PHẢI TRẢI QUA NHIỀU KHÓ KHĂN MỚI VÀO ĐƯỢC NƯỚC ĐỨC CHÚA TRỜI (CUỘC TRUYỀN GIÁO THỨ NHẤT) Công vụ chương 14

 

Câu khóa 14:22 “giục các môn đồ vững lòng, khuyên phải bền đỗ trong đức tin, và bảo trước rằng phải trải qua nhiều nỗi khó khăn mới vào được nước Đức Chúa Trời.

Trong bài học lần trước chúng ta đã học về việc các Sứ đồ bắt đầu rao giảng Tin Lành cho dân ngoại.

Trước hết hai sứ đồ, Phaolô và Barnaba, cùng với Giăng là Mác, là người họ hàng với Barnaba, từ Antioch xứ Syria, xuống thuyền sang đảo Cyprus. Đảo này có tên là Cyprus, có nghĩa là “đồng”, vì ngày xưa người ta tìm ra được mỏ đồng trên đảo này, và đã khai thác đồng từ thời cổ. Ở đây họ giảng trong hội đường Do thái tại Salamin.

Sau đó hai sứ đồ đi dọc theo duyên hải phía nam của đảo, tới cảng Paphos, cũng là thủ phủ của quốc đảo Ciprus, nằm tậm mỏm phía tây của đảo, cách Salamin chừng 150 cây số. Nơi đây có cơ quan hành chánh của La-mã. Vì thế mới có dinh của quan thống đốc Sergius Paulus! Tại nhà thống đốc này, các sứ đồ gặp một phù thuỷ, tên Do thái là “Bar Giêsu” (có nghĩa là “con của Giêsu”) còn tên Hy lạp là Elyma. Phaolô la mắng ông phù thuỷ này một trận và ra lệnh cho ông mù mắt. Ông ta bị mù ngay lập tức. Thống đốc Sergio Paulus tin theo đạo!

Kế tiếp, hai sứ đồ vượt biển đến Bẹt-giê (Perge) xứ Pamphilia, khoảng 8 dặm cách cửa sông Cestrus, Thổ Nhĩ Kỳ. Perge nằm sâu trong đất liền 8 cây số và nằm phía đông, cách hải cảng Attalia 18 cây số. Lúc này, Giăng Marcus, anh em họ của Barnabas, rời bỏ đoàn, một mình trở về Giêrusalem. Dường như vì nhớ nhà, nhớ Giêrusalem, rồi Phaolô bị bệnh buộc cả đoàn phải thay đổi lộ trình. (Công vụ 13:13)

Còn lại hai sứ đồ, ngược xuôi vùng cao nguyên đầy đồi núi xứ, nhiều sơn tặc và thác ghềnh cheo leo. Mục tiêu của họ là Antioch xứ Bi-si-đi (Pisidia), cách Perge bảy ngày đường (Công vụ13:14). Thành phố Antioch quan trọng này nằm án ngữ trên con đường giao thương giữa Ephêsô và vùng Lưỡng hà (sông Euphrates). Dân cư ở đây là một tập hợp gồm nhiều sắc tộc: Roma, Hylạp, Do thái, và người Phrygia .

Tại Antioch, Phaolô có một bài giảng quan trọng. Nội dung của những điều rao giảng ban đầu, chủ yếu chỉ nói về sự kiện phục sinh của Chúa Jesus. Đại khái các sứ đồ công bố như sau: “Chúa Jesus, rabbi người làng Nazareth, mà các ông đã giết trên thập tự. Ngài đã sống lại vào ngày thứ ba. Chúng tôi là những người làm làm chứng đây. Vì sau khi sống lại. Ngài đã hiện ra cho chúng tôi!”

Hai sứ đồ lưu lại Antioch Pamphilia khá lâu cho đến lúc “Lời Chúa lan tràn khắp miền ấy.” Cho đến khi người Do thái bắt đầu kiếm chuyện, họ xúi giục người ngoại chống lại khiến hai sứ đồ phải rời sang Y-cô-ni. Y-cô-ni cách Antioch chừng 100 cây số, và cũng nằm trong vùng cao nguyên miền nam Thổ nhĩ kỳ. Ngày nay Iconi mang tên Konya.

