SƠ LƯỢC LỊCH SỬ THẾ GIỚI

SƠ LƯỢC LỊCH SỬ THẾ GIỚI

Khoảng 2400 năm TCN xảy ra nạn Đại hồng thủy, cả thế gian bị chìm ngập dưới nước lụt. Chỉ còn lại gia đình của Nô-ê còn sống sót nhờ Chiếc tàu. Sau khi nước rút, Chiếc tàu bị vướng vào núi A-ra-rat ở địa phận Thổ-nhĩ-kỳ. Cả gia đình Nô-ê ra khỏi tàu và bắt đầu sinh sôi nảy nở.

2400-1400 năm TCN. Sáng thế ký chương 10 kể Nô-ê có 3 đứa con. Con út là Gia-phết rời khỏi gia đình đầu tiên và di cư sang địa phận của Châu Âu ngày nay. Hậu duệ của Gia-phết là người da trắng, tóc vàng mắt xanh. Họ phát triển mạnh trong lĩnh vực khoa học kỹ thuật và triết học.

Con cả là Sem là người di cư sau cùng. Hậu duệ là người da vàng. Vì Sem là con cả kế thừa sự thờ phượng trong gia đình, cho nên người da vàng mạnh về lĩnh vực tôn giáo và tâm linh.

Con thứ là Cham. Hậu duệ của Cham có màu da đen, họ di cư về địa phận châu Phi. Họ mạnh về thể chất.

Cham sanh con trai là Cúc và Mích-ra-im. Mích-ra-im là ông tổ của người Ai-cập, họ lưu trú ở lưu vực sông Nil, và phát triển thịnh vượng, trở thành một đế quốc hùng mạnh trong thời cổ đại – là Đế quốc Ê-díp-tô.

Một trong những con trai của Cúc, cháu của Cham, là Nim-rốt, là một chiến sỹ rất hung bạo và mạnh. Ông ta người đầu tiên dùng sức mạnh chế ngự và bắt người khác thần phục mình, có thể nói ông là người đầu tiên trong lịch sử thiết lập ra sự cai trị quân chủ. Ông sáng lập ra Vương quốc Ba-by-lôn cổ đại ở vùng đồng bằng Si-nea, với tháp Ba-bên nổi tiếng. Nơi đây là nơi các nhà khảo cổ tìm thấy nền văn minh Su-mer với nhiều đồ gốm nung. Ông cũng sáng lập ra vương quốc A-si-ri với thủ phủ là thành Ni-ni-ve.

1400 TCN Vương quốc A-si-ri với thủ phủ là Ni-ni-ve bắt đầu phát triển mạnh. 1100-1000 TCN bị suy yếu bởi người Canh-đê và Babylon. Đế quốc Tân-Assyria là một đế quốc của người Lưỡng Hà, phát triển trong giai đoạn lịch sử bắt đầu từ 934 TCN và kết thúc năm 609 TCN, và được một số nhà khảo cổ cho rằng là đế chế Cường Quốc thế giới đầu tiên trong lịch sử nhân loại.  Trong suốt thời kỳ này, Assyria được xem như là thế lực hùng mạnh nhất trong khu vực, tranh đua cùng với Babylon và các thế lực nhỏ hơn khác cho sự thống trị ở khu vực này. Dù vậy, cho tới khi vua Tiglath-Pileser III đề xướng cải cách trong thế kỷ 8 TCN, họ mới trở thành một quốc gia hùng mạnh và rộng lớn. Vào thời kì trung vương quốc, cuối thời đại đồ đồng, Assyria chỉ là một quốc gia nhỏ bé ở phía bắc của Lương Hà (miền bắc Iraq ngày nay), cạnh tranh quyền thống trị miền nam Lưỡng Hà với thế lực khác là Babylon.

900 TCN Vương quốc Canh-đê xứ A-ram với thủ phủ là thành U-rơ trở nên cường thịnh bắt đầu dọc khu vực Lưỡng hà sông Tiger và Eupherat. Người Canh-đê chiếm cứ phía nam vùng Babylon.

Khoảng 630-620 TCN A-si-ri bị chia ra làm 3-4 vùng. Vào năm 627 TCN cuộc khởi nghĩa của người Canh-đê dưới sự lãnh đạo của Nabopolassar đã đánh tan quân Asiri và lên ngôi năm 626 TCN, lập nên Vương quốc Ba-by-lôn mới (Iraq ngày nay). Sau khi Nabopolassar chết năm 605, thì hoàng tử Nebukadnezar II lên ngôi (Giê-rê-mi 27:6). Ông cai trị cho đến khi chết vào năm 582 TCN (Đa-ni-ên 4:30-36).

625 TCN Vua Ê-díp-tô là Pharaoh Nê-cô điều quân đánh nhau với Babylon ở trận  Cát-kê-mít nổi tiếng. Hoàng tử Nebukadnezar đã thắng (Giê-rê-mi 46:2). Sau đó trên đà chiến thắng ông càn quét cả Si-ry và Palestin.

624 TCN Nebukadnezar đến Jerusalem lần đầu bắt vua Giê-hô-gia-kim (628-618) triều cống. 3 năm sau Giê-hô-gia-kim phản loạn. Nebukadnezar đến Jerusalem lần 2 (Đanien 1:2; Giê-rê-mi 22:18-19). Con trai là Giê-hô-gia-kin làm vua 3 tháng và đầu hàng vào năm 617 TCN (2 Các vua 24:10-15).

539 TCN chỉ trong một đêm 5/6 tháng 10 Mê-đi Phe-rơ-sơ dưới quyền của Si-ru lật đổ Babylon. Khoảng 200 năm trước Ê-sai đã tiên tri về điều này (Ê-sai 13:1-17; 21:1-9; 44:27-45:7,13).

Lúc đó Đa-ri-us người Mê-đi và Si-ru người Phe-rơ-sơ đồng cai trị. Vương quốc này tồn tại khoảng 200 năm dưới triều của 12 vị vua. (Phe-rơ-sơ hay Persian là địa phận Iran ngày nay.)

VUA SI-RU MỘT VỊ VUA KHOAN DUNG

Một nhà văn Hy Lạp vào thế kỷ 5 TCN hồi tưởng đến ông như một vị vua khoan dung và lý tưởng. Trong Kinh Thánh, ông được gọi là “người xức dầu” của Đức Chúa Trời, là “chim ó” đến “từ phương đông”. (Ê-sai 45:1;46:11) Vị vua được nói đến chính là Si-ru Đại Đế của Phe-rơ-sơ.

Bước đường danh vọng của Si-ru bắt đầu khoảng năm 560/559 TCN khi ông kế vị cha ông là Cambyses I làm vua ở Anshan, một thành hay một tỉnh ở Phe-rơ-sơ cổ xưa. Vào lúc đó, Anshan nằm dưới sự đô hộ của Vua Mê-đi là Astyages. Trong cuộc nổi dậy chống lại sự cai trị của người Mê-đi, Si-ru đạt được chiến thắng nhanh chóng vì quân của Astyages đứng về phía ông. Rồi ông chiếm được lòng trung thành của người Mê-đi. Sau đó, quân Mê-đi và Phe-rơ-sơ thống nhất dưới quyền lãnh đạo của ông. Vì thế sự cai trị của Mê-đi Phe-rơ-sơ hình thành và cuối cùng lãnh thổ của nước này bành trướng từ Biển Aegea tới Sông Ấn Hà.

Với lực lượng Mê-đi và Phe-rơ-sơ hợp nhất, Si-ru trước tiên bắt tay vào việc dành lấy quyền kiểm soát một cứ điểm gây nhiều rắc rối; đó là vùng phía tây của Mê-đi, nơi Vua Croesus người Lydia đang mở mang lãnh địa lấn vào lãnh thổ Mê-đi. Đem quân tiến về biên giới phía đông của Đế Quốc Lydia ở Tiểu Á, Si-ru đánh bại Croesus và chiếm được thủ đô Sardis. Rồi Si-ru chiếm các thành của người Ionia và sáp nhập toàn vùng Tiểu Á vào lãnh địa của Đế Quốc Mê-đi Phe-rơ-sơ. Bởi vậy ông trở thành kẻ thù số một của nước Ba-by-lôn và Vua Na-bô-nê-đô của nước này.

