A-ĐAM, NGƯƠI Ở ĐÂU? (Sáng thế ký 3:1-24)

A-ĐAM, NGƯƠI Ở ĐÂU?

(SỰ SA NGÃ TỘI LỖI VÀ TÌNH YÊU THIÊN CHÚA)

Sáng thế ký 3:1-24

Câu khoá 3:9

Những tuần vừa qua chúng ta đã được học Sáng thế ký chương 1 và chương 2, chúng ta nhận được đầy dẫy sự vui mừng sự phấn khởi khi Chúa tạo dựng nên con người và phán thật rất tốt lành, và ban cho con người vườn Ê-đen là thiên đàng trên mặt đất. nhưng Sáng thế ký 3 là sự kiện buồn thảm nhất đau khổ nhất trong lịch sử nhân loại: vì cớ tội lỗi, loài người đã đánh mất mối tương giao với Đức Chúa trời. và đánh mất sự sống dời đời. nhưng tình yêu thương của Đức Chúa trời vẫn tiếp tục tìm kiếm và cứu tội nhân. Cầu xin Chúa mở mắt cho chúng ta để qua lời của Chúa ngày hôm nay chúng ta nhìn thấy được tình yêu thương vô hạn của Đức Chúa Trời, và để chúng ta nhận biết được tội lỗi của mình, ăn năn để nhận được sự tha tội và sự cứu rỗi đời đời. Amen!

  1. Sự suy đồi của loài người (1-13)

Chúng ta  cùng xem câu 1: “Vả, trong các loài thú đồng mà Giê-hô-va Đức Chúa Trời đã làm nên, có con rắn là giống quỉ quyệt hơn hết. Rắn nói cùng người nữ rằng: Mà chi! Đức Chúa Trời há có phán dặn các ngươi không được phép ăn trái các cây trong vườn sao?”.

Giấu mặt dưới lốt của con rắn là sa-tan. Kinh Thánh cho chúng ta biết có tồn tại thế giới tâm linh, và trong thế giới tâm linh tồn tại thế lực ác, thế lực của sự tăm tối là sa-tan và các tà linh, quỷ dữ. Sa-tan ma quỷ là ai? Ma quỷ không phải là các linh hồn của người chết.

Ê-xê-chiên 28:12-17: trước đây sa-tan đã từng là một thiên sứ sáng láng được xức dầu, đầy sự khôn ngoan, đẹp đẽ. Đức Chúa Trời tạo nên các thiên sứ để hầu việc Ngài. Nhưng thay vì tạ ơn Chúa vì những ân điển Chúa ban cho, thì nó trở nên kiêu ngạo.

Ê-sai 14:12-15: sa-tan trở nên quá kiêu ngạo và muốn trở thành Đức Chúa Trời.

Khải huyền 12:7-9: satan đã phản nghịch và cám dỗ 1/3 thiên sứ theo mình để chống lại Đức Chúa Trời và tiếm ngôi cho mình. Kết quả nó bị thất bại và bị trừng phạt. Bởi vì tạo vật không thể trở thành Đấng Tạo hóa được.

Chúng ta cùng xem lại câu 1a “có con rắn là giống quỉ quyệt hơn hết.” kinh thánh cho chúng ta nhìn thấy tính cách của Satan là quỉ quyệt. vậy thì quỉ quyệt có nghĩa là gì? Quỉ quyệt nghĩa là người có hai mặt nạ, để luôn luôn che đậy sự dối trá bên trong.

Giăng 8:44: Câu Kinh thánh này cho chúng ta  thấy bản chất thật của satan:

Thứ nhất nó là kẻ nói dối và là cha của sự nói dối. Mọi sự dối trá đều đến từ sa-tan. Vì vậy khi nói dối người ta trở thành con cái của ma quỉ.

Thứ hai nó là kẻ giết người. Mục đích của nó là giết người và bằng sự dối trá nó cám dỗ con người thông qua những ham muốn tội lỗi, để đưa con người đi đến sự chết đời đời.

