BẢNG CHỨNG THỨ HAI, GIAO ƯỚC ĐƯỢC PHỤC HỒI (Xuất Ê-díp-tô ký 33:17-34:35)

BẢNG CHỨNG THỨ HAI, GIAO ƯỚC ĐƯỢC PHỤC HỒI

Xuất Ê-díp-tô ký 33:17-34:35

Như chúng ta đã biết Xuất Ê-díp-tô-ký là một tiến trình dân Israel rời khỏi, thoát ra, được giải cứu khỏi xứ nô lệ, để đi vào miền đất hứa, và trở thành dân tộc mà Đức Chúa Trời chọn, trở thành con dân của Đức Chúa Trời, thành nước thầy tế lễ và một dân tộc thánh thuộc Chúa. Vậy điều gì đảm bảo cho việc đó? Giao ước chính là minh chứng cho điều đó, là minh chứng dân này thuộc Chúa. Tiêu đề của bài học ngày hôm nay nói về 2 bảng chứng Chúa ban cho Moses lần thứ hai. bảng chứng chính là giao ước để đảm bảo dân này đã có giao ước với Chúa và họ thuộc Chúa.

  1. Tổng quan về các bài học trước
  • Chương 20-23 sau khi Chúa cứu dân sự ra khỏi xứ nô lệ ở Ai-cập. Đức Chúa Trời muốn xây dựng một cộng đoàn được điều khiển bởi luật pháp của Ngài. Nên Ngài giáng lâm và ban cho dân Israel 10 điều răn và luật pháp, để thay vì sống và hành xử theo thói quen trong xứ nô lệ, thì giờ đây họ sống trong trật tự của Chúa dưới sự tể trị và điều khiển của Ngài
  • Chương 24 ký kết giao ước trong huyết giữa Đức Chúa Trời và dân Israel. giao ước là Chúa trở thành Chúa của họ, họ trở thành con dân Chúa, sống theo luật pháp và lời của Chúa.

Huyết là biểu tượng giao ước với ĐỨC CHÚA TRỜI. Một bàn thờ được bao phủ bởi huyết, dân sự được bao phủ bởi huyết. Đây là chính xác là nghi lễ thiết lập giao ước với ĐỨC CHÚA TRỜI. Không có huyết, không có giao ước. Nội dung chính yếu trong giao ước chỉ có một. Con người là tội nhân nên không thể nào đến gần ĐỨC CHÚA TRỜI được. Để làm được điều đó thì cần huyết của giao ước.

Nghi lễ xảy ra như sau:

  • Moses đọc các điều khoản của giao ước (10 điều răn và luật pháp) cho dân sự nghe và dân sự đồng thanh đáp lại: “Chúng tôi sẽ làm mọi điều đức Giê-hô-va đã phán dạy.”
  • Moses lấy huyết rưới lên bàn thờ, Đức Chúa Trời tiếp nhận huyết chuộc tội. Tội lỗi được tha thứ và Đức Chúa Trời thánh khiết ngự xuống. Trước sự hiện diện của Chúa ông đọc lại lời của Chúa cho dân sự nghe. Sau đó dân sự đồng thanh khẳng định sẽ làm và vâng theo mọi lời của Đức Chúa Trời. Lúc đó Moses lấy huyết rưới lên mình dân sự. Lúc đó giao ước được ký kết giữa Đức Chúa Trời và dân Israel. Đức Chúa Trời thành Chúa của họ- Israel thành dân của Chúa. Đức Chúa Trời chồng – Israel vợ.
  • sau khi nghi lễ thiết lập giao ước hoàn thành. Chúa gọi Moses lên núi để ban cho 2 bảng chứng, đây là 2 bảng chứng thứ nhất, trên đó ghi 10 điều khoản chính yếu của giao ước và là vật chứng về việc giao ước đã được ký kết.
  • Giao ước được thiết lập ở đây là hình bóng của giao ước với ĐỨC CHÚA TRỜI trong CHÚA JESUS CHRIST. Nội dung chính yếu trong giao ước chỉ có một. Con người là tội nhân nên không thể nào đến gần ĐỨC CHÚA TRỜI được. Để làm được điều đó thì cần huyết của giao ước. Trong Cựu Ước thì đó chính là huyết của con sinh tế. Trong Tân Ước thì huyết của giao ước được làm trọn vẹn bằng chính huyết của CHÚA JESUS – là Chiên Con của ĐỨC CHÚA TRỜI.

Chúa Jesus khi thiết lập Tiệc Thánh đã sử dụng thuật ngữ: Huyết của giao ước. (Mác 14:24, Lu-ca 22:20)

Chúa Jesus hoàn thành giao ước bởi huyết Ngài. Và Ngài nói rằng đây là giao ước mới trong huyết ta. “Giao ước mới” không có nghĩa là thay thế cho giao ước cũ, mà có nghĩa là kế tục và hoàn thành, làm trọn vẹn giao ước. Do đó bản chất của Cựu Ước và Tân Ước là một. Sự khác nhau chỉ là ở chỗ Cựu Ước chưa được làm trọn, còn Tân Ước đã được làm trọn bởi huyết của Chúa Jesus Christ.

  • Chương 25-30: sau khi đã thiết lập giao ước Đức Chúa Trời cần hiện diện và ở cùng dân sự. Chúa mặc khải cho Moses về việc xây dựng đền tạm. Vì giao ước đã được lập nên, vì vậy cần xây dựng đền tạm và lập nên thầy tế lễ, để Đức Chúa Trời ngự xuống ở giữa dân sự và thi hành sự tể trị của Vua, thực hiện lời hứa về chủ quyền.
  • Chương 31-32: Moses ở trên núi 40 ngày nhận sự khải thị về việc xây đền tạm, và 2 bảng chứng đầu tiên trên núi, thì A-rôn và dân sự sau khi thấy Moses đi lâu không quay trở lại, họ nghĩ có thể ông đã chết. Họ lập nên thần tượng nhìn thấy được để thờ lạy. Họ làm 1 con bò con vàng. bò con là sự kết hợp của bò đực và bò cái, bò cái biểu tượng của sinh sản, bò đực biểu tượng của sự thạnh vượng.
  • A-rôn đã thờ lạy con bò vàng nhân danh Đức Giê-Hô-Va, ông không rời bỏ chức vụ, và giá trị chính yếu và quan trọng nhất trong chức vụ của ông đó là sự thịnh vượng. Đây là một sự kiện lịch sử biến Giê-hô-va Đức Chúa Trời thành Chúa của sự thịnh vượng. Điều đó có nghĩa Đức Chúa Trời của họ không khác gì thần Ba-anh, hay các thần khác của dân ngoại.
  • Câu 32:10 “Vả, bây giờ hãy để mặc ta làm, hầu cho cơn thạnh nộ ta nổi lên cùng chúng nó, diệt chúng nó đi; nhưng ta sẽ làm cho ngươi thành một dân lớn.” Chúa nổi cơn thịnh nộ với họ và Ngài muốn tiêu diệt họ đi, rồi sẽ tạo ra một dân lớn thông qua dòng dõi Moses. Nhưng thay vì cám ơn Chúa vì kế hoạch của Ngài qua ông. Moses đã cầu xin Chúa tha cho dân sự. ông cầu nguyện và thuyết phục Chúa trên 2 cơ sở. 1/ Ngợi khen Chúa. 2/ dựa trên lời hứa của Chúa với Abraham.
  • Những lời cầu nguyện của Moses đã thuyết phục được Chúa, và Chúa quyết định không tiêu diệt dân sự. nhưng Chúa trừng phạt dân sự, bởi vì tội lỗi đòi hỏi sự trả giá.
  • kết quả của tội thờ thần tượng: 2 bảng chứng bị vỡ, giao ước đã thiết lập bằng huyết trước đó bị hủy. Đó cũng là lí do Chúa ban cho bảng chứng thứ hai trong bài học ngày hôm nay.
  • Chương 33. Chúa không hủy diệt Israel. Nhưng Ngài phán Ngài sẽ không đi giữa họ, nhưng sẽ sai thiên sứ đi trước đặng dẫn họ vào xứ đượm sữa và mật. Tại sao Chúa sẽ không đi giữa họ? bởi vì tội lỗi của dân sự nghiêm trọng đến mức mà sự hiện diện của ĐỨC CHÚA TRỜI thánh khiết sẽ giết chết họ. Bởi vậy Ngài sai thiên sứ đi cùng họ. Đây có vẻ như là phương án tốt đối với dân sự, Chúa không đi cùng thì nếu họ có phạm tội không bị trừng phạt, nhưng vẫn được vào miền đất hứa. Chúa không đi cùng họ có phải là phương án tốt không? Không, câu 33:15 Moses nói với Chúa rằng “nếu chính mình Ngài chẳng đi, xin đừng đem chúng tôi lên khỏi đây.” Điều đó có nghĩa rằng Chúa là tất cả đối với ông, nếu không có Chúa thì vào miền đất hứa chẳng ý nghĩa gì.

Điều làm dân Israel khác với các dân tộc khác, chỉ có 1 điều duy nhất đó là Chúa ở cùng họ. Sự thành công, giàu có thịnh vượng không làm chúng ta khác biệt với người khác. Chỉ khi Chúa ở cùng, và chúng ta trở thành dân thánh của Ngài – đó là điều làm chúng ta khác biệt với dân ngoại.

  1. Bảng chứng thứ hai
  • Lời cầu nguyện của Moses làm Đức Chúa trời vui lòng. chương 33 câu 17 Chúa phán với ông: Ta sẽ làm điều ngươi cầu xin ta, vì ngươi được ơn trước mặt ta và ta biết ngươi bởi danh ngươi vậy. Môi-se đã cầu xin được xem thấy sự vinh hiển của Đức Chúa Trời. Lời thỉnh cầu này của Môi-se cũng chạm tới tấm lòng của Ngài. Ông không cầu xin phước hạnh cho bản thân, hay những nhu cầu của riêng mình. Ông muốn được thấy sự vinh hiển của Chúa và nhận biết Ngài. ĐỨC CHÚA TRỜI cảm động bởi lời cầu xin này của Môi-se và NGÀI trả lời cho ông trong câu 19 “19. Ðức Giê-hô-va phán ràng: Ta sẽ làm cho các sự nhân từ ta phát ra trước mặt ngươi; ta hô danh Giê-hô-va trước mặt ngươi; làm ơn cho ai ta muốn làm ơn, và thương xót ai ta muốn thương xót.”
  • Chúa đặt Moses trong hang đá và lấy tay che ông lại, khi vinh hiển đi qua Moses có thể nhìn thấy Chúa từ phía sau. Đó là thời điểm Moses cảm nhận được vinh hiển của Chúa, thời điểm đó Moses lập lại giao ước với Chúa. Trong chương 34:1 Đức Giê-hô-va phán cùng Môi-se rằng: Hãy đục hai bảng đá như hai bảng trước; rồi ta sẽ viết trên hai bảng nầy các lời đã ở nơi hai bảng kia, mà ngươi đã làm bể. Chúa ban cho ông bảng đá thứ hai. Giao ước được lập lại. Hang đá này là địa danh Chúa lập giao ước với ông. Hang đá này tượng trưng cho đền thánh, nơi thiêng liêng, nơi gặp gỡ với Đức Chúa Trời.
  • Vào khoảng hơn 500 năm sau Cũng có 1 người đã đến gặp Chúa trong hang đá này (1 Các vua 19:9 Đến nơi, người đi vào trong hang đá, ngủ đêm ở đó. Và kìa, có lời của Đức Giê-hô-va phán với người rằng: Hỡi Ê-li, ngươi ở đây làm chi? ) đó là Ê-li. Ông đi vào hang động mà trước đó Moses đã thiết lập giao ước với Chúa. Hang động mà Moses đã nhìn thấy sự vinh hiển của God mà không chết.
  • Hang động đó là nơi tôn nghiêm.
  • Moses nhận được giao ước tình yêu trong hang đá này, và từ đây hành trình 40 năm vào xứ Ca-na-an
  • hơn 500 năm sau Ê-li rời Ca-na-an sau 40 ngày đến Núi Sinai vào trong hang động. Để làm gì? 1 Các Vua 19: 9-10 Đến nơi, người đi vào trong hang đá, ngủ đêm ở đó. Và kìa, có lời của Đức Giê-hô-va phán với người rằng: Hỡi Ê-li, ngươi ở đây làm chi? 10 Người thưa rằng: Tôi đã rất nóng nảy sốt sắng vì Giê-hô-va Đức Chúa Trời vạn quân; vì dân Y-sơ-ra-ên đã bội giao ước Ngài, phá hủy các bàn thờ Ngài, dùng gươm giết những tiên tri Ngài; chỉ một mình tôi còn lại, và họ cũng kiếm thế cất mạng sống tôi. , 13-14 Khi Ê-li vừa nghe tiếng đó, thì lấy áo tơi bao phủ mặt mình, đi ra đứng tại nơi miệng hang; này có một tiếng phán với người rằng: Hỡi Ê-li, ngươi làm chi đây? 14 Người thưa rằng: Tôi rất nóng nảy sốt sắng vì Giê-hô-va Đức Chúa Trời vạn quân, vì dân Y-sơ-ra-ên đã bội giao ước của Ngài, phá hủy các bàn thờ Ngài, dùng gươm giết những tiên tri Ngài; chỉ một mình tôi còn lại, và họ cũng tìm cách cất mạng sống tôi.

Ê-li đến đây để buộc tội dân Israel phản bội lại giao ước với Chúa. phá hủy các bàn thờ Ngài, dùng gươm giết những tiên tri Ngài, chỉ một mình tôi còn lại, và họ cũng kiếm thế cất mạng sống tôi. Trước đó Ê-li đã đánh trận cầu nguyện với 450 tiên tri của Ba-anh và ông đã chiến thắng. khi dân sự thấy điều đó tất cả đều sấp mình xuống và la lên rằng: Giê-hô-va là Đức Chúa Trời!  Giê-hô-va là Đức Chúa Trời! tuy nhiên sau đó họ lại lần nữa tìm cách giết tiên tri của Đức Chúa Trời.

Sự kiện Ê-li chiến thắng và giết đi 450 tiên tri Ba-anh đó chính là lời cảnh báo cuối cùng với dân Israel, nhưng họ đã phớt lờ. mới dẫn đến sự kiện Ê-li đến hang đá đó với mục đích để buộc tội dân Israel đã phản bội lại giao ước của Đức Chúa Trời.

  • Moses khôi phục giao ước với Chúa chính trong hang đá này, và sau đó vào miền đất hứa Ca-na-an. trong 40 năm
  • Ê-li từ vùng đất Ca-na-an đến hang đá đó, để buộc tội dân Israel đã phản bội lại giao ước với Đức Chúa Trời (10).
  • Chúa trả lời sự cầu nguyện của Ê-li như thế nào (11-12)? Đức Chúa Trời phán với người rằng: Hãy đi ra, đứng tại trên núi trước mặt Đức Giê-hô-va. Nầy Đức Giê-hô-va đi ngang qua, có một ngọn gió mạnh thổi dữ tợn trước mặt Ngài, xé núi ra, và làm tan nát các hòn đá; nhưng không có Đức Giê-hô-va trong trận gió. Sau trận gió có cơn động đất; nhưng không có Đức Giê-hô-va trong cơn động đất. 12 Sau cơn động đất có đám lửa; nhưng không có Đức Giê-hô-va trong đám lửa. Sau đám lửa, có một tiếng êm dịu nhỏ nhẹ. Đó là là tiếng nói êm dịu của Đức Thánh Linh
  • Chúa không sử dụng phép lạ như khi Ngài đã làm ở Ai-cập và biển đỏ. trước đây qua phép lạ dân sự nhìn thấy quyền năng của Chúa thì họ tin. Giờ đây Chúa vận hành lịch sử theo lời của Ngài. Lời nói êm dịu nhỏ nhẹ là lời Chúa, đức tin dựa vào lời của Ngài chứ không phải phép lạ.

Câu 18 Nhưng ta đã để dành lại cho ta trong Y-sơ-ra-ên bảy ngàn người không có quì gối xuống trước mặt Ba-anh, và môi họ chưa hôn nó.

Những ai nghe tiếng nói êm dịu, đó là 7000 người còn sót lại. Họ trở về Jerusalem sống đời sống đức tin, xây dựng lