơ sinh của dân Do-thái, hành hạ họ vô lối. Như vậy “Ta sẽ làm cho nó cứng lòng” cần phải hiểu là: “Ta biết sự cứng lòng của nó lớn như thế nào, nhưng Ta sẽ tể trị và Ta có quyền năng sử dụng điều ác đó để làm vinh hiển Ta”.

Nếu chúng ta tin rằng Đức Chúa Trời tiền định số phận của mỗi người, thì chúng ta sẽ gặp phải vấn nạn gì? Theo đó thì một số người được chọn sẵn và không cần phải cố gắng gì cả, sống theo ý muốn và cuối đời kiểu gì cũng sẽ được vào Thiên đường. Còn một số khác được định sẵn cho sự hư mất, nên nếu họ cố gắng ăn năn và sống bởi đức tin đến mấy chăng nữa, thì cũng không được cứu. Thật là một sự nực cười! Đức Chúa Trời không phải là Đấng vô lý như vậy. Mặc dù Đức Chúa Trời là Đấng Toàn Năng, nhưng nếu tội nhân không tiếp nhận Chúa JESUS, Ngài cũng không thể làm gì được!

Do đó quyết định lựa chọn cá nhân của chúng ta rất quan trọng. Quyết định lựa chọn cá nhân điều khiển số phận và tương lai con người. Mỗi chúng ta trong từng thời điểm của cuộc đời luôn luôn đưa ra những quyết định và lựa chọn. Hôm nay chúng ta đến đây để thờ phượng Chúa, để nghe Lời Chúa. Không ai ép uổng. Nhưng chúng ta lựa chọn quyết định đó. Cầu xin Đức Chúa Trời ban phước cho lựa chọn đức tin của ace!

Tại sao Giu-đa lại quyết định phản Chúa? Sứ đồ Giăng nhìn thấy tiền đề đó. Giăng 12:6 “Người nói vậy, chẳng phải lo cho kẻ nghèo đâu, song vì người vốn là tay trộm cắp, và giữ túi bạc, trộm lấy của người ta để ở trong.” Giu-đa theo Chúa JESUS, nhưng tấm lòng của anh ta không yêu Chúa, anh ta sống với Chúa không thật lòng, không chân thành. Anh ta yêu tiền hơn, anh ta tham lam vật chất, địa vị xã hội, sự thành công và danh tiếng trong thế gian. Anh ta theo Chúa JESUS vì nghĩ rằng Chúa JESUS sẽ trở thành vua, và lợi dụng Ngài anh ta có thể trở thành ai đó trong bậc thang danh vọng. Vì toan tính đó anh ta đã từ bỏ tất cả, 3 năm trời ròng rã theo Chúa. Nhưng khi Chúa JESUS nhất quyết chết trên thập giá, anh ta cảm thấy thiệt thòi, những toan tính của anh ta, những khổ sở nhọc nhằn khi theo Chúa dường như vô ích, đổ sông đổ bể. Để vớt vát lại 1 chút, anh ta quyết định bán Thầy của mình lấy 30 đồng bạc (khoảng 6000 USD), là miếng mồi mà các thầy tế lễ đưa ra.

Thưa ace, nếu con cá ăn mồi, thì ai có lỗi? Sa-tan đưa ra miếng mồi nhử là 30 đồng bạc. Các môn đồ khác không cắn câu, nhưng Giu-đa đã cắn câu. Tại sao? Vì anh ta yêu tiền bạc. Chúng ta không thể nói rằng đó là do Đức Chúa Trời tiền định, do Đức Chúa Trời đã tiên tri trước. Ngài không sắp xếp để Giu-đa phản bội. Ngài cho phép điều đó xảy ra. Ngài không thể làm khác được vì Giu-đa vô cùng muốn cắn miếng mồi nhử 30 đồng bạc. Do đó sự phản bội của Giu-đa – là sự lựa chọn cá nhân của anh ta, là tội lỗi của anh ta.

Có một con người khác cũng phạm tội gần giống Giu-đa – đó là Phi-e-rơ. Ma-thi-ơ 26:33-35 “Phi-e-rơ cất tiếng thưa rằng: Dầu mọi người vấp phạm vì cớ thầy, song tôi chắc không bao giờ vấp phạm vậy. 34Đức Chúa Jêsus phán rằng: Quả thật, ta nói cùng ngươi, chính đêm nay, trước khi gà gáy, ngươi sẽ chối ta ba lần. 35Phi-e-rơ thưa rằng: Dầu tôi phải chết với thầy đi nữa, tôi chẳng chối thầy đâu. Hết thảy môn đồ đều nói y như vậy”. Phi-e-rơ chối Chúa 3 lần, phản bội lại Thầy của mình, thậm chí còn rủa Chúa JESUS “74Người bèn rủa mà thề rằng: Ta không biết người đó đâu!” (26:74). Trên thực tế tội lỗi của Phi-e-rơ còn nặng hơn Giu-đa.

Chúa JESUS ban cơ hội ăn năn cho cả Phi-e-rơ và Giu-đa… Nhưng sự khác nhau ở chỗ là Phi-e-rơ đã nắm lấy cơ hội và ăn năn, còn Giu-đa thì không. Ma-thi-ơ 26:75 “Phi-e-rơ nhớ lại lời Đức Chúa Jêsus đã phán rằng: Trước khi gà gáy, ngươi sẽ chối ta ba lần. Đoạn, người đi ra và khóc lóc cách đắng cay.” Phi-e-rơ nhìn thấy tội lỗi của mình, sự hèn hạ của mình “Tôi là một kẻ ghê tởm, một tên phản bội hèn mạt” – anh ta đã ăn năn cay đắng vì tội lỗi mình. Tục truyền là từ đó Phi-e-rơ không bao giờ ăn thịt gà nữa.

Còn Giu-đa thì làm gì? Ma-thi-ơ 27:5 “5Giu-đa bèn ném bạc vào đền thờ, liền trở ra, đi thắt cổ.

Sự khác nhau của Phi-e-rơ và Giu-đa ở chỗ nào? Tội lỗi của họ như nhau. Nhưng Phi-e-rơ có tấm lòng ăn năn, còn Giu-đa thì không. Sự ăn năn là ân điển vĩ đại mà Đức Chúa Trời ban cho loài người. Nhưng không dễ để ăn năn. Đối với một số người thà chết, thà xuống hoả ngục còn hơn là ăn năn. Giu-đa rất hối hận vì hành động của mình, nhưng sự hối hận đó không phải đến từ việc anh ta hiểu ra mình là tội nhân, mà là đến từ sự tự xưng công bình: anh ta tự trách bản thân “sao mà mình lại có thể làm như vậy được chứ?’, do đó anh ta không hạ mình xuống trước Chúa để xin Ngài ban sự tha thứ. Thay vì ăn năn, anh ta vứt trả lại 30 đồng bạc và chọn con đường tự tử.

Qua ví dụ của Giu-đa chúng ta cần phải học cho mình một tấm gương. Người vĩ đại trước Chúa không phải là người không bao giờ phạm tội, mà là người nhận ra tội lỗi của mình và hạ mình ăn năn.

Vì sao kết cục của Phi-e-rơ và Giu-đa lại khác nhau như vậy? Tại sao Phi-e-rơ ăn năn, còn Giu-đa thì không? Bởi vì Phi-e-rơ nhận được khải thị từ trên cao, còn Giu-đa không nhận được khải thị. Có 2 dạng khải thị vô cùng quan trọng mà mỗi người cần nhận được:

1/ Phi-e-rơ nhận được khải thị về bản thân: tôi là ai? Phi-e-rơ nhìn thấy mình thật là một tội nhân đáng trừng phạt đời đời dưới hoả ngục. Do đó anh có thể ăn năn. Còn Giu-đa không nhận được khải thị về bản thân, do đó anh ta không biết mình là ai. Anh ta vẫn cứ cho mình là người tốt, người tốt tự trả giá cho lỗi lầm của mình. Và anh ta tự tử để đền tội.