Bằng sức người chúng ta  không thể nào chiến thắng được ma quỷ. Chúng ta  chỉ có thể chiến thắng nó bằng cách nhờ cậy, nương dựa vào Đức Chúa Trời toàn năng.

Chúng ta  cùng xem câu 1b: “ Rắn nói cùng người nữ rằng: Mà chi! Đức Chúa Trời há có phán dặn các ngươi không được phép ăn trái các cây trong vườn sao?”.

Điều đầu tiên nó làm là xuyên tạc Lời Chúa. Ngay trong câu hỏi này đã thể hiện sự dối trá quỷ quyệt hết sức tinh vi của ma quỉ. Trong Sáng 2:16-17 Đức Chúa Trời cho phép con người ăn mọi thứ cây trong vườn, nhưng ma quỷ vặn vẹo Lời Chúa, dường như Lời Chúa phán rằng Đức Chúa Trời không cho phép con người ăn trái các cây trong vườn. Rồi với một bộ mặt rất thơ ngây và thân thiện nó lại gần người nữ hỏi “có phải như vậy không?” Nó đặt ra một câu hỏi dối trá với mục đích để gieo sự nghi ngờ lời Chúa

Chúng ta xem câu 2,3 “Chúng ta  được ăn trái các cây trong vườn, 3 song về phần trái của cây mọc giữa vườn, Đức Chúa Trời có phán rằng: Hai ngươi chẳng nên ăn đến và cũng chẳng nên đá-động đến, e khi hai ngươi phải chết chăng”.

Chúng ta  cùng so sánh lời của người nữ và lời của Chúa.

Lời Chúa nói rằng “ngươi được tự do ăn hoa quả các thứ cây trong vườn.” Lời của người nữ “chúng ta được ăn trái các cây trong vườn.” Người nữ biến lời Chúa từ điều răn tuyêt đối trở nên tương đối một cách hời hợt. Chúa nói được tự do ăn, người nữ nói được ăn.

Tiếp theo lời Chúa nói rằng ”nhưng về cây biết điều thiện và điều ác”. Lời người nữ ”song về phần trái của cây mọc giữa vườn, Đức Chúa Trời có phán rằng.” Ở giữa vườn có hai cây: cây sự sống và cây biết điều thiện và điều ác. Người nữ biết lời Chúa không chính xác. Ở đây bày tỏ một thái độ qua loa, đại khái đối với lời Chúa.

Chúa phán “chớ hề ăn đến”. Đây là điều răn tuyệt đối. Lời người nữ “Hai ngươi chẳng nên ăn đến và cũng chẳng nên đá-động đến”. Giống như một lời khuyên. Người nữ thêm thắt vào “chẳng nên đá-động đến”. Ở đây bày tỏ một thái độ rất tùy tiện với Lời Chúa.

Chúa phán “một mai ngươi ăn chắc sẽ chết.” Lời Chúa khẳng định chắc chắn sẽ chết. Nhưng theo lời người nữ “e khi hai ngươi phải chết chăng.” Nghĩa là có khả năng sẽ chết, và cũng có khả năng không chết. Người nữ biến Lời tuyệt đối của Đức Chúa Trời trở nên tương đối.

Qua đây cho thấy nan đề của người nữ: thái độ của người nữ với lời Chúa hời hợt, tùy tiện, không kính sợ Chúa. Khi học Kinh Thánh với A-đam Lời Chúa đi vào bên tai phải và chui ra từ bên tai trái. Cô cũng lười viết sô-gam thu hoạch nên lời Chúa không nhập tâm.