Rồi Si-ru chuẩn bị đối đầu với Ba-by-lôn hùng mạnh. Và kể từ lúc này trở đi, ông có vai trò trong sự ứng nghiệm của lời tiên tri của Kinh Thánh. Gần hai thế kỷ trước đó, qua nhà tiên tri Ê-sai, Đức Giê-hô-va đã bổ nhiệm Si-ru làm vua để lật đổ Ba-by-lôn và giải phóng người Do Thái khỏi phu tù. Chính vì sự tiền bổ nhiệm này mà Kinh Thánh gọi Si-ru là “người xức dầu” của Đức Giê-hô-va. (Ê-sai 44:26-28)

Khi tiến đánh thành Ba-by-lôn vào năm 539 TCN, Si-ru phải đối phó với một việc vô cùng khó khăn. Thành được bao bọc bởi những bức tường cao lừng lững và một hào sâu và rộng do sông Ơ-phơ-rát tạo nên. Thành này có vẻ không thể nào thất thủ được. Tại nơi mà sông Ơ-phơ-rát chảy qua Ba-by-lôn, người ta xây một bức tường cao như núi với các cổng khổng lồ bằng đồng dọc theo bờ sông. Làm thế nào Si-ru có thể chiếm được thành Ba-by-lôn?

Trước đó hơn một thế kỷ, Đức Giê-hô-va đã tiên tri một “sự hạn-hán ở trên các dòng nước nó” và Ngài cũng nói “nó  đều bị cạn-khô”. (Giê-rê-mi 50:38) Lời tiên tri thật đúng; Si-ru đã rẽ nước Sông Ơ-phơ-rát khoảng vài cây số về phía bắc Ba-by-lôn. Rồi đạo quân của ông lội qua lòng sông, leo lên dốc hướng đến tường thành, và xâm nhập thành một cách dễ dàng vì các cổng bằng đồng đều bỏ ngỏ. Giống như “chim ó” chụp mồi chớp nhoáng, vị vua “từ phương đông” này đã chiếm được thành Ba-by-lôn trong một đêm!

Đối với người Do Thái ở Ba-by-lôn, chiến thắng của Si-ru có nghĩa là đã đến lúc họ được giải thoát khỏi ách phu tù mà từ lâu họ chờ đợi, và cũng đã đến thời điểm chấm dứt thời kỳ 70 năm quê hương của họ bị hoang vu. Họ mừng rỡ biết bao khi Si-ru ra chiếu chỉ cho phép họ được trở lại Giê-ru-sa-lem và tái thiết đền thờ! Si-ru cũng giao hoàn cho họ các khí dụng quý báu của đền thờ mà Nê-bu-cát-nết-sa đã đem về Ba-by-lôn. Ông cũng cho phép lấy gỗ từ Li-ban, và cho phép dùng quỹ của nhà vua để đài thọ công cuộc xây cất. (Ê-xơ-ra 1:1-11, 6:3-5).

Nói chung, Si-ru đã áp dụng chính sách nhân đạo và khoan dung khi đối xử với các dân mà ông chinh phục được. Si-ru đã để lại trong tâm khảm người ta hình ảnh của một người chinh phục can đảm và một vị vua khoan dung. Triều đại 30 năm của ông chấm dứt khi ông chết vào năm 530 TCN trong khi đang tham dự một chiến dịch quân sự. Con ông là Cambyses II lên nối ngôi vua nước Phe-rơ-sơ.

 

537 TCN Si-ru cho sắc lệnh cho người Do-thái từ Babylon hồi hương. (2 Sử ký 36:22-23; E-xơ-ra 1:1-2:2)

521 TCN Da-ri-us I, là Đa-ri-us Đại đế lên ngôi. Khi tìm được bản chiếu chỉ do Si-ru trong văn khố ở Écbatana, ông thu hồi lệnh cấm vào năm 520 TCN và lấy của cải trong kho vua để chi phí cho công việc tái thiết đền thờ Jerusalem (Ê-xơ-ra 6:1-12)

475 TCN vua At-ta-xét-xe I lên ngôithay cha là A-sue-ru (Xerxes I). Ông có tục danh là Longimanus vì tay phải dài hơn tay trái. Vào năm thứ 20 của triều đại ông năm 455 TCN ông bổ nhiệm qun tửu chánh Nê-hê-mi làm tổng đốc xứ Giu-đa để xây lại tường thành Jerusalem (Nê-hê-mi 1:1; 2:1-18).

336 TCN lúc 20 tuổi Alexander lên ngôi ở Macedonia. Da-ri-us III vào năm 331 TCN bị đại bại trước Alexander Đại Đế ở Gaugamela, gần thành Ni-ni-ve cổ.

MỘT VỊ VUA TRẺ CHINH PHỤC THẾ GIỚI

Cách đây khoảng 2.300 năm, một vị tướng tóc vàng trong lứa tuổi đôi mươi đứng bên bờ biển Địa Trung Hải. Ông nhìn đăm đăm về phía một thành phố nằm trên một hòn đảo cách bờ khoảng một cây số. Vì không được vào thành, ông giận dữ cương quyết chinh phục thành này. Ông có kế hoạch tấn công nào? Ông cho đắp một con đường nối từ bờ tới đảo và chuyển quân tiến chiếm thành. Công cuộc đắp đường đã được tiến hành.

Nhưng một thông điệp từ đại vương của Đế Quốc Phe-rơ-sơ làm viên tướng trẻ tuổi này gián đoạn công trình. Vì nóng lòng muốn làm hòa, vua Phe-rơ-sơ đưa ra một đề nghị lạ thường: 10.000 ta-lâng vàng (hơn hai tỉ Mỹ kim theo giá hiện thời), được cưới một trong những công chúa của vua và được cai trị toàn vùng phía tây của Đế Quốc Phe-rơ-sơ. Vua đưa ra tất cả giá này để đánh đổi gia đình của vua bị viên tướng bắt giữ.

Viên tướng chỉ huy phải đối diện với quyết định chấp nhận hay từ chối đề nghị là A-léc-xan-đơ III của Macedonia. Ông có nên chấp nhận đề nghị đó không? Sử gia Ulrich Wilcken phát biểu: “Đó là giây phút hết sức quan trọng đối với thế giới cổ xưa. Quyết định của ông có âm hưởng kéo dài qua thời Trung Cổ tới tận thời kỳ chúng ta ngày nay, ở cả Đông lẫn Tây Phương”. Trước khi xem xét A-léc-xan-đơ trả lời ra sao, chúng ta hãy coi những biến cố nào đã đưa tới giây phút hệ trọng này.

TẠO RA MỘT NGƯỜI CHINH PHỤC

A-léc-xan-đơ sinh tại Pella, Macedonia, vào năm 356 TCN. Cha ông là Vua Phi-líp II, và mẹ ông là Olympias. Bà dạy A-léc-xan-đơ là các vua người Macedonia phát xuất từ Hercules, con trai của thần Hy Lạp là Zeus. Theo Olympias, tổ tiên của A-léc-xan-đơ là Achilles, người hùng trong áng thơ Iliad của HomerĐược cha mẹ nhồi vào đầu sự chinh phục và vinh quang của vương quyền, người trẻ A-léc-xan-đơ không chú ý gì mấy đến các hoạt động khác. Khi được hỏi ông có tham dự cuộc chạy đua trong Vận Hội Olympic hay không, A-léc-xan-đơ trả lời ông sẽ tham dự, nếu chạy đua với các vua. Tham vọng của ông là làm được nhiều công việc lẫy lừng hơn cha ông và đạt được vinh quang qua sự nghiệp.