2/ Phi-e-rơ nhận được khải thị về Chúa JESUS: Ngài là ai? Do đó anh ta có thể đến trước mặt Chúa để ăn năn và nhận được sự tha thứ. Còn nếu Giu-đa mà biết Chúa JESUS là Đức Chúa Trời, thì chắc là anh ta không dám phản bội lại Ngài.

Nhưng ở đây có 1 câu hỏi: tại sao Đức Thánh Linh ban cho Phi-e-rơ sự khải thị, còn Giu-đa thì không? Vấn đề nằm ở tấm lòng. Phi-e-rơ thật lòng chân thành yêu Chúa JESUS, anh khao khát nhận biết Chúa. Mặc dù nền tảng tình yêu của anh đối với Chúa là không đúng, vì nó không đến từ ân điển Chúa, mà đó chỉ là cảm xúc con người. Nhưng việc Phi-e-rơ yêu Chúa là thật. Còn Giu-đa không có tấm lòng với Chúa. Anh ta yêu tiền, anh ta chỉ muốn lợi dụng Chúa.

Đi với Chúa chúng ta phải có tấm lòng. Chúng ta có thể phạm sai lầm, chúng ta có thể bị cám dỗ và phạm tội. Mặc dù chúng ta có phạm tội gì đi chăng nữa, nếu chúng ta ăn năn, Đức Chúa Trời luôn sẵn lòng tha tội. Nhưng người không có tấm lòng thì không có thuốc chữa. Do đó chúng ta phải luôn luôn tra xét lòng mình, đừng có láu cá giả dối trước mặt Chúa. Phải luôn luôn làm việc với tấm lòng, bắt phục nó để nó luôn hướng về Chúa.

Có 1 số người nói: “mục sư biết gì về lòng của tôi? Chỉ có Đức Chúa Trời mới biết lòng tôi thôi. Mặc dù bề ngoài tôi không bày tỏ, tôi không đi nhóm, không học Kinh thánh, nhưng lòng tôi vẫn luôn có Chúa”, nhưng họ vẫn cố tình phạm tội, thì đó là những người có tấm lòng láu cá, giả dối. Đó là một kẻ khinh lờn và báng bổ Chúa, vì họ cho rằng Đức Chúa Trời mù mắt, không nhìn thấy không biết tội lỗi của họ. Làm thế nào một người trong lòng có Chúa lại vẫn yêu tội lỗi và phạm tội? Dấu hiệu để nhận biết 1 người có tấm lòng với Chúa: đó là tấm lòng biết chân thành ăn năn trước Chúa, và mong muốn sống theo Lời Chúa, làm đẹp lòng Chúa. Ga-la-ti 6:7-8 nói “ 7Chớ hề dối mình; Đức Chúa Trời không chịu khinh dể đâu; vì ai gieo giống chi, lại gặt giống ấy. 8Kẻ gieo cho xác thịt, sẽ bởi xác thịt mà gặt sự hư nát; song kẻ gieo cho Thánh Linh, sẽ bởi Thánh Linh mà gặt sự sống đời đời.

Qua bài học ngày hôm nay chúng ta biết rằng mỗi chúng ta đều có khả năng trở thành Giu-đa Ích-ca-ri-ốt. Do đó chúng ta cần phải khiêm nhường về bản thân, và luôn tra xét lòng mình trước Lời Chúa, nhìn ra tội lỗi và ăn năn. Khi chúng ta chân thành ăn năn, thì Chúa sẽ ban quyền năng ân điển của Ngài để giúp chúng ta được tự do khỏi tội lỗi và có khả năng sống theo lời Ngài. Amen.

Be the first to comment

Leave a Reply