SỰ THÔNG CÔNG CƠ ĐỐC
1 Giăng 1:1-10
Câu khóa 1:3
- Anh chị biết gì về Trí huệ thuyết là học thuyết đã phá hoại hội thánh đầu tiên? Tại sao Trí huệ thuyết là tà giáo?
Thư thứ nhất của John được viết ở Ê-phê-sô ngay sau năm 100. Lúc này niềm hứng khởi ban đầu đã lắng xuống, niềm tin đã trở thành một thứ gì đó quen thuộc, truyền thống và thờ ơ. Vì tình trạng này, trong Hội thánh xuất hiện những người coi các tiêu chuẩn mà Cơ đốc giáo đưa ra là gánh nặng nhàm chán. Khi niềm vui và sự nhiệt tình ban đầu nguội lạnh, việc cưỡng lại các cám dỗ thế gian và của văn hóa thế tục ngày càng trở nên khó khăn hơn. Cần lưu ý rằng trong Thư thứ nhất của John không có dấu hiệu nào cho thấy hội thánh mà ông viết thư phải chịu sự bắt bớ. Mối nguy hiểm nằm ở sự cám dỗ đến từ bên trong. Bức thư đầu tiên của John không nhằm vào kẻ thù bên ngoài đang cố gắng phá hủy đức tin Cơ đốc, mà là chống lại những người muốn mang lại cho Cơ đốc giáo vẻ ngoài của trí thức thế tục. Họ muốn làm cho giáo lý Cơ đốc giáo phù hợp với triết học thế tục và tư duy hiện đại.
Vào thời điểm này, thế giới Hy Lạp bị chi phối bởi một thế giới quan được biết đến dưới cái tên chung là Trí huệ thuyết – Gnosticism. Gnosticism cho rằng chỉ có tâm linh là tốt, và vật chất là xấu xa. Những người theo Gnosticism tin rằng tâm linh con người, hạt giống của Chúa, là tất cả đều tốt, bị giam cầm trong cơ thể, giống như trong một nhà tù. Và do đó mục đích của cuộc sống là giải phóng hạt giống thiêng liêng bị giam cầm trong cơ thể xấu xa, độc ác. Phương tiện để đạt được sự giải thoát nầy là trí huệ (gnosis) hay tri thức, hiểu biết đặc biệt và nghi lễ được thiết kế cẩn thận, chỉ có người ở “vòng trong” theo thuyết Gnosticism thực thụ mới được truyền cho bí quyết giải thoát đó.
Người Trí huệ thuyết phủ nhận lẽ thật về sự nhập thể và nhân tính của Chúa Jesus. Lý luận của họ là, Chúa Giê-xu là Đấng thần linh (tốt) không thể nào mang thân xác con người là điều xấu. Tà thuyết này được thể hiện dưới hai hình thức. 1. Trường phái phổ biến hơn được gọi là Docetism, có thể dịch là chủ nghĩa ảo tưởng. Động từ tiếng Hy Lạp dokein có nghĩa là “có vẻ như”. Những người theo thuyết Docetism cho rằng Chúa Jesus chỉ có vẻ như mang thân xác con người, là một thực thể hoàn toàn mang tính tâm linh với chỉ một thân xác ảo ảnh. 2. Nhưng một phiên bản tinh vi và nguy hiểm hơn để phủ nhận Chúa Giê-xu mang thể xác con người là tà thuyết Cerinthianism, do Cerinthus chủ trương trong thế kỷ thứ nhất, cho rằng, “linh Christ” dưới hình dạng chim bồ câu đã chỉ nhập vào “con người Giê-xu” lúc Chúa chịu báp-têm nước và “linh” đó rời khỏi con người Giê-xu lúc Ngài chịu đóng đinh. Đây cũng là tà thuyết của Nestorius trong thế kỷ thứ năm, nhằm phân biệt “con người Giê-xu” (xác thịt) với “Christ” (thần linh).
Thái độ của những người theo thuyết Gnosticism đối với vật chất và mọi thứ vật chất cũng quyết định thái độ của họ đối với cơ thể họ và mọi bộ phận của nó. Điều này có ba hình thức.