Chúng ta xem câu 14:1 “Tại thành Y-cô-ni, Phao-lô và Ba-na-ba cùng vào nhà hội của người Giu-đa, và giảng một cách đến nỗi có rất nhiều người Giu-đa và người Gờ-réc tin theo. 2Song những người Giu-đa chưa chịu tin thì xui giục và khêu chọc lòng người ngoại nghịch cùng anh em.”. Cứ nơi nào Tin Lành được rao ra, thì nơi đó có nhiều người tin theo. Đó là sức ảnh hưởng của Tin Lành. Chúng ta xem Roma 1:16 “vì Tin Lành là quyền phép của Đức Chúa Trời để cứu mọi kẻ tin”. Nhưng cứ khi nào Đức Thánh Linh làm việc mạnh mẽ, thì cũng xuất hiện sự đối kháng đến từ ma quỷ. Tại đây, các sứ đồ cũng bị người Do thái sách nhiễu. Họ phải tạm lánh sang thành Lystra, cách đó 18 dặm.

Lystra là một thành của người Lamã vào khoảng năm 6 trước Công Nguyên. Dân chúng nghèo, ít học. Đa số là người Lycaonie, có ngôn ngữ riêng. Họ không nói tiếng hy-lạp hay la-mã. Tại đây có một phép lạ xảy ra.

Chúng ta xem câu 8-10 “8Nơi thành Lít-trơ có một người liệt chân, què từ lúc mới sanh ra, chẳng hề đi được. 9Người ngồi và nghe Phao-lô giảng. Phao-lô chăm mắt trên người, thấy có đức tin để chữa lành được, 10bèn nói lớn tiếng rằng: Ngươi hãy chờ dậy, đứng thẳng chân lên. Người nhảy một cái, rồi đi.” Chúng ta cùng xem làm thế nào mà phép lạ chữa lành đã xảy ra. Phaolô làm 3 việc:

1/ rao giảng Tin Lành

2/ nhìn nhận thấy đức tin của người què

3/ nói người què đứng dậy

Người què cũng làm 3 việc:

1/ nghe Phaolô giảng

2/ có đức tin vào Lời Chúa qua bài giảng

3/ vâng phục, đứng dậy và đi.

Mới lần đầu đọc, thì có nhiều người sẽ thốt lên: “Ồ, sứ đồ Phaolô giỏi quá, đã chữa lành cho người què bẩm sinh”. Tuy nhiên chúng ta xem xét kỹ thì thấy rằng không phải Phaolô chữa lành, mà chính người què đã có đức tin để được chữa lành siêu nhiên. Từ đâu mà ông ta có đức tin lớn như vậy? Câu 9 nói “Người ngồi và nghe Phao-lô giảng.” Phaolô giảng cái gì? Câu 7 nói “giảng Tin lành”. Phaolô giảng về Chúa Jesus, về sự phục sinh, rằng Tin Lành là quyền phép của Đức Chúa Trời để cứu mọi kẻ tin. Nếu chúng ta muốn có đức tin, thì chúng ta cần phải “bền lòng giữ lời dạy của các sứ đồ”. Khi Phaolô thấy người què có đức tin, thì quả quyết công bố lời đức tin.Và phép lạ xảy ra.

Dân Lystra tưởng hai sứ đồ là thần linh đội lốt phàm, xì lồ xì lào bằng tiếng địa phương, định dâng hoa tổ chức tế bò cho hai sứ đồ. Hai sứ đồ khi hiểu ra được sự tình, thì hết hồn, phải xé áo trước mặt họ mà la to phân bua: “Hỡi các bạn, các bạn làm gì thế này? Chúng tôi đây cũng chỉ là người phàm, giống như các bạn.” Đám dân chúng Lystra thất vọng. Thần mà không vâng lời dân chúng thì dân chúng bắt thần phải vâng lời vậy. Những người Do thái từ Antioch và Iconi, cũng tìm tới đây, xúi giục đám đông Lystra. Họ ném đá ông Phao-lô rồi lôi ông ra ngoài thành, vì tưởng ông đã chết, rồi bỏ đi. Đó là sự nực cười của đám đông: mấy phút trước họ quỳ lạy tung hô, giờ đây họ lại ném đá “thần tượng”đến chết. Khi tỉnh lại Phaolô đi đến Derbé cách đó 60 cây số, ngay biên giới vùng Galatia .

Sau khi rao giảng ở đây thì các sứ đồ tuần tự, đi ngược trở về các thành đã đi qua, Lystra, Icôni, Antioch, qua Pisiđia, Pamphylia, Perge. Về lại tới đâu, các sứ đồ củng cố đức tin cho những tân tín hữu ở đó, truyền chức thêm các trưởng lão giám mục chăm sóc các Hội thánh mới lập. Chúng ta xem câu 22 “giục các môn đồ vững lòng, khuyên phải bền đỗ trong đức tin, và bảo trước rằng phải trải qua nhiều nỗi khó khăn mới vào được nước Đức Chúa Trời.” Chúng ta phải xác định rõ ràng rằng hành trình đức tin không dễ dàng. Phải có khó khăn thử thách. Việc chúng ta huấn luyện kỷ luật bản thân để tuyệt đối dâng ngày chủ nhật cho Chúa, mỗi tuần học Kinh Thánh một lần và viết sogam thu hoạch, mỗi buổi sáng và buổi tối tĩnh nguyện, và phàm làm việc gì thì làm vì vinh hiển Chúa. Đó là ân điển để chúng ta giữ được sự cứu rỗi. Chúa Jesus phán rằng “Nếu ai muốn theo ta, phải liều mình, vác thập tự giá mình mà theo ta. 35Vì ai muốn cứu sự sống mình thì sẽ mất; còn ai vì cớ ta và đạo Tin Lành mà mất sự sống, thì sẽ cứu.” (Mac 8:34-35) Ma-thi-ơ 7:13-14 “Hãy vào cửa hẹp, vì cửa rộng và đường khoảng khoát dẫn đến sự hư mất, kẻ vào đó cũng nhiều. 14Song cửa hẹp và đường chật dẫn đến sự sống, kẻ kiếm được thì ít.

Xuống tới cảng Attalia, từ cảng này các sứ đồ đi thuyền về lại Antioch bên Syria, kết thúc một chuyến đi truyền giáo đầu tiên. Toàn bộ chuyến đi kéo dài chừng ba năm, từ khoảng năm 45 đến năm 49.

Qua bài học về chuyến truyền giáo đầu tiên của Phaolô và Banaba chúng ta thấy được những điểm trọng tâm như sau:

1/ các sứ đồ chỉ rao giảng Tin Lành về Chúa Jesus và sự phục sinh của Ngài.

2/ cứ nơi nào Tin Lành được rao giảng, nơi đó sẽ có sự phấn hưng, sẽ có những người đã được định sẵn cho sự sống đời đời, đều tin theo.

3/ cứ nơi nào Đức Thánh Linh làm việc mạnh mẽ, nơi đó sẽ xuất hiện sự chống đối Tin Lành. Chúng ta thường không thấy công việc của Đức Chúa Trời, mà chỉ thấy công việc của ma quỷ, gặp sự chống đối, rồi sợ hãi. Nhưng hãy biết rằng sự chống đối mạnh mẽ là dấu hiệu Đức Chúa Trời đang làm việc rất mạnh. Do đó đừng sợ hãi, thối chí, mà cần vững tin, bền chí. Tin Lành của Chúa Jesus sẽ chiến thắng tất cả! Chúng ta cần phải bằng đức tin vượt qua các khó khăn, vì “phải trải qua nhiều nỗi khó khăn mới vào được nước Đức Chúa Trời”.

Cầu xin Chúa ban sức và đức tin cho tất cả anh chị em chúng ta. Amen.

Be the first to comment

Leave a Reply