Niên đại các bản văn Cựu Ước, cuộn giấy da Biển chết…

(Lược theo Những chứng cớ không thể chối cãi, Josh McDowell)

Những cuộn giấy của Biển chết là bằng chứng sự tin cậy của Cựu Ước

Một trong những vấn đề nghiêm trọng nhất của phê bình bản văn Kinh Thánh lần đầu tiên được đưa ra bởi ông Frederick Kenyon. “Liệu bản văn Hê-bơ-rơ cổ mà chúng ta đã biết và gọi tên là Masoretic, được tổng hợp lại 100 năm sau CHÚA GIÊ-XU có phải là một bản chép tay cính xác của văn bản Hê-bơ-rơ cổ mà được viết bởi các tác giả Cựu Ước hay không?!”

Những cuộn giấy của Biển chết (Dead Sea Scrolls) cho câu hỏi này một câu trả lời đồng thuận rõ ràng.

Trước sự phát hiện ra Những cuộn giấy của Biển chết đã không còn chỗ cho sự nghi ngờ về tính chính xác của các văn bản còn tồn tại đến thời chúng ta so với các văn bản của thế kỷ thứ nhất, bởi vì các văn bản hiện tại là kết quả của vô số lần chép lại.

Vậy những cuộn giấy của biển chết là gì?

Những cuộn giấy đó gồm có hơn 40 nghìn đoạn văn, mà theo đó hơn 500 cuốn sách được phục hồi. Từ khi phát hiện ra các cuộn bản thảo Biển Chết vào những năm 1947 tới 1956 thì các cuộc khai quật được mở rộng tại Qumran. Sau đó gần 900 cuộn sách (tiếng Anh “scroll”) được tìm thấy – phần lớn viết trên giấy da, một số khác viết trên giấy cói.

Trong số đó – rất nhiều không hề có liên quan đến những sách và đoạn của Kinh Thánh, những thông tin đã soi sáng về cuộc sống của cộng đồng tôn giáo ở Qum-ran. Các tác phẩm như “Tài liệu sadokit”, “Quy tắc của cộng đồng” và “Hướng dẫn sử dụng về sự vâng phục” để giúp chúng ta hiểu được những mục đích của cuộc sống hàng ngày tại Qum-ran. Trong một số hang động đã tìm thấy được nhiều sự giải thích quý báu cho Kinh Thánh.

Các cuốn sách của biển chết được tìm thấy như thế nào?

Ở đây tôi xin trích dẫn Ralph Earle, người miêu tả một cách sống động và đầy đủ về lịch sử phát hiện các cuộn giấy của Biển chết:

“Lịch sử của phát hiện này đã trở thành một trong những huyền thoại hấp dẫn nhất của thời đại chúng ta. Vào tháng Hai hoặc tháng Ba năm 1947, một cậu bé chăn cừu tên là Muhammed đã tìm kiếm một con dê bị lạc mất. Ném một hòn đá vào một khe đá trên bờ tây của Biển Chết, tám dặm về phía nam của thành Giê-ri-cô, cậu vô cùng ngạc nhiên khi nghe thấy tiếng vỡ của bình gốm. Cậu leo lên hẻm núi và phát hiện một quang cảnh gây chấn động. Trên nền của hang động có nhiều bình lớn, mà bên trong đó là những cuộn giấy được bọc bằng vải lanh. Bởi vì những bình đó được niêm phong rất cẩn thận nên chúng vẫn ở trong tình trạng rất tốt trong vòng gần 1900 năm (Chúng đã được đặt trong hang động chính xác vào năm 68 sau CHÚA GIÊ-XU).

Năm trong số các cuộn được tìm thấy trong hang số 1, được công bố là đã được mua lại bởi Tổng Giám Mục Chính Thống Giáo Syria của một tu viện ở Jerusalem. Còn 3 cuộn đã được Giáo sư Sukenik của Đại học Do Thái ở Jerusalem mua lại.

Việc phát hiện ra các cuộn giấy lúc đầu không tạo ra bất kỳ chấn động nào. Trong tháng 11 năm 1947, hai ngày sau khi mua ba cuộn giấy và hai bình, Giáo sư Sukenik viết trong nhật ký của mình: “Có thể đây là một trong những phát hiện vĩ đại nhất trong lịch sử của Palestine”. Tuy nhiên những lời này vào thời gian đó không được công bố.