Khi lên 13 tuổi, A-léc-xan-đơ vui thích được triết gia Hy Lạp Aristotle dạy kèm. Chính triết gia này đã giúp ông phát triển ham thích triết học, y học và khoa học. Những dạy dỗ về triết học của Aristotle đã ảnh hưởng đến lối suy nghĩ của A-léc-xan-đơ tới mức nào là vấn đề còn được bàn cãi. Ông Bertrand Russell, triết gia thế kỷ 20, quan sát: “Dường như không sai khi nói là họ không đồng ý với nhau về nhiều vấn đề. Quan điểm về chính trị của Aristotle dựa trên tổ chức thành phố tự trị của Hy Lạp. Hình thức tổ chức này đang trên đà chấm dứt”. Ý niệm về một chính quyền của một thành phố tự trị nhỏ bé không có gì hấp dẫn với một hoàng tử đầy tham vọng, muốn xây dựng một đế quốc tập quyền hùng mạnh. A-léc-xan-đơ hẳn cũng nghi ngờ phương châm của Aristotle về việc coi người không phải Hy Lạp là nô lệ, vì ông dự kiến một đế quốc trong đó có sự khuyến khích hợp tác giữa người thắng và kẻ bại.

Tuy nhiên, không ai phủ nhận việc Aristotle đã vun trồng nơi A-léc-xan-đơ sự thích thú đọc và học. A-léc-xan-đơ trong suốt đời ông, là một người ham đọc, đặc biệt mê đọc các tác phẩm của Homer. Có người nói rằng ông đã học thuộc lòng hết áng thơ Iliad—gồm tất cả 15.693 câu thơ.

Việc ông theo học với Aristotle chấm dứt đột ngột vào năm 340 TCN khi cậu hoàng tử 16 tuổi trở lại Pella để cai trị Macedonia thế cho cha vắng mặt. Ngay lập tức, hoàng thái tử cho thấy ông có biệt tài về quân sự. Vua Phi-líp hài lòng khi thấy ông dẹp cuộc nổi loạn của bộ lạc Maedi ở Thrace trong khoảnh khắc, chiếm được thành chính của họ bằng cuộc tấn công vũ bão, và lấy tên ông đặt cho thành là A-léc-xan-ru-pô-lit (Alexandroúpolis).

Cuộc ám sát Phi-líp vào năm 336 TCN đưa vị hoàng tử 20 tuổi A-léc-xan-đơ lên kế ngôi ở Macedonia. Xâm nhập Á  Châu tại Hellespont (nay là Dardanelles) vào mùa xuân năm 334 TCN, A-léc-xan-đơ khởi động một chiến dịch chinh phục với một đạo quân tuy nhỏ nhưng thiện chiến gồm 30.000 bộ binh và 5.000 kỵ binh. Cùng tháp tùng với đạo binh của ông là các kỹ sư, chuyên viên địa hình, kiến trúc sư, khoa học gia và sử gia.

Tại Sông Granicus nằm trong góc tây bắc vùng Tiểu Á (nay là Thổ Nhĩ Kỳ), A-léc-xan-đơ đã thắng trận đánh đầu tiên với nước Phe-rơ-sơ. Mùa đông năm đó, ông chinh phục được phía tây vùng Tiểu Á. Mùa thu năm sau, trận đánh quyết liệt thứ hai với Phe-rơ-sơ xảy ra tại Issus nằm về góc đông nam của vùng Tiểu Á. Vua Phe-rơ-sơ là đại đế Đa-ri-út III đem một đạo quân khoảng nửa triệu binh lính đến đây để tranh chiến với A-léc-xan-đơ. Vì quá tự tin, Đa-ri-út đem theo cả mẹ, vợ và các người khác trong gia đình để họ chứng kiến chiến thắng vẻ vang của ông. Nhưng người Phe-rơ-sơ không dè sự tấn công bất ngờ và cảm tử của người Macedonia. Lực lượng của A-léc-xan-đơ đánh tan tành đạo quân của Phe-rơ-sơ, và Đa-ri-út bỏ chạy, bỏ gia đình ông rơi vào tay A-léc-xan-đơ.

Thay vì truy kích quân Phe-rơ-sơ trốn chạy, A-léc-xan-đơ tiến quân về hướng nam dọc theo Bờ Biển Địa Trung Hải, đánh chiếm các căn cứ của hạm đội hùng mạnh Phe-rơ-sơ. Nhưng thành Ty-rơ tọa lạc trên đảo kháng cự lại. Vì quyết tâm chinh phục thành này, A-léc-xan-đơ mở cuộc bao vây kéo dài bảy tháng. Đang khi cuộc vây hãm diễn ra, Đa-ri-út đưa ra đề nghị hòa bình nói trên. Người ta kể lại rằng đề nghị Đa-ri-út đưa ra quá hấp dẫn đến nỗi viên cố vấn tin cẩn của A-léc-xan-đơ là Parmenio phải nói: “Nếu tôi là A-léc-xan-đơ, tôi sẽ nhận”. Nhưng vị tướng trẻ cướp lời: “Ta cũng vậy, nếu như ta là Parmenio”. Từ chối thương lượng, A-léc-xan-đơ tiếp tục vây hãm và phá hủy nữ chúa kiêu ngạo của biển khơi thành bình địa vào tháng 7 năm 332 TCN.

Vì Giê-ru-sa-lem đầu hàng nên A-léc-xan-đơ tha cho và ông xua quân về phía nam thôn tính Gaza. Ê-díp-tô nghênh tiếp ông như một vị cứu tinh vì đã quá chán ngán sự đô hộ của Phe-rơ-sơ. Tại Memphis, ông cúng tế thần Apis có thân hình con bò nhằm lấy lòng các thầy tế lễ Ê-díp-tô. Ông cũng sáng lập thành A-léc-xan-tri. Thành ấy sau này tranh với thành A-thên trong vai trò trung tâm nghiên cứu, nay vẫn còn mang tên ông.

Kế đó, A-léc-xan-đơ xoay sang hướng đông bắc, tràn qua Pha-lê-tin và tiến về phía Sông Tigris. Vào năm 331 TCN, ông đánh trận chiến lớn thứ ba với Phe-rơ-sơ ở Gaugamela, cách di chỉ hoang tàn của thành Ni-ni-ve không mấy xa. Tại đây, A-léc-xan-đơ với 47.000 quân đại thắng một đạo quân Phe-rơ-sơ hùng hậu vừa được tái tổ chức có ít nhất là 250.000 người! Đa-ri-út chạy trốn và sau đó bị chính dân mình thảm sát.

Trên đà chiến thắng, ông xoay về hướng nam và chiếm Ba-by-lôn là thủ đô mùa đông của Phe-rơ-sơ. Ông cũng chiếm được thủ đô Su-san và Persepolis, tịch thu kho tàng khổng lồ của Phe-rơ-sơ và đốt cháy đại cung điện của Xerxes. Cuối cùng, thủ đô ở Ecbatana cũng lọt vào tay ông. Rồi vị tướng bách chiến bách thắng này chinh phục lãnh địa còn lại của Phe-rơ-sơ, trải xa về phía đông tới Sông Ấn Hà, ngày nay là địa phận của Pakistan.

Khi vượt qua Sông Ấn Hà, nơi vùng tiếp giáp với tỉnh Taxila của Phe-rơ-sơ, A-léc-xan-đơ gặp phải đối thủ lợi hại, đó là Vua Porus của Ấn Độ. A-léc-xan-đơ đánh vua này và đây là trận đánh lớn thứ tư và cũng là cuối cùng của ông vào tháng 6 năm 326 TCN. Đạo binh của Porus gồm có 35.000 quân và 200 tượng binh gây khiếp đảm cho ngựa của Macedonia. Trận chiến ác liệt và đẫm máu, nhưng lực lượng của A-léc-xan-đơ thắng thế. Porus đầu hàng và trở thành đồng minh.

Hơn tám năm trôi qua từ khi đạo quân của Macedonia tiến vào Á Châu, binh lính mệt mỏi và nhớ nhà. Mất nhuệ khí vì trận đánh khốc liệt với Porus, họ muốn về nhà. Mặc dầu lúc đầu lưỡng lự, A-léc-xan-đơ đã thỏa mãn nguyện vọng của họ. Thật vậy, Hy Lạp đã trở thành cường quốc thế giới. Với việc Hy Lạp biến những vùng đất chiếm được thành các thuộc địa, ngôn ngữ và văn hóa Hy Lạp phổ biến ra toàn cả đế quốc.