Sa-tan ngay lập tức tận dụng điểm yếu này, nó tuyên bố sự dối trá với sự tự tin. Chúng ta xem câu 4-5 “Hai ngươi chẳng chết đâu; 5 nhưng Đức Chúa Trời biết rằng hễ ngày nào hai ngươi ăn trái cây đó, mắt mình mở ra, sẽ như Đức Chúa Trời, biết điều thiện và điều ác”. Nó cấy sự nghi ngờ về tình yêu của Đức Chúa Trời vào trong lòng người nữ rằng dường như Đức Chúa Trời sợ con người trở nên giống như Ngài nên cấm con người, tước đi tự do của con người. Nó cấy sự kiêu ngạo rằng mắt sẽ được mở ra sẽ giống như Đức Chúa Trời biết điều thiện và điều ác.

Ngày nay khi chúng ta đến với Chúa được Chúa ban cho không biết bao nhiêu tự do, tự do khỏi đời sống nô lệ của tội lỗi của rượu, bia, thuốc lá ma túy, của những tư tưởng hư vô… nhưng ma quỷ luôn luôn xuyên tạc rằng theo Chúa chúng ta  bị gò bó, mất tự do. Không còn được uống rượu, không còn được hút thuốc… nó khiến chúng ta nghĩ rằng tự do là phải làm theo những gì xác thịt mong muốn. Nhưng thực chất nếu sống cho ham muốn của xác thịt thì chính những ham muốn đó điều khiển chúng ta và chúng ta trở thành nô lệ cho nó. Sự tự do thật không phải như thế. Tự do thật đó là khi chúng ta được Đức Chúa Trời giải thoát và ban cho chúng ta tự do khỏi những ham muốn tội lỗi đó. Ngài biết điều gì đem lại lợi ích cho chúng ta và điều gì hủy hoại chúng Ta.

Chúng ta cùng xem câu 6 “Người nữ thấy trái của cây đó bộ ăn ngon, lại đẹp mắt và quí vì để mở trí khôn, bèn hái ăn, rồi trao cho chồng đứng gần mình, chồng cũng ăn nữa”.

Sa-tan đã thành công trong việc cám dỗ người nữ. Cô hái ăn “rồi trao cho chồng đứng gần mình, chồng cũng ăn nữa.” Khi con người phạm tội, thì trở thành công cụ trong tay của sa-tan, phản nghịch lại Đức Chúa Trời. Kinh Thánh cho thấy mục tiêu chính của satan ở đây là làm cho A-dam phạm tội, nó biết nó không thể cám dỗ được A-dam, vì thế nó thông qua người nữ bởi người nữ không nắm vững lời Chúa. Kế hoạch của nó rất tinh vi.

Vậy thì tại sao việc loài người ăn trái cấm lại là tội lỗi?

Bởi vì:

Thứ 1. Ăn trái cấm là phạm điều răn của Chúa.

Thứ 2. Hành động ăn trái cấm bày tỏ động cơ ẩn giấu bên trong A-đam: tự tôi xác định cái gì là thiện, cái gì là ác. Trước đây chỉ có Đức Chúa Trời mới có quyền xác định cái gì là thiện, cái gì là ác, chỉ có Ngài mới có quyền xác định mục đích sống và tiêu chuẩn sống cho con người. Hành động ăn trái cấm là một hành động phản loạn chống lại quyền làm vua của Đức Chúa Trời, đây là cuộc đảo chính tâm linh. Con người muốn tự tôi xác định tiêu chuẩn sống, mục đích sống cho tôi, và không ai có quyền quản tôi nữa. Tôi không phải sống theo lời của Chúa. Hành động đó bảy tỏ sự phản loạn chống lại Đức Chúa Trời, đó chính là tội lỗi. Đó là bản chất của satan và nó muốn con người cũng làm điều đó giống như nó.

Chuyện gì đã xảy ra với con người sau khi ăn trái cấm?

Chúng ta cùng xem câu 7 “Đoạn, mắt hai người đều mở ra, biết rằng mình lõa lồ, bèn lấy lá cây vả đóng khố che thân.”