1.Đối với một số người, điều này dẫn đến khổ hạnh, ăn chay, đi tu, lánh đời, độc thân, tự chủ nghiêm ngặt và thậm chí cố tình đối xử khắc nghiệt với cơ thể. Những người theo thuyết Gnosticism bắt đầu ủng hộ việc độc thân hơn là kết hôn và coi sự gần gũi về thể xác là tội lỗi. Quan điểm này vẫn còn được nhiều người ủng hộ cho đến ngày nay. 2. Những người khác cho rằng cơ thể không có ý nghĩa gì cả, thân xác dù sao cũng sẽ hư hoại và là vật chứa của tội lỗi, nên cách một người đối xử với xác thịt của mình cũng không quan trọng và do đó người ta có thể thỏa mãn mọi ham muốn và sở thích của mình mà không có giới hạn. Vì thế người Trí huệ có thể sống luông tuồng, thác loạn, nhưng đến cuối tâm linh vẫn cứ được cứu vì đã đạt được trí huệ gnosis. 3. Ngoài ra còn có một loại thứ ba. Một người theo thuyết Gnosticism thực thụ coi mình là một người hoàn toàn có tâm linh, như thể họ đã rũ bỏ mọi thứ vật chất và giải phóng tinh thần khỏi những ràng buộc của vật chất. Những người theo thuyết Gnosticism dạy rằng họ rất thuộc linh đến mức vượt lên trên tội lỗi và đạt được sự hoàn thiện về mặt tâm linh. Giăng nói về họ như nói về những kẻ tự lừa dối mình, tuyên bố rằng họ không có tội lỗi (1 Giăng 1:8-10). Bất kể hình thức nào của Trí huệ thuyết đều có những hậu quả cực kỳ nguy hiểm.
Trí huệ thuyết đặc biệt nguy hiểm ở thái độ đối xử với con người, dẫn đến sự phá hủy tình anh em Cơ đốc giáo. Những người theo thuyết Gnosticism muốn giải thoát tâm linh khỏi nhà tù của thể xác thông qua kiến thức phức tạp mà chỉ những người đã được khai sáng mới có thể hiểu được. Rõ ràng là không phải ai cũng có được kiến thức như vậy: những người bình thường quá bận rộn với công việc và các vấn đề thế tục hàng ngày đến nỗi họ không có thời gian để nghiên cứu và tuân thủ các quy tắc cần thiết, và ngay cả khi họ có thời gian, nhiều người cũng sẽ không có đủ khả năng tâm linh để hiểu được những điều khoản mà những người theo thuyết Gnostics đưa ra trong giáo lý của họ. Và điều này tất yếu dẫn đến thực tế là con người được chia thành hai hạng người – những người có khả năng sống một cuộc sống tâm linh thực sự và những người không có khả năng này.
Và do đó, những người theo thuyết Gnosticism chia con người thành hai nhóm: những người có năng lực tâm linh và những thường nhân xác thịt. Kết quả của cách tiếp cận này khá rõ ràng: những người theo thuyết Gnosticism đã hình thành nên một dạng quý tộc thuộc linh, coi thường và thậm chí căm ghét những người anh chị em kém cỏi hơn mình. Những người theo thuyết trí huệ coi người thường là những sinh vật trần tục bị khinh miệt và không có khả năng hiểu được tôn giáo chân chính. Hậu quả của việc này một lần nữa là sự phá hủy tình anh em Cơ đốc giáo. Vì vậy, trong suốt bức thư, John nhấn mạnh rằng dấu hiệu thực sự của Cơ đốc giáo là tình yêu thương đối với anh chị em. “Nhưng nếu chúng ta bước đi trong sự sáng… chúng ta có sự thông công với nhau” (1 Giăng 1:7). “Ai nói mình ở trong sự sáng mà ghét anh em mình thì vẫn còn ở trong bóng tối” (2:9-11). Bằng chứng cho thấy chúng ta đã vượt qua sự chết đến sự sống là tình yêu thương của chúng ta dành cho anh chị em mình (3:14-17). Dấu hiệu của Cơ đốc giáo đích thực là đức tin vào Chúa Giêsu Christ và tình yêu thương lẫn nhau (3:23). Thiên Chúa là tình yêu, ai không yêu thương thì không biết Thiên Chúa (4:7,8). Thiên Chúa yêu thương chúng ta, vì thế chúng ta cũng phải yêu thương nhau (4:10-12). Điều răn của Giăng nói rằng ai yêu Chúa thì cũng phải yêu anh em mình, nhưng ai nói mình yêu Chúa mà ghét anh em mình thì là kẻ nói dối (4:20,21). Nói một cách thẳng thắn, theo quan điểm của những người theo thuyết Gnosticism, dấu hiệu của niềm tin chân chính là sự khinh thường những người bình thường; Ngược lại, John khẳng định trong mỗi chương rằng dấu hiệu của niềm tin chân chính là tình yêu thương dành cho tất cả mọi người.
Hội thánh hiện đại có thể có sự phân chia giai tầng thuộc linh thành hàng chức sắc giáo phẩm (các mục sư, trưởng lão, chấp sự, …) và những Cơ đốc nhân thường dân. Có thể có biểu hiện kiêu ngạo thuộc linh và khinh thường anh em mình.
- Hãy đọc câu 1-2. Tác giả là ai? Ông biết gì về Chúa Jesus là Đức Chúa Trời và là người (Giăng 1:1-3; 13:23)?
Giăng là một nhân chứng sống: ông đã “nghe”, “nhìn thấy”, “ngắm” (xem xét), “sờ”. Tác giả đã từng sống và đi với Ngài 3 năm. Ông đã từng chứng kiến sự chết, sự chôn, sự phục sinh và sự thăng thiên của Chúa Jesus. Ông viết về Chúa Jesus là một thực thể, 100% con người hoàn toàn bằng xương thịt, nhưng Ngài cũng là 100% Đức Chúa Trời có sự sống đời đời.
- Hãy đọc câu 3. Koinonia hay là “thông công” nghĩa là gì? Hội thánh đầu tiên đã có sự thông công như thế nào (Công vụ 4:32-35)?
Ngày nay người ta có khái niệm sai lầm về từ này. Sự thông công thật không chỉ là có mặt tại các buổi thờ phượng. Sự thông công không có nghĩa là trò chuyện, nói với nhau dăm ba câu chuyện phiếm.
Một số người cho rằng thông công mang tính xã hội, giao lưu. Họ nghĩ rằng thông công là cùng ngồi uống trà ăn bánh với nhau, hay là có những mối quan hệ vui vẻ. “Thông công” bây giờ thường được dùng để ám chỉ những cuộc trò chuyện, giao tiếp, ăn uống và vui chơi. Câu hỏi là, “Bạn thông công ở đâu?” có nghĩa là “Bạn đi nhà thờ nào?” “Hãy ở lại để thông công” thường có nghĩa là “Xin chờ đến giờ trà đàm.” Bạn có thể ngồi cả ngày với một người ngoại, tốt bụng, thông minh lịch thiệp, vui vẻ với người đó, nhưng đó không phải là thông công.
Đó là có mối liên hệ mật thiết với nhau, quan tâm săn sóc chia sẻ đời sống với nhau trong tình yêu thương, thực hành “sống đạo” với nhau. Nó là kinh nghiệm cuộc sống với nhau. Nó bao hàm những mạng lệnh yêu thương không vị kỷ, chân thành chia sẻ, tập thói quen phục vụ, ban cho hy sinh, yên ủi cảm thông, và mọi mạng lệnh “lẫn nhau” khác trong Thánh Kinh Tân Ước.
Sự thông công Cơ đốc là điều nhất định phải có trong vòng anh em. Một người nói “tôi tin Chúa, có mối liên hệ với Chúa”, thì phải có mối thông công với anh em mình.
Có 3 yếu tố quan trọng tạo nên sự thông công của anh em trong Hội thánh.
1/ Để có mối thông công với anh chị em, thì người đó phải biết Đức Chúa Cha và Chúa Jesus (tái sanh). Có chung một bản chất mới, nhờ sự tái sanh.
2/ Nhờ có chung một giáo lý của Kinh thánh về chân lý. Chúng ta có thể không đồng ý với nhau ở những điểm khác biệt nhỏ, nhưng đồng ý với nhau ở những câu hỏi lớn quan trọng. Cơ đốc nhân có thể nói bằng nhiều ngôn ngữ, nhưng về Tin Lành thì họ chỉ nói bằng một ngôn ngữ.
3/ Yếu tố thứ 3 – sự tin cậy và cởi mở chân thành. Đây là điều kiện bắt buộc để xây dựng mối thông công chân thành. Sự thông công Cơ đốc – nói ngắn gọn là sống yêu thương và chân thành.
- Câu 5-7 dạy chúng ta điều gì về cuộc sống Cơ đốc? “Đi trong sự sáng” và “đi trong sự tối tăm” nghĩa là gì? Điều gì cản trở sự thông công Cơ đốc? Làm thế nào chúng ta có thể xây dựng sự thông công Cơ đốc với nhau?
Trong các câu 5-10 Giăng đề cập đến 3 dạng nói dối.
Câu 5: Đức Chúa Trời là sự sáng, cho nên trong Ngài không có sự tối tăm. Sự tối tăm luôn thù nghịch với Chúa và cố gắng để bao trùm sự sáng, nhưng sự sáng luôn mạnh hơn sự tối tăm. Ai giao thông với Ngài , là giao thông với sự sáng, lẽ đương nhiên người đó không có sự tối tăm.
Người giao thông với sự sáng, mà vẫn đi trong sự tối tăm, là kẻ nói dối. Những người tự nhận mình có trình độ thuộc linh đặc biệt cao, biết nhiều kiến thức thần học, nhưng vẫn tiếp tục bước đi trong sự tối tăm thì không hành động theo lẽ thật. Trong Tân Ước, chân lý (lẽ thật) không phải là sự khám phá ra những chân lý trừu tượng, mà là một cách sống cụ thể; Không chỉ là suy nghĩ, mà là hành động. Thật thú vị khi lưu ý những từ được sử dụng trong Tân Ước cùng với từ lẽ thật. Tân Ước nói về việc đầu phục lẽ thật (Rô-ma 2:8; Ga-la-ti 3:7); hành động theo lẽ thật (Ga-la-ti 2:14; 3 Giăng 4); về sự chống đối lẽ thật (2 Ti-mô-thê 3:8); về việc đi chệch khỏi lẽ thật (Gia-cơ 5:19). Nói và làm là 2 lĩnh vực khác nhau, nhưng trong Cơ đốc giáo, phải là đồng nhất.
Câu 6-7: Trong văn mạch tiếp theo của Thư 1 Giăng, “đi trong sự sáng” có nghĩa là yêu thương anh chị em mình và có mối thông công với anh em mình. Còn “đi trong sự tối tăm” cụ thể là “không yêu thương, ghét anh em mình” (2:9-11), không có mối thông công với anh chị em mình. Người xưng mình là Cơ đốc nhân mà lại ghét anh chị em mình là kẻ nói dối.
Câu 7b: khi chúng ta yêu thương nhau, thông công với nhau, thì có một quyền năng huyền nhiệm hành động: huyết báu của Chúa Jesus thánh hóa và thanh tẩy chúng ta. Nhiều tội lỗi dần đánh mất sức cám dỗ với chúng ta. Nhân cách của chúng ta trở nên ngày càng giống Chúa hơn.
- Hãy đọc câu 8-10. Chúng ta cần phải xử lý tội lỗi cản trở mối tương giao của chúng ta với Đức Chúa Trời và với anh chị em khác như thế nào? (8,10) Chúng ta nhận được lời hứa gì của Đức Chúa Trời? (9)
Câu 8: Là những người Trí huệ cho mình là thiêng liêng, siêu thuộc linh, vô tội. Trong Hội thánh đó là những người giống người pha-ri-si thích tự xưng công bình, nói mình thánh khiết, không phải là tội nhân.
Câu 10: là những người nói rằng điều tôi làm không phải là tội. Ví dụ họ nói chúng tôi yêu nhau, quan hệ tình dục của chúng tôi là tình yêu, Giấy chứng nhận kết hôn chỉ là một tờ giấy vô nghĩa. Những lời này sẽ biến điều răn của Chúa “ngươi chớ phạm tội tà dâm” thành lời dối trá.
Câu 9: chúng ta cần phải đứng trước sự sáng Chúa, và công nhận “những hành động của tôi là tội lỗi, kể cả những việc làm tốt của tôi”, công nhận “tôi là một tội nhân không ra gì, khủng khiếp, đáng chết và đáng bị trừng phạt đời đời dưới hỏa ngục”. Khi đó chúng ta ăn năn, xưng tội mình, và nhận lấy sự công bình mà Chúa Jesus ban cho. Quyền năng huyết Chúa sẽ tha tội và tẩy sạch chúng ta khỏi tội lỗi.
Trong phân đoạn câu 5-10 có 2 động từ “làm sạch”. Câu 9 khi chúng ta ăn năn xưng tội thì huyết Chúa tẩy sạch những tội lỗi cũ, những sai phạm trong quá khứ, cứu chúng ta khỏi bản án. Câu 7 khi chúng ta sống thông công với nhau, huyết Chúa cứu chúng ta khỏi ảnh hưởng của tội lỗi, thay đổi bản chất và nhân cách, làm cho các trái quả Thánh Linh được đậu trong chúng ta. Và một cách tự nhiên (siêu nhiên) chúng ta không còn yêu tội lỗi nữa, chúng ta sống một đời sống mới thánh khiết.
Khi anh chị em tất cả đều đứng trước Chúa ăn năn, xưng tội mình, thì sẽ khiêm nhường hạ mình, không còn đoán xét anh em mình, không lên mình kiêu ngạo. Một bầu không khí như vậy sẽ xây dựng một mối thông công chân thành.
Leave a Reply
Bạn phải đăng nhập để gửi phản hồi.