May mắn thay, vào tháng Hai năm 1948, Đức Tổng Giám Mục, người không am hiểu tiếng Hebrew, gọi điện cho Viện Nghiên cứu phương Đông của Mỹ ở Jerusalem để thông báo về các cuộn giấy da. Bởi sự may mắn trùng hợp, quyền giám đốc viện nghiên cứu tại thời điểm đó là một học giả trẻ tuổi tên là John Trever, một nhiếp ảnh nghiệp dư giỏi. Anh sốt sắng và cẩn thận chụp lại từng cột của cuộn giấy sách Êsai, dài 7,3 mét và rộng 25 cm.

Anh đã cho in và gửi bằng máy bay tới đại học  Johns Hopkins cho Tiến sĩ  Albright, người được công nhận là  đứng đầu trong lĩnh vực khảo cổ học và chuyên gia về Kinh Thánh của Mỹ. Trong thư trả lời, cũng gửi bằng bưu điện qua máy bay Albright, đã viết: “Với cả tấm lòng, tôi chúc mừng với những khám phá vĩ đại nhất của những bản viết tay cổ, được thực hiện trong thời đại của chúng ta! … Thật là một phát hiện không thể tin được! May mắn thay, không thể có sự nghi ngờ về tính xác thực của các bản viết tay này. Anh đã mang đến những phát hiện của 100 năm trước CHÚA GIÊ-XU”.

Trever mang lại một trích dẫn từ Albright: “Không có nghi ngờ rằng các font chữ của các bản thảo cổ xưa hơn cả trong thủ bản Nesh… Tôi cho rằng nó có vào khoảng 100 năm trước CHÚA GIÊ-XU.”

Ý nghĩa của các cuộn giấy ở Qum-ran Biển chết.

Các bản văn Kinh thánh trọn bộ bằng tiếng Do-thái cổ nhất được tìm thấy có niên đại khoảng 900 năm sau Chúa và sau đó. Làm thế nào mà có thể không nghi ngờ tính xác thực của các văn bản từ thời CHÚA GIÊ-XU, tức là, từ năm 32? Nhờ khảo cổ học và các cuộn giấy da Biển chết, chúng ta có sự tự tin cần thiết. Một trong những cuộn da được tìm thấy là bản văn trọn vẹn bằng tiếng Do-thái cuốn sách Tiên tri Ê-sai (Isaiah). Các nhà khoa học xác định niên đại của nó vào khoảng 125 năm trước Chúa. Thủ bản này cổ hơn 100 năm so với bất kỳ bản văn nào được biết trước đây.

Giá trị chính của phát hiện này ở chỗ bản văn cuốn tiên tri Ê-sai (125 năm trước CHÚA GIÊ-XU) giống hệt với bản văn Masoret (916 năm sau CHÚA GIÊ-XU), nhờ đó chứng minh tính chính xác đáng kinh ngạc của việc sao chép  Kinh Thánh trong vòng hơn 1.000 năm.

“Trong số 166 từ trong chương 53 Ê-sai chỉ có 17 chữ cái có nghi vấn. Mười trong số đó là cách đọc khác nhau về chính tả và không ảnh hưởng đến ý nghĩa. Bốn trong số đó là sự thay đổi trong phong cách nhỏ (chẳng hạn như sự tồn tại của các giới từ). Cuối cùng, ba chữ cái còn lại tạo thành chữ “sự sáng”, thêm vào trong câu 11, không quá thay đổi ý nghĩa của văn bản. Hơn nữa, sự tồn tại của từ này ở đây được khẳng định bởi những phân đoạn khác trong sách tiên tri Ê-sai. Như vậy, trong chương này, bao gồm 166 từ được tìm thấy chỉ có một từ của ba chữ cái, gần như không thay đổi ý nghĩa của cả đoạn – và đó là sau một ngàn năm của việc sao chép lại các bản văn “.

Bruce viết: “Cuộn giấy sách Ê-sai, được phát hiện cùng lúc với cuộn đầu tiên trong hang động Qum-ran 1 được gọi là “Ê-sai B”, chỉ cho chúng ta sự tương đồng gần gũi với các bản văn Masoret.”

Gleason Archer chỉ ra rằng các bản văn của Sách Tiên Tri Ê-sai được sử dụng trong cộng đồng Kum-ran, “giống với văn bản hiện đại của Kinh Thánh đến hơn 95%. 5% còn lại chủ yếu bao gồm các các lỗi chính tả và các cách viết khác nhau của câu chữ.”

Séptuagintus, là bằng chứng về tính xác thực của văn bản Kinh Thánh bằng tiếng Do-thái

Người Do Thái phân tán trên toàn thế giới cần Thánh Kinh bằng ngôn ngữ phổ biến nhất của thời đó. Bản Septuagintus (từ có nghĩa là “70” và thường được viết tắt bằng cách sử dụng chữ số La Mã LXX – tên gọi đã được đặt cho bản dịch tiếng Hy Lạp của Kinh Thánh Do-thái được thực hiện dưới thời vua Ai Cập Pharaoh Ptolemy Philadelphus (285-246 BC).

Bruce cho chúng ta biết chuyện  thú vị về nguồn gốc của tên gọi này. Nói về bức thư của Aristeas, quan cận thần của Pharaoh Ptolemy, gửi cho anh trai của ông Philokrates, được cho rằng  đã viết khoảng 250 trước CHÚA (trên thực tế, có lẽ, khoảng 100 năm trước CHÚA), Bruce đã viết: “Ptolemy là một người bảo hộ nổi tiếng của văn học. Chính thư viện lớn của Alexandria được thành lập dưới sự cai trị của ông, mà trong vòng 900 năm là một trong những kỳ quan văn hóa của thế giới. Bức thư kể về việc là Demetrius người Falerum, là người coi giữ thư viện của Ptolemy, đã làm cho Pharaoh quan tâm đến luật pháp của người Do Thái và khuyên ông gửi một phái đoàn đến thầy tế lễ thượng phẩm Ê-le-a-sar ở Jerusalem. Thầy thượng tế đã chọn ra sáu trưởng lão từ mỗi một trong mười hai chi tộc Do-thái làm các dịch giả và gửi họ tới Alexandria, trao cho họ bản văn  Torah bằng giấy da đặc biệt chính xác và đẹp.

Các trưởng lão được đón tiếp theo nghi lễ của hoàng gia. Sau khi chứng minh sự khôn ngoan uyên bác của họ trong các cuộc tranh luận, họ chuyển đến sống tại một ngôi nhà trên đảo Pharos (nơi có ngọn hải đăng nổi tiếng). Trong vòng bảy mươi hai ngày họ đã hoàn thành việc dịch Ngũ Kinh sang tiếng Hy Lạp, sau khi thảo luận và so sánh họ tạo thành một bản văn dịch đồng nhất.

Các bản văn của bản Bảy Mươi rất gần với bản văn Masoret (năm 916) còn tồn tại đến ngày nay. Điều này giúp đảm bảo độ tin cậy của việc truyền tải Kinh Thánh suốt 1.300 năm qua. Sự khác biệt lớn nhất giữa bản Bảy Mươi và các bản văn Masoret được tìm thấy trong các cuốn sách của Jeremiah.

Bản Bảy Mươi, cũng như trích dẫn từ Kinh Thánh trong sách ngụy thư chứng minh rằng bản văn tiếng Do-thái hiện đại là hầu như giống hệt với các bản văn trước 300 năm trước CHÚA.

Trong cuốn sách rất hữu ích của mình “Giới thiệu chung về Kinh Thánh” Haisler và Nike liệt kê danh sách bốn giá trị quan trọng của bản Bảy Mươi.

1/ Trong khi được những người Do Thái ở Alexandria sử dụng, nó làm giảm khoảng cách giữa những người nói tiếng Do-thái và tiếng Hy Lạp.

2/ Bản Bảy Mươi đóng vai trò như một cây cầu bắc qua vực thẳm giữa Cựu Ước của người Do Thái và những Cơ đốc nhân nói tiếng Hy-lạp, là những người sử dụng nó cùng với bản Tân Ước bằng tiếng Hy-lạp của mình.

3/ Nó đóng vai trò như như là một tiền lệ cho các nhà truyền giáo, những người đã tìm cách để dịch Kinh Thánh sang các ngôn ngữ và thổ ngữ khác nhau.

4/ Sự trùng hợp của bản Bảy mươi với bản văn của Kinh Thánh tiếng Do-thái mang ý nghĩa tài liệu văn bản vô cùng to lớn.

Be the first to comment

Leave a Reply