Lời hứa của satan không thành hiện thực, bởi vì sự dối trá không bao giờ có thể đứng vững được. Trước đây khi sống trong vinh hiển của Đức Chúa Trời con người không có ý niệm về tội lỗi và điều ác. Nhưng ngay sau khi phạm tội hậu quả đến ngay lập tức:

  • Thứ nhất họ đánh mất vinh hiển của Đức Chúa Trời, mắt họ mở ra với tội lỗi và điều ác. Họ thấy mình lõa lồ và hổ thẹn. Thứ hai họ rơi vào sự sợ hãi, lo lắng, bất an. Ngày nay cũng vậy mỗi khi phạm tội, ai nấy đều cảm thấy hổ thẹn, day dứt, bất an. Đó là hậu quả của tội lỗi.

Chúng ta cùng xem tiếp câu 8 “Lối chiều, nghe tiếng Giê-hô-va Đức Chúa Trời đi ngang qua vườn, A-đam và vợ ẩn mình giữa bụi cây, để tránh mặt Giê-hô-va Đức Chúa Trời”.

Có một điều kì diệu ở vườn Ê-đen là hàng ngày Đức Chúa Trời đến để tương giao với con người, qua đó đem đến niềm vui, mọi sinh lực, sức sống cho con người. Hạnh phúc thật của con người là nằm ở điều này.

Lần này cũng như thường lệ, Chúa đến, nhưng A-đam và Ê-va trở nên bất thường, vì tội lỗi làm cho con người trở nên sợ hãi hoảng loạn, mất sự tương giao mật thiết với Chúa, thay vì chạy ra mừng rỡ đón tiếp Chúa, thay vì vui mừng, cảm tạ, ca ngợi, thờ phượng Ngài thì họ lại sợ hãi trốn tránh.

Chúng ta  cùng đọc câu 9 “Giê-hô-va Đức Chúa Trời kêu A-đam mà phán hỏi rằng: Ngươi ở đâu?”

Đức Chúa Trời là Đấng toàn năng. Ngài biết rõ ông đang ở đâu, và phạm tội như thế nào. Nếu như muốn trừng phạt NGÀI không cần phải tìm kiếm A-dam. Nhưng câu hỏi A-dam ngươi ở đâu là một lời kêu gọi để A-dam nhận thức được tình trạng tội lỗi, ý thức sự hư mất, lầm lạc của chính mình mà biết ăn năn, thì tội lỗi sẽ được xóa và thiên đường lại tiếp tục. Đức Chúa Trời không trừng phạt, hay bỏ rơi con người. Mà Ngài đến một cách nhẹ nhàng và tế nhị để kêu gọi con người quay trở lại ăn năn. Câu hỏi “ngươi ở đâu?” là câu hỏi của tình yêu thương tha thứ vô điều kiện của Đức Chúa Trời đối với tội nhân.

Chúng ta cùng xem câu 10 “A-đam thưa rằng: Tôi có nghe tiếng Chúa trong vườn, bèn sợ, bởi vì tôi lõa lồ, nên đi ẩn mình.”

A-đam không ăn năn, nhưng lại cố tình che giấu tội lỗi của mình. Đây là thái độ khinh lờn Chúa, vì A-đam cho rằng thậm chí Chúa cũng không biết tội lỗi của ông ta.

Chúng ta cùng xem câu 11 “Đức Chúa Trời phán hỏi: Ai đã chỉ cho ngươi biết rằng mình lõa lồ? Ngươi có ăn trái cây ta đã dặn không nên ăn đó chăng?”

Đức Chúa Trời đương nhiên biết chuyện gì đã xảy ra, nhưng Ngài lại tiếp tục cho A-đam thêm một cơ hội nữa để ăn năn. Câu hỏi của Ngài chỉ thẳng vào tội lỗi, nhưng lại rất tế nhị. Qua đây chúng ta  lại thấy một khía cạnh khác của tình yêu của Đức Chúa Trời đối với tội nhân: Ngài nhịn nhục, chịu đựng tội nhân, với hy vọng họ ăn năn để được cứu rỗi.

Chúng ta cùng xem câu 12 “Thưa rằng: Người nữ mà Chúa đã để gần bên tôi cho tôi trái cây đó và tôi đã ăn rồi.”

A-dam không dám nhìn thằng vào tội lỗi của mình. Ông trả lời Chúa rằng ”người nữ mà Chúa đã để gần bên tôi cho tôi trái cây đó và tôi đã ăn rồi”. Thay vì ăn năn, ông tự bào chữa, tự xưng công bình. Ông đổ thừa cho Chúa, và đổ thừa cho người nữ.

Nhưng Đức Chúa Trời cho chúng ta nhìn thấy một phương cách khác, chỉ có ăn năn mới giải thoát chúng ta khỏi tội lỗi, và đó là phương cách duy nhất.

  1. Thế gian bị rủa sả (14-19)

Chúng ta cùng xem câu 15 ” Ta sẽ làm cho mầy cùng người nữ, dòng dõi mầy cùng dòng dõi người nữ nghịch thù nhau. Người sẽ giày đạp đầu mầy, còn mầy sẽ cắn gót chân người.”

Câu 15 này được gọi là “tiền Tin lành”. Khi A-dam từ chối ăn năn, và tự bào chữa cho mình, Đức Chúa Trời ngay lập tức đã có kế hoạch cứu rỗi loài người. Câu kinh thánh này như một lớp kính mờ cho chúng ta biết được kế hoạch của Ngài. Thường Kinh Thánh chỉ nói về dòng dõi người nam. nhưng câu Kinh Thánh này nói về dòng dõi người nữ. Chúa Jesus đến thế gian này bởi nữ đồng trinh Ma-ry, Ngài không có người cha xác thịt như mỗi chúng ta. Ngài được sinh ra bởi Đức Chúa Trời, qua năng lực của Đức Thánh Linh trong lòng trinh nữ Ma-ri. Vì thế, Ngài hoàn toàn là người, nhưng không thuộc về dòng dõi của A-dam, mà thuộc về dòng dõi của Ê-va, mà Kinh Thánh gọi là dòng dõi người nữ. Do đó Ngài không kế thừa gien di truyền tội nhân của A-đam, Ngài không có bản chất của tội nhân, Ngài là con người thánh khiết duy nhất. Tất cả mọi người đều chết do tội lỗi của mình, nhưng Chúa Jesus không có tội, nên cái chết của Ngài là chết thế: Ngài thế chỗ cho chúng ta , cho bạn và tôi. Khi Chúa Jesus đến thế gian này chết trên thập tự giá, và Ngài phục sinh vào ngày thứ 3 đã giải thích rõ ràng cho câu Kinh Thánh này “Người sẽ giày đạp đầu mầy, còn mầy sẽ cắn gót chân người.”

Kế hoạch của Đức Chúa Trời là Chúa Jesus đến và Ngài là con đường duy nhất đem chúng ta đến sự cứu rỗi.

Kinh Thánh một lần nữa cho thấy tình yêu thương nhịn nhục của Đức Chúa Trời đối với tội nhân. Ngài có một kế hoạch cho con người đi đến sự cứu rỗi ngay sau khi con người phạm tội và không nhận tội.

Chúng ta cùng xem câu 16 “Ngài phán cùng người nữ rằng: Ta sẽ thêm điều cực khổ bội phần trong cơn thai nghén; ngươi sẽ chịu đau đớn mỗi khi sanh con; sự dục vọng ngươi phải xu hướng về chồng, và chồng sẽ cai trị ngươi.”

Trước đây với người nữ sanh con là sứ mệnh là niềm vui, và phước hạnh, nhưng bây giờ sanh con phải chịu đau đớn, mà đau đẻ là sự đau đớn nhất. “Sự dục vọng ngươi phải xu hướng về chồng, và chồng sẽ cai trị ngươi.”  Bởi người nữ tự ý quyết định ăn trái cấm vì thế nên từ đây Chúa đặt để trật tự người đàn ông sẽ là chủ của gia đình, mọi quyết định phải thông qua người đàn ông.

Chúng ta cùng xem câu 17-19 “Ngài lại phán cùng A-đam rằng: Vì ngươi nghe theo lời vợ mà ăn trái cây ta đã dặn không nên ăn, vậy, đất sẽ bị rủa sả vì ngươi; trọn đời ngươi phải chịu khó nhọc mới có vật đất sanh ra mà ăn. 18 Đất sẽ sanh chông gai và cây tật lê, và ngươi sẽ ăn rau của đồng ruộng; 19 ngươi sẽ làm đổ mồ hôi trán mới có mà ăn, cho đến ngày nào ngươi trở về đất, là nơi mà có ngươi ra; vì ngươi là bụi, ngươi sẽ trở về bụi”.

Đối với A-dam sự rủa sả là đánh mất sứ mệnh và sống chỉ để kiếm miếng ăn. Con người dù có tài giỏi đến đâu cũng không thoát được sự rủa sả. “bụi trở vè bụi “ ở đây nói về sự chết. Đây là sự rủa sả kinh khủng nhất giáng lên loài người, không ai thoát được khỏi sự chết.

Chúng ta  cùng xem tiếp câu 20 “A-đam gọi vợ là Ê-va, vì là mẹ của cả loài người.”

Bắt đầu từ câu 3:20 A-dam mới gọi vợ là E-va. E-va có nghĩa là sự sống là mẹ của cả loài người. A-dam biết rằng bởi tội lỗi của ông sự rủa sả giáng xuống loài người. Con người là bụi sẽ trở về với bụi và để phục hồi lại sự sống đời đời chỉ qua dòng dõi người nữ. đây là niềm hy vọng của ông. và bắt đầu từ thời điểm đó loài người phân hóa ra hai nửa: dòng dõi của con rắn và dòng dõi của người nữ. Lịch sử loài người là lịch sử cuộc đấu tranh giữa dòng dõi của con rắn và dòng dõi của người nữ.

 

Chúng ta  cùng xem câu 21Giê-hô-va Đức Chúa Trời lấy da thú kết thành áo dài cho vợ chồng A-đam, và mặc lấy cho”.

Chúng ta xem lại câu 7 “Đoạn, mắt hai người đều mở ra, biết rằng mình lõa lồ, bèn lấy lá cây vả đóng khố che thân.”  Khi thấy mình lõa lồ, A-đam và vợ đã làm gì? Chúng ta thấy A-đam cùng vợ mở ra một xưởng may, kinh doanh công nghiệp thời trang, may lá vả để che đi sự lõa lồ. Hành động của A-đam và E-va ở đây tượng trưng cho hành động của tôn giáo. Con người nhận ra sự lõa lồ của mình trước mặt Chúa, nên họ lấy lá cây vả che sự lõa lồ của tội lỗi. Lá cây vả của con người làm không thể nào che đậy được sự lõa lồ của tội lỗi. Nhưng câu 21 cho chúng ta biết về ân điển, về Tin lành của Đức Chúa Trời. Tin lành là con người không phải cố gắng, không phải nỗ lực, mà chính Đức Chúa Trời đã giết con sinh tế, đổ huyết con sinh tế ra. Ngài lấy da con sinh tế, tự tay may áo dài, và tự Ngài mặc cho chúng ta. Đây cũng chính là hình ảnh Chúa Jesus đã đổ huyết trên thập tự giá thay cho tội lỗi của chúng ta. Duy nhất chỉ có chính Ngài mới che đi sự lõa lồ đó.

Chúng ta cùng nhau đọc lại câu 9 “Giê-hô-va Đức Chúa Trời kêu A-đam mà phán hỏi rằng: Ngươi ở đâu?” Câu hỏi “A-dam ngươi ở đâu?” là câu hỏi của tình yêu thương tha thứ đối với tội nhân, Ngài không muốn trừng phạt tội nhân nhưng muốn tha tội.

Ngày nay loài người vẫn cứ tiếp tục trốn dưới những bụi cây tránh khỏi mặt Đức Chúa Trời. Người ta trốn dưới những bụi cây của tôn giáo, của sự tự xưng công bình, người ta nghĩ “tôi là người tốt làm được nhiều điều thiện, tôi cũng cố gắng hướng thiện tu nhân tích đức. tôi không làm điều gì ác nên khi chết có lẽ tôi sẽ được lên Thiên đường, nên tôi không cần đến Chúa Jesus”.

Một số người thì trốn khỏi mặt Chúa dưới bụi cây của tiền bạc, sự giầu có vật chất và sự hào nhoáng của thế gian. họ nghĩ rằng họ có trong tay vài “cục” sống trong ngôi nhà rộng rãi, ngồi trong những chiếc ô-tô lexus, khoác lên mình những bộ quần áo hàng hiệu, sử dụng Iphone 6s… và người ta nghĩ rằng đời mình là tiên rồi, cần gì đến Chúa.

Một số người thì trốn tránh dưới bụi cây có tên gọi tình yêu lãng mạn, người ta mơ ước tìm được một “soái ca” của đời mình và với họ đó là thiên đường không cần đến Chúa.

Một số người trốn tránh dưới bụi cây của công việc. Mỗi lần Chúa đến gọi họ “ngươi ở đâu, hãy đến Hội Thánh để học lời Chúa”. Họ trả lời Chúa rằng “tôi bận lắm, không có thời gian.”

Có người trốn dưới bụi cây của đam mệ xem phim đặc biệt những bộ phim dài tập của Hàn quốc những chuyện tình tay ba lắt léo, thấm đẫm nước mắt, hoặc là đam mê nhạc đời, hoặc đam mê thể thao.

Một số người thì trốn dưới bụi cây của mặc cảm tội lỗi, mặc cảm tự ti ko dám đến với Chúa.

Một số người trốn dưới bụi cây của số phận, tủi thân, họ thường than thân trách phận: “Trời ơi tại sao lại để tôi sanh ra trong một gia đình như vậy, bố nghiện rượu, mẹ bỏ đi xa, anh trai suốt ngày hù dọa đánh tôi”. Và để trả thù đời họ rơi vào con đường manh động, nghiện hút.

Ngày hôm nay Đức Chúa Trời đến với mỗi cá nhân chúng ta và Ngài hỏi “ngươi ở đâu” để chúng ta nhận biết mình đang trốn dưới bụi cây nào để bước ra khỏi đó ăn năn xưng tội và nhận món quà cứu rỗi từ Ngài.

Cảm tạ ơn Chúa vì lời kêu gọi của Ngài đã đến trên đời sống của tôi. Hoàng thế Mạnh “con ở đâu?” Ngài đã tìm kiếm, kêu gọi và giải thoát tôi khỏi vũng bùn của tội lỗi. Ngài đã đưa tôi từ nơi tối tăm, u mê lầm lạc. sang nơi sáng láng lạ lùng của Ngài. Lời Ngài cho tôi nhận biết được mình là tội nhân kinh khủng, tôi ăn năn và dâng đơi sống tôi cho Ngài. Giờ đây Tôi đã tìm thấy chân lí, Đức Chúa Trời là nguồn của sự sống, là nguồn của tình yêu thương. Chỉ có trong Ngài mới bảo đảm, chắc chắn sẽ dẫn chúng ta đi đến sự sống đời đời. Amen!

Câu hỏi “ngươi ở đâu?” là câu hỏi quan trọng nhất trong cuộc đời của chúng ta, bởi vì câu hỏi này sẽ xác định số phận đời đời của mỗi chúng ta. Tôi cầu nguyện xin Chúa ban phước cho anh chị em để thật sự nhận biết được mình đang ở đâu, và bước ra trước mặt Chúa, ăn năn xưng tội với Ngài để nhận được sự tha tội và sự sống đời đời. Amen!

Be the first to comment

Leave a Reply