Qua nhiều năm chinh chiến, chất keo dính đạo quân Macedonia lại với nhau chính là cá tính của A-léc-xan-đơ. Sau các trận đánh, A-léc-xan-đơ có thói quen đi thăm các thương binh, xem xét vết thương của họ, khen ngợi binh lính về các hành động dũng cảm, và ban thưởng tùy theo công trạng của họ. Đối với những binh sĩ tử thương nơi chiến trường, A-léc-xan-đơ cho chôn cất trang trọng. Cha  mẹ và con cái của chiến sĩ tử vong được miễn mọi sắc thuế và miễn phục dịch dưới mọi hình thức. Khi không có chiến trận, A-léc-xan-đơ tổ chức thể thao và các cuộc đua tranh giải. Thậm chí có một lần ông cho các binh lính mới cưới vợ được nghỉ phép để vui với vợ suốt mùa đông ở Macedonia. Nhờ những hành động như vậy, ông đã chiếm được lòng quý mến và cảm phục của binh sĩ dưới quyền.

Về cuộc hôn nhân của A-léc-xan-đơ với Công Chúa Roxana của Bactria, người viết tiểu sử tên là Plutarch, người Hy Lạp, viết: “Thực ra, ấy là một cuộc tình, nhưng đồng thời dường như liên hệ đến cứu cánh mà ông theo đuổi. Vì cuộc tình ấy khiến cho dân bị chinh phục thỏa dạ khi nhìn thấy ông chọn một người trong họ làm vợ, thúc đẩy họ yêu thương ông mãnh liệt hơn. Họ mến ông khi thấy ông có bản lãnh tự chế vượt bực, không ăn nằm với bà cho tới khi ông cưới bà hợp pháp và đàng hoàng”.

A-léc-xan-đơ cũng kính trọng hôn nhân của người khác. Mặc dù vợ của Vua Đa-ri-út là tù nhân của ông, ông vẫn lo sao để bà được đối xử đàng hoàng. Cũng vậy, khi biết được hai lính Macedonia hiếp đáp vợ của một số người ngoại bang, ông đã ra lệnh xử tử hai tên lính nếu quả đã phạm tội.

Giống như Olympias mẹ ông, A-léc-xan-đơ rất sùng đạo. Trước và sau mỗi trận đánh, ông đều dâng của-lễ và cầu hỏi các thần về ý nghĩa các điềm. Ông cũng cầu hỏi thần Ammon, ở Li-by. Và tại Ba-by-lôn, ông làm theo sự chỉ dẫn của người Canh-đê về việc tế lễ, đặc biệt cho thần Bên (Marduk) của Ba-by-lôn.

Mặc dù A-léc-xan-đơ có thói quen ăn uống điều độ, nhưng cuối cùng ông rơi vào tật uống rượu quá độ. Mỗi lần nâng ly, ông nói không ngừng và khoe khoang về thành tích của mình. Một trong những việc làm đen tối nhất của A-léc-xan-đơ là việc ông giết bạn là Clitus trong một cơn giận lúc  say. Nhưng ông tự lên án đến độ ông nằm trên giường liên tiếp ba ngày, không ăn không uống. Cuối cùng bạn bè ông thuyết phục mãi ông mới chịu ăn.

Với thời gian trôi qua, vì khao khát danh vọng, A-léc-xan-đơ đã bộc lộ những tính xấu khác. Ông bắt đầu nghe lời siểm nịnh và áp dụng hình phạt nghiêm khắc nhất. Chẳng hạn, khi được báo cáo là Philotas âm mưu giết ông, A-léc-xan-đơ xử tử Philotas cùng cha là Parmenio, viên cố vấn mà ông từng tín cẩn.

Sau khi trở lại Ba-by-lôn được một thời gian ngắn, A-léc-xan-đơ bị bệnh sốt rét và không sao khỏi bệnh. Vào ngày 13 tháng 6 năm 323 TCN, sau khi sống vỏn vẹn được 32 năm 8 tháng, A-léc-xan-đơ đầu hàng một kẻ thù kinh khủng nhất, đó là cái chết.

Đúng như một người khôn ngoan kia của Ấn Độ đã quan sát: “Hỡi Vua A-léc-xan-đơ, mỗi người chiếm được bất quá miếng đất mà chúng ta đứng lên trên; còn ông cũng giống như bao người khác thôi, ngoại trừ ông năng động và náo nhiệt, ông đi đây đó khắp mặt đất, xa quê hương ông; ông gây phiền hà cho chính ông và cho người khác. Song chẳng bao lâu ông sẽ chết, và sẽ chiếm bất quá một miếng đất đủ để chôn thân”.

MỘT VƯƠNG QUỐC RỘNG LỚN BỊ PHÂN CHIA

KINH THÁNH đã tiên tri là vương quốc của A-léc-xan-đơ Đại Đế sẽ bị tan rã và bị phân chia “nhưng không truyền lại cho con cháu”. (Đa-ni-ên 11:3-4) Đúng như vậy, chỉ nội trong 14 năm sau cái chết bất thình lình của A-léc-xan-đơ vào năm 323 TCN, hai người con của ông, con hợp pháp là A-léc-xan-đơ IV và con ngoại hôn là Heracles, đều bị ám sát.

Vào năm 301 TCN, bốn vị tướng của A-léc-xan-đơ tạo được thế lực và cai trị toàn đế quốc rộng lớn mà vị chỉ huy của họ đã xây dựng được. Tướng Cassander kiểm soát Macedonia và Hy Lạp. Tướng Lysimachus được vùng Tiểu Á và Thrace. Tướng Seleucus I Nicator chiếm cứ vùng Mê-sô-bô-ta-mi và Sy-ri. Còn tướng Ptolemy Lagus, hay Ptolemy I, cai trị vùng Ê-díp-tô và Pha-lê-tin. Do đó, từ một đại vương quốc của A-léc-xan-đơ dấy lên bốn vương quốc Hy Lạp.

Trong bốn vương quốc Hy Lạp này, vương quốc của Cassander tồn tại ngắn nhất. Vài năm sau khi Cassander lên nắm quyền, các con trai trong dòng của ông lần lượt chết hết, và vào năm 285 TCN, tướng Lysimachus chiếm được Âu Châu là phần thuộc Đế Quốc Hy Lạp. Bốn năm sau, Lysimachus bị tử thương khi đánh nhau với đạo quân của tướng Seleucus I Nicator, và vị tướng này kiểm soát được phần lớn các lãnh thổ thuộc Á Châu. Seleucus trở thành vua đầu tiên trong dòng vua vương quốc Seleucid ở Sy-ri. Ông thành lập thành An-ti-ốt ở Sy-ri và dùng nó làm tân thủ đô. Seleucus bị ám sát vào năm 281 TCN, nhưng triều đại mà ông thiết lập tiếp tục nắm quyền cho tới năm 64 TCN, khi tướng La Mã là Pompey biến Sy-ri thành một tỉnh của La Mã.

Trong bốn vương quốc ra từ đế quốc của A-léc-xan-đơ, vương quốc của Ptolemy tồn  tại lâu nhất. Ptolemy I lên ngôi vua vào năm 305 TCN và trở thành vua đầu tiên của dòng vua người Macedonia, hay Pha-ra-ôn, của xứ Ê-díp-tô. Ông lập A-léc-xan-tri làm thủ đô, và bắt đầu ngay một chương trình phát triển đô thị. Một trong các dự án xây cất vĩ đại nhất là Thư Viện A-léc-xan-đơ lừng danh. Để quản lý dự án to lớn này, Ptolemy đã đem một học giả nổi tiếng người A-thên là Demetrius Phalereus từ Hy Lạp tới. Người ta phúc trình là vào thế kỷ thứ nhất CN, thư viện đã chứa tới một triệu cuộn sách. Triều đại Ptolemy tiếp tục hành quyền ở Ê-díp-tô cho tới khi rơi vào tay La Mã vào năm 30 TCN. Sau đó La Mã thay thế Hy Lạp trong địa vị cường quốc thống trị thế giới.

Đa-ni-ên chương 11

Hai vua thù nghịch bị vướng chân trong một cuộc tranh chấp khốc liệt nhằm giành quyền bá chủ. Theo dòng thời gian, mỗi bên thay nhau nắm được ưu thế. Có thời, một vua làm bá chủ còn vua kia thì nằm bất động, và cũng có thời không có tranh chấp nào cả. Nhưng rồi một cuộc tranh chiến khác bỗng bùng nổ, và cuộc xung đột lại tiếp tục. Trong số những diễn viên trong vở kịch này có Seleucus I Nicator, vua Sy-ri; Ptolemy Lagus, vua Ê-díp-tô; Cleopatra I, công chúa nước Sy-ri và cũng là hoàng hậu xứ Ê-díp-tô; Au-gút-tơ và Ti-be-rơ, là các hoàng đế La Mã, và Zenobia, nữ hoàng xứ Palmyra. Khi cuộc tranh chấp gần đến hồi kết thúc thì có thêm Đức Quốc Xã, các quốc gia thuộc khối Cộng Sản, Cường Quốc Thế Giới Anh-Mỹ, Hội Quốc Liên, và Liên Hiệp Quốc. Phần cuối của vở kịch là một hồi mà không một thực thể chính trị nào nói trên thấy trước được. Thiên sứ của Đức Giê-hô-va công bố lời tiên tri đầy phấn khởi này cho nhà tiên tri Đa-ni-ên cách đây khoảng 2.500 năm.

Sau khi A-léc-xan-đơ chết, vương quốc của ông bị “chia ra theo bốn gió”. Các tướng của ông tranh chấp lẫn nhau và giành giật lãnh thổ. Tướng độc nhãn Antigonus I cố tìm cách thống trị toàn thể đế quốc của A-léc-xan-đơ. Nhưng ông bị tử trận tại Ipsus ở Phrygia.

Sau khi nắm quyền được vài năm, Cassander chết, còn Lysimachus vào năm 285 TCN chiếm hữu phần đất Âu Châu của Đế Quốc Hy Lạp. Vào năm 281 TCN, Lysimachus tử thương khi tranh chiến với Seleucus I Nicator và do đó Seleucus kiểm soát được phần lớn các lãnh thổ thuộc Á Châu. Antigonus II Gonatas, cháu của một trong những tướng của A-léc-xan-đơ, lên ngôi cai trị Macedonia vào năm 276 TCN. Với thời gian, Macedonia thành lệ thuộc La Mã và cuối cùng là một tỉnh của La Mã vào năm 146 TCN.

Bây giờ trong số bốn vương quốc Hy Lạp, chỉ còn hai nước nổi bật mà thôi—một nước do Seleucus I Nicator cai trị và nước kia nằm dưới quyền của Ptolemy Lagus. Seleucus thiết lập triều đại Seleucid ở Sy-ri. Trong số những thành mà ông lập là An-ti-ốt—thủ đô mới của Sy-ri—và hải cảng  Seleucia. Sau này sứ đồ Phao-lô giảng dạy ở An-ti-ốt, nơi mà lần đầu tiên những người theo Chúa Giê-su được gọi là tín đồ Đấng Christ. (Công vụ 11:25-26; 13:1-4) Seleucus bị ám sát vào năm 281 TCN, nhưng triều đại của ông vẫn còn cầm quyền cho tới khi Tướng La Mã là Gnaeus Pompey biến Sy-ri thành một tỉnh của La Mã vào năm 64 TCN.

 Vương quốc Hy Lạp tồn tại lâu nhất là vương quốc của  Ptolemy Lagus, hay Ptolemy I. Ông lên ngôi vua vào năm 305 TCN. Triều đại của Ptolemy tiếp tục cai trị Ê-díp-tô cho tới khi bị rơi vào tay La Mã vào năm 30 TCN.

“Vua phương nam” tiên khởi là Ptolemy I của Ê-díp-tô. Một trong những “tướng” của A-léc-xan-đơ thắng Ptolemy I và có ‘quyền cai-trị lớn lắm’ là Vua Seleucus I Nicator của Sy-ri. Ông đóng vai trò “vua phương bắc”.

Vua phương bắc mới là Antiochus IV muốn tỏ ra mạnh hơn Đức Chúa Trời bằng cách cố tận diệt sự thờ phượng của Đức Giê-hô-va. Nhằm thách thức Đức Giê-hô-va, ông ta dâng hiến đền thờ Giê-ru-sa-lem cho thần Zeus, hay thần Giu-bi-tê. Vào tháng 12 năm 167 TCN, một bàn thờ cho tà thần được dựng lên trên bàn thờ lớn trong hành lang của đền thờ, nơi mà hàng ngày của-lễ thiêu được dâng lên cho Đức Giê-hô-va. Mười ngày sau, người ta dâng của tế lễ cho thần Giu-bi-tê trên bàn thờ tà thần này. Sự mạo phạm này đã đưa tới cuộc nổi dậy của người Do Thái dưới sự lãnh đạo của người Macabê. Antiochus IV đánh nhau với họ trong ba năm. Vào năm 164 TCN, kỷ niệm ngày mạo phạm, Judas Maccaeus tái dâng hiến đền thờ cho Đức Giê-hô-va và lễ dâng hiến—Hanukkah—được thiết lập. (Giăng 10:22)

 Người Macabê có lẽ đã lập hòa ước với La Mã vào năm 161 TCN và thiết lập một vương quốc vào năm 104 TCN. Nhưng sự va chạm giữa họ và vua phương bắc Sy-ri cứ tiếp diễn. Cuối cùng La Mã bắt buộc phải can thiệp. Tướng La Mã là Gnaeus Pompey chiếm Giê-ru-sa-lem vào năm 63 TCN sau một cuộc vây hãm kéo dài ba tháng. Vào năm 39 TCN, Thượng Viện La Mã bổ nhiệm Hê-rốt—một  người Ê-đôm—làm vua Giu-đê. Sự cai trị của người Macabê chấm dứt và Hê-rốt chiếm Giê-ru-sa-lem vào năm 37 TCN.

Tới năm 30 TCN La-mã hoàn toàn thống trị cả Sy-ri lẫn Ê-díp-tô.

 “RÔ-MA BẰNG GẠCH LÚC ÔNG ĐẾN, BẰNG CẨM THẠCH LÚC ÔNG ĐI”

Khi Juli Sê-sa bị ám sát vào năm 44 TCN thì Gaius Octavian, cháu nội của chị ông, mới 18 tuổi. Là con nuôi và đồng thời là người kế vị chính của Juli Sê-sa, chàng trai trẻ Octavian đến Rô-ma ngay để nhận di sản. Tại đây, ông gặp phải một địch thủ lợi hại—đó là Mark Antony, phụ tá trưởng của Sê-sa cũng nuôi hy vọng là người thừa kế chính. Âm mưu chính trị và tranh giành quyền lực giữa hai người kéo dài tới 13 năm.

Chỉ sau khi đánh bại lực lượng hỗn hợp của Cleopatra, Nữ Hoàng Ê-díp-tô, và người tình của bà là Mark Antony (vào năm 31 TCN), Octavian mới nổi bật là vua duy nhất của Đế Quốc La Mã. Năm sau, Antony và Cleopatra tự vẫn, và Octavian sáp nhập luôn cả Ê-díp-tô. Vết tích cuối cùng của Đế Quốc Hy Lạp bị xóa bỏ, và La Mã trở thành cường quốc thế giới.

Vì nhớ lại Juli Sê-sa bị ám sát là vì chuyên quyền nên Octavian cẩn thận tránh lỗi lầm ấy. Để không làm tổn thương tình cảm của dân La Mã vốn thiên về một cộng hòa, ông đã mặc cho chế độ quân chủ của ông một cái áo cộng hòa. Ông từ chối nhận tước hiệu “vua” và “toàn quyền”. Tiến thêm  một bước nữa, ông tuyên bố ý định trao quyền kiểm soát toàn thể các tỉnh cho Thượng Viện La Mã và sẽ từ chức. Thủ đoạn này thành công. Tán thưởng hành động của ông, Thượng Viện yêu cầu Octavian ở lại chức vụ và cai trị một số tỉnh.

Ngoài ra, vào ngày 16 tháng 1 năm 27 TCN, Thượng Viện ban cho Octavian tước hiệu “Au-gút-tơ”, nghĩa là “Cao Cả và Thiêng Liêng”. Octavian không những chấp nhận tước hiệu đó mà còn đặt lại tên một tháng theo tên mình và mượn một ngày từ tháng Hai để tháng Tám có cùng số ngày như tháng Bảy, tháng mang tên Juli Sê-sa. Do đó, Octavian trở thành hoàng đế đầu tiên của đế quốc La Mã và từ đó về sau nổi tiếng với danh Sê-sa Au-gút-tơ hay “Ngài Cao Cả”. Sau này ông cũng chiếm luôn danh hiệu “pontifex maximus” (thầy tế lễ thượng phẩm), và vào năm 2 TCN—năm Chúa Giê-su sinh ra—Thượng Viện cho ông tước hiệu Pater Patriae tức là “Người Cha của Tổ Quốc”.

Trong cùng năm đó, “Sê-sa Au-gút-tơ ra chiếu chỉ phải lập sổ dân trong cả thiên-hạ… Ai nấy đều đến thành mình khai tên vào sổ”. (Lu-ca 2:1-3) Chiếu chỉ này đưa đến kết quả là Chúa Giê-su sinh ra tại Bết-lê-hem, làm ứng nghiệm lời tiên tri của Kinh Thánh. (Đa-ni-ên 11:20; Mi-chê 5:1).

Chính quyền dưới sự lãnh đạo của Au-gút-tơ cai trị khá lương thiện và tiền tệ ổn định dưới triều đại của ông. Au-gút-tơ cũng thiết lập một hệ thống bưu điện hữu hiệu và xây cất đường xá và cầu cống. Ông tái tổ chức quân đội, thiết lập một hải lực thường trực, và thành lập một toán cận vệ tinh nhuệ cho hoàng đế có tên là Đạo Quân Cận Vệ. (Phi-lip 1:13) Dưới sự bảo trợ của ông, nhiều văn hào như Virgil và Horace sáng tác nhiều văn phẩm và nhiều nhà điêu khắc thực hiện được những công trình tuyệt mỹ mà ngày nay được gọi là nghệ thuật cổ điển. Au-gút-tơ hoàn tất các công trình xây  cất dở dang mà Giu-lơ Sê-sa để lại và tái thiết nhiều đền thờ. Phong trào Pax Romana (“Hòa Bình Rô-ma”) do ông sáng lập tồn tại hơn 200 năm. Vào ngày 19 tháng 8 năm 14 CN, Au-gút-tơ chết lúc 76 tuổi và sau đó được phong thánh.

Au-gút-tơ tự hào là “Rô-ma bằng gạch lúc ông đến; bằng cẩm thạch lúc ông đi”. Vì không muốn La Mã trở lại những ngày đầy xung đột của chế độ cộng hòa cũ, ông có ý chuẩn bị cho hoàng đế kế vị. Nhưng về người kế vị, sự lựa chọn của ông thật giới hạn. Cháu trai, hai cháu ngoại, một con rể, và một con ghẻ, tất cả đều chết, chỉ còn lại Ti-be-rơ, con ghẻ ông lên nối nghiệp mà thôi.

ĐẾ QUỐC LA-MÃ THÁNH

Cường Quốc Thế Giới La-mã chấm dứt với việc vị hoàng đế cuối cùng ở Rô-ma bị mất ngôi vào năm 476 CN. Lãnh tụ Odoacer của các bộ lạc Goth Đức đã truất ngôi hoàng đế La-mã cuối cùng. Nhưng Đế Quốc La-mã Thánh với Giáo hoàng ở Va-ti-can tiếp tục hành quyền thống trị trên châu Âu về chính trị và tôn giáo. Tới đầu thế kỷ 6 Đế Quốc La-mã ở phía tây bị tan vỡ, và các vua nước Đức cai trị Bắc Phi, Britania, Gaul, Spanien và Ý. Phần phía đông của đế quốc còn tồn tại đến thế kỷ 15.

Vào thế kỷ thứ tư, Hoàng Đế La Mã Constantine công nhận Công giáo là quốc giáo. Thậm chí ông còn triệu tập và chủ tọa hội nghị của giáo hội tại Nicaea, Tiểu Á, vào năm 325 CN. Sau đó, Constantine dời tư dinh hoàng đế từ Rô-ma đến Byzantium, hay là Constantinople, và lập thành phố này là tân thủ đô của ông. Đế Quốc La Mã tiếp tục dưới sự cai trị của một hoàng đế đơn độc cho tới khi Hoàng Đế Theodosius I chết vào ngày 17 tháng 1 năm 395 CN.

 Sau khi Theodosius chết, Đế Quốc La Mã bị phân chia cho các con của ông. Honorius được phần phía tây, và Arcadius được phần phía đông với thủ đô là Constantinople. Bắc Phi, Britannia, Gaul, Ý, và Tây Ban Nha nằm trong số những tỉnh thuộc phía tây. Macedonia, Thrace, Tiểu Á, Sy-ri, và Ê-díp-tô là những tỉnh thuộc phía đông. Vào năm 642 CN, thủ đô A-léc-xan-tri của Ê-díp-tô rơi vào tay người Saracen (Ả-rập), và Ê-díp-tô trở thành một tỉnh của các lãnh tụ Hồi Giáo. Vào tháng Giêng năm 1449, Constantine XI trở thành hoàng đế cuối cùng của đế quốc phía đông. Những người Ottoman ở vùng Thổ Nhĩ Kỳ dưới quyền chỉ huy của Vua Mehmed II chiếm được Constantinople vào ngày 29-5-1453, chấm dứt Đế Quốc La Mã phía Đông. Ê-díp-tô trở thành một tỉnh của Thổ Nhĩ Kỳ vào năm 1517. Dù vậy, với thời gian, phần đất của vua phương nam xưa đã rơi vào vòng cai trị của đế quốc khác đến từ phía tây.

 Về cánh phía tây của Đế Quốc La Mã, nổi lên một giám mục Công Giáo đáng chú ý tại Rô-ma; đó là Giáo Hoàng Leo I, người nổi tiếng vì đã mạnh dạn công bố thẩm quyền của giáo hoàng vào thế kỷ thứ năm CN. Cuối cùng, giáo hoàng tự cho mình quyền tấn phong hoàng đế phần đất phía tây. Điều này xảy ra tại Rô-ma vào ngày Lễ Giáng Sinh năm 800 CN, khi Giáo Hoàng Leo III tấn phong cho Vua Charles (Charlemagne) của dân Frank làm hoàng đế của tân Đế Quốc La Mã phía Tây. Sự tấn phong này làm sống lại chức hoàng đế tại Rô-ma và, theo một số sử gia, nó đánh dấu sự bắt đầu của Đế Quốc La Mã Thánh. Từ đó trở đi, Đế Quốc phía Đông và Đế  Quốc La Mã Thánh về phía tây cùng hiện hữu và cả hai đều tự nhận là theo đạo Đấng Christ.

 Với thời gian trôi qua, những người kế vị Charlemagne tỏ ra là những vua bất lực. Thậm chí có một thời chức hoàng đế bị bỏ trống. Trong thời gian đó, Vua Otto I của Đức đã kiểm soát được phần lớn miền bắc và miền trung nước Ý. Ông tự tuyên bố là vua nước Ý. Vào ngày 2 tháng 2 năm 962 CN, Giáo Hoàng John XII phong Otto I làm hoàng đế của Đế Quốc La Mã Thánh. Đế quốc có thủ đô ở Đức, và hoàng đế cũng như phần lớn thần dân đều là người Đức. Năm thế kỷ sau, hoàng gia Hapsburg của Áo chiếm được tước hiệu “hoàng đế” và duy trì mãi cho đến khi Đế Quốc La Mã Thánh suy tàn.

HAI VUA ĐƯỢC NHẬN DIỆN RÕ RÀNG MỘT LẦN NỮA

 Napoléon I giáng cho Đế Quốc La Mã Thánh một đòn chí tử khi ông từ chối thừa nhận đế quốc này sau khi ông chiến thắng tại Đức vào năm 1805. Vì không thể bảo vệ vương miện, Francis II từ chức hoàng đế La Mã vào ngày 6-8-1806, và lui về quốc gia mình làm hoàng đế Áo. Sau 1.006 năm, Đế Quốc La Mã Thánh—được thành lập bởi Leo III, một Giáo Hoàng Công Giáo La Mã, và Charlemagne, vua nước Frank—đi tới chỗ chấm dứt. Vào năm 1870, Rô-ma trở thành thủ đô của Ý, độc lập với Vatican. Vào năm sau, đế quốc Đức khởi đầu với Wilhelm I được phong làm sê-sa, hay hoàng đế. Do đó, vua phương bắc tân thời là Đức xuất hiện trên sân khấu thế giới.

ANH QUỐC

Vào năm 55 TCN, Tướng La Mã là Giu-lơ Sê-sa (Julius Caesar) xâm lăng Anh Quốc nhưng đã không biến nó thành thuộc địa lâu dài được. Vào năm 43 CN, Hoàng Đế Claudius bắt đầu một cuộc chinh phục qui mô miền nam nước Anh kéo dài nhiều năm. Rồi vào năm 122 CN, Hoàng Đế Hadrian khởi công xây một bức tường từ Sông Tyne tới Soway Firth, làm thành biên giới phía bắc của Đế Quốc La Mã. Vào đầu thế kỷ thứ năm, đạo quân La Mã rút lui khỏi đảo. Một sử gia giải thích: “Vào thế kỷ thứ mười sáu, Anh Quốc là một cường quốc thường. Sự phồn thịnh của nó không đáng kể so với Hà Lan. Còn dân số thì kém Pháp nhiều. Quân lực (gồm cả hải quân) cũng kém Tây Ban Nha”.

 Vào năm 1588, Vua Tây Ban Nha là Phi-líp II huy động lực lượng hải quân Tây Ban Nha tấn công Anh Quốc. Hạm đội này gồm 130 tàu chiến với hơn 24.000 quân, chạy tới eo biển Măng-sơ (English Channel) bị hải quân Anh đánh bại và bị thiệt hại vì ngược gió và bão lộng ở Đại Tây Dương. Một sử gia nói biến cố này “đánh dấu địa vị ưu thắng về hải quân đã chuyển từ Tây Ban Nha sang Anh Quốc”. Vào thế kỷ 17, Hà Lan phát triển đoàn thương thuyền lớn nhất thế giới. Tuy nhiên, với số thuộc địa gia tăng ở hải ngoại, nước Anh vượt hẳn Hà Lan. Trong thế  kỷ 18, Anh và Pháp đánh nhau ở Bắc Mỹ và Ấn Độ, đưa tới Hòa Ước Paris năm 1763. Tác giả William B. Willcox nói là hòa ước này “xác nhận địa vị mới của Anh Quốc là cường quốc Âu Châu thượng đẳng trên thế giới ngoài Âu Châu”. Ưu thế của Anh Quốc được xác nhận khi toàn thắng Napoléon nước Pháp vào năm 1815 CN. Do đó, “ba vua” mà Anh Quốc “đánh đổ” là Tây Ban Nha, Hà Lan và Pháp. (Đa-ni-ên 7:24) Kết quả là Anh Quốc trở thành cường quốc lớn nhất thế giới về thương mại và thuộc địa. Đúng vậy, cái sừng “nhỏ” lớn lên trở thành một cường quốc thế giới!

 Thiên sứ nói với Đa-ni-ên là con thú thứ tư, hay là nước thứ tư, “sẽ nuốt cả đất”. (Đa-ni-ên 7:23) Điều này chứng tỏ là đúng với nước Anh từng là một tỉnh của La Mã tên là Britannia. Nước này dần dần trở thành Đế Quốc Anh và ‘nuốt cả đất’. Có một thời đế quốc này bao trùm một phần tư mặt đất và một phần tư dân số trên thế giới.

 Vì Đế Quốc La Mã khác với các cường quốc thế giới trước đó, vua tượng trưng bằng cái sừng “nhỏ” cũng “khác với các vua trước”. (Đa-ni-ên 7:24) Về Đế Quốc  Anh, sử gia H. G. Wells ghi nhận: “Chưa từng có đế quốc loại nào giống như vậy. Toàn thể hệ thống tập trung vào ‘một cộng hòa quân chủ’ Liên Hiệp Anh… Chưa cơ quan nào hay người nào hiểu được sự hình thành của Đế Quốc Anh. Nó từ từ lớn dần và hoàn toàn khác với bất cứ nước nào từng được gọi là đế quốc trước đây”.

 Cái sừng “nhỏ” không chỉ riêng là Đế Quốc Anh. Năm 1783, Anh Quốc công nhận nền độc lập của 13 nước thuộc địa Mỹ Châu. Với thời gian, Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ trở thành đồng minh của Anh Quốc và kể từ Thế Chiến II, trở thành một nước hùng mạnh nhất thế giới. Ngày nay, nó vẫn còn liên hệ chặt chẽ với Anh Quốc. Kết quả là đế quốc đôi Anh-Mỹ cấu thành ‘sừng có những mắt’. Thật vậy, đây là cường quốc sắc sảo và ranh mãnh! Nó ‘nói những lời xấc-xược’, ép nhiều nước trên thế giới theo chính sách của nó và hành động như là phát ngôn viên hay là “tiên-tri giả” của thế giới. (Đa-ni-ên 7:8,11,20; Khải huyền 16:13;19:20).

Vào ngày 18 tháng 1 năm 1871, Wilhelm I trở thành hoàng đế đầu tiên của Đế Quốc Đức. Ông bổ nhiệm Otto von Bismarck làm thủ tướng. Đặt trọng tâm vào việc phát triển tân đế quốc, Bismarck tránh xung đột với các quốc gia khác và thành lập một liên minh với Áo-Hung và Ý, được gọi là Liên Minh Tay Ba. Nhưng chẳng bao lâu, quyền lợi của vua phương bắc mới này xung đột với quyền lợi của vua phương nam.

 Sau khi Wilhelm I và người kế vị ông là Frederick III chết vào năm 1888, thì Wilhelm II lên ngôi lúc 29 tuổi. Wilhelm II cũng gọi là Kaiser Wilhelm ép Bismarck từ chức và ông theo đuổi một chính sách mở rộng ảnh hưởng của Đức ra khắp thế giới. Một sử gia nói: “Dưới sự cai trị của Wilhelm II, [nước Đức] phô trương một thái độ kiêu ngạo và gây hấn”.

 Khi Czar Nicholas II của Nga triệu tập một hội nghị hòa bình ở The Hague, Hà Lan, vào ngày 24-8-1898, bầu không khí giữa các quốc gia thật căng thẳng. Hội nghị này và hội nghị sau đó vào năm 1907 đã lập được Tòa Án Trọng Tài Thường Trực tại The Hague.

Kaiser Wilhelm xây dựng một nền cai trị có tính cách đế quốc với mục đích mở rộng lãnh thổ và ảnh hưởng của Đế Quốc Đức. Wilhelm II theo đuổi mục tiêu chiếm thuộc địa ở Phi Châu và các nơi khác. Vì muốn thách đố quyền bá chủ hải lực của Anh Quốc, ông cho thiết lập một lực lượng hải quân hùng hậu. Sách bách khoa The New Encyclopædia Britannica nói: “Lực lượng hải quân của Đức đi từ chỗ không đáng kể lên đến hàng thứ hai sau Anh Quốc chỉ trong vòng hơn một thập niên. Để duy trì quyền bá chủ, Anh Quốc phải bành trướng chương trình hải quân của mình. Anh Quốc cũng điều đình để có hiệp ước thân thiện với Pháp và một thỏa ước tương tự với Nga, tạo thành Khối Tay Ba. Bây giờ Âu Châu được chia ra làm hai phe quân sự—một phe là Liên Minh Tay Ba và một phe là Khối Tay Ba.

 Đế Quốc Đức theo đuổi một chính sách gây hấn, kết quả là thâu được “nhiều của-cải lắm” cho mình vì là nước đứng đầu trong Liên Minh Tay Ba. Áo-Hung và Ý là những nước theo Công Giáo La Mã. Do đó, Liên Minh Tay Ba được giáo hoàng ủng hộ, trong khi đó Khối Tay Ba, tức vua phương nam phần lớn không phải Công Giáo, nên không được ân huệ này.

Vào ngày 28 tháng 6 năm đó, Hoàng Tử nước Áo là Francis Ferdinand và vợ bị một tên khủng bố người Serbia ám sát ở Sarajevo, Bosnia. Biến cố này châm ngòi cho Thế Chiến I.

 Kaiser Wilhelm đòi Áo-Hung trả thù Serbia. Vì được Đức cam đoan ủng hộ, Áo-Hung tuyên chiến với Serbia vào ngày 28-7-1914. Nhưng Nga đến cứu viện Serbia. Khi Đức tuyên chiến với Nga thì Pháp (một đồng minh trong Khối Tay Ba) đứng về phía Nga. Đức liền tuyên chiến luôn  với Pháp. Để dễ dàng tiến chiếm Paris, Đức xâm lăng Bỉ, một nước trung lập được Anh Quốc bảo đảm. Vì vậy Anh Quốc tuyên chiến với Đức. Những nước khác cũng lâm vào cuộc, còn Ý thì đổi bên. Trong lúc chiến tranh, Anh Quốc bảo hộ Ai Cập để ngăn ngừa vua phương bắc cắt đứt Kênh Đào Suez và xâm lăng Ai Cập, vùng đất xưa của vua phương nam.

 Cuốn bách khoa The World Book Encyclopedia nói: “Bất chấp tầm vóc và sức mạnh của phe Đồng Minh, xem ra Đức gần thắng trận”. Trong những cuộc xung đột trước đó giữa hai vua, Đế Quốc La Mã, với tư cách là vua phương bắc, đã chiến thắng liên tục. Nhưng lần này “không giống như lần trước”. Vua phương bắc thua trận. Thiên sứ cho biết lý do thua như sau: “Vì những tàu ở Kít-tim sẽ đến nghịch cùng người; cho nên người sẽ lo-buồn”. (Đa-ni-ên 11:30) “Những tàu ở Kít-tim” là gì?

 Vào thời Đa-ni-ên, Kít-tim là Cyprus. Khi thế chiến thứ nhất mới khởi đầu, Cyprus đã bị Anh Quốc thôn tính. Ngoài ra, theo cuốn The Zondervan Pictorial Encyclopedia of the Bible, tên Kít-tim “theo nghĩa rộng, bao gồm cả Tây Phương, nhưng đặc biệt những nước Tây Phương có lợi thế về đường biển”. Bản dịch Kinh Thánh New International Version dịch “những tàu ở Kít-tim” là “những tàu ở miền biển phía tây”. Trong thế chiến thứ nhất, những tàu ở Kít-tim chính là những tàu của Anh Quốc, đậu dọc theo bờ biển phía tây của Âu Châu.

 Khi chiến tranh tiếp diễn, lực lượng Hải Quân Anh mạnh hơn nhờ có thêm các tàu của Kít-tim. Vào ngày 7-5-1915, tàu ngầm Đức U-20 đánh chìm tàu dân sự Lusitania nơi bờ biển phía nam của Ireland. Trong số hành khách thiệt mạng, có 120 người Mỹ. Sau đó, Đức mở rộng chiến tranh bằng tàu ngầm đến vùng biển Đại Tây Dương. Tiếp theo đó, vào ngày 6-4-1917, Tổng Thống Hoa Kỳ Woodrow Wilson tuyên chiến với Đức. Được tăng cường bởi các chiến hạm và quân đội Hoa Kỳ, vua phương nam—bây giờ là Cường Quốc Thế Giới Anh-Mỹ—tranh chiến qui mô với vua đối nghịch.

Bị Cường Quốc Thế Giới Anh-Mỹ tấn công, vua phương bắc trở nên “lo-buồn” và phải nhận thất trận vào tháng 11-1918. Wilhelm II phải trốn lưu vong ở Hà Lan, và Đức trở thành một cộng hòa. Nhưng vua phương bắc chưa bỏ cuộc.

 Sau khi chiến tranh kết thúc vào năm 1918, phe Đồng Minh chiến thắng buộc Đức phải ký một hiệp ước hòa bình nhằm trừng phạt Đức. Dân Đức cảm thấy nhiều điều khoản trong hiệp ước có tính cách khắc nghiệt, và tân cộng hòa lỏng lẻo ngay từ lúc đầu. Nước Đức bị rung rinh trong mấy năm khó khăn cùng cực và phải trải qua cuộc Khủng Hoảng Kinh Tế khiến hơn sáu triệu người  thất nghiệp. Vào đầu thập niên 1930, tình trạng đã chín mùi để Adolf Hitler nổi dậy. Hitler được bổ nhiệm làm thủ tướng vào tháng 1 năm 1933 và năm sau ông đảm nhiệm chức vụ quốc trưởng của cái được gọi là Quốc Xã hay là Đệ Tam Quốc Xã.  Sau khi nắm được quyền hành, Hitler đã thành công về kinh tế và ngoại giao. Chỉ trong vài năm, ông đã làm cho nước Đức được coi như một cường quốc trên diễn trường thế giới.

 Hitler đã ký thỏa ước với giáo hoàng ở Rô-ma. Vào năm 1935, Hitler cho thành lập Bộ Tôn Giáo. Một trong các mục tiêu của ông là đem các giáo hội Tin Lành dưới quyền kiểm soát của nhà nước.

 Chẳng bao lâu Hitler lâm trận. Vào ngày 1-9-1939, “quân-lính” Quốc Xã xâm chiếm Ba Lan. Hai ngày sau, Anh Quốc và Pháp tuyên chiến với Đức để cứu Ba Lan, và do đó Thế Chiến II bùng nổ. Ba Lan sụp đổ mau chóng, và sau đó chẳng bao lâu, lực lượng Đức thôn tính Đan Mạch, Na Uy, Hà Lan, Bỉ, Luxembourg và Pháp. Sách bách khoa The World Book Encyclopedia nói: “Vào cuối năm 1941, Đức Quốc Xã thống trị lục địa Âu Châu”.

 Mặc dù Đức và Liên Bang Sô Viết đã ký Hiệp Định Thân Hữu, Hợp Tác và Phân Định Ranh Giới, Hitler cũng cứ tiến hành xâm lăng lãnh thổ Sô Viết vào ngày 22-6-1941. Hành động này của Đức khiến Sô Viết đứng về phía Anh Quốc. Quân đội Nga chống trả kịch liệt bất chấp sự tiến quân thần tốc của lực lượng Đức vào lúc đầu. Vào ngày 6-12-1941, quân đội Đức bị bại trận ở Moscow. Ngày hôm sau, đồng minh của Đức là Nhật Bản dội bom Trân Châu Cảng ở Hawaii. Khi biết được tin này, Hitler nói với các phụ tá của ông: “Bây giờ chúng ta không thể nào còn thua trận được nữa”. Vào ngày 11 tháng 12, ông ta hấp tấp tuyên chiến với Hoa Kỳ. Nhưng ông đã đánh giá quá thấp sức mạnh của cả Sô Viết lẫn Hoa Kỳ. Quân Nga tấn công từ phía đông; quân lực Anh và Mỹ giáp lại từ phía tây, chẳng mấy chốc, đổ ụp trên Hitler. Lực lượng Đức mất hết căn cứ này đến căn cứ khác. Sau khi Hitler tự vận, nước Đức đầu hàng phe Đồng Minh vào ngày 7-5-1945.

Be the first to comment

Leave a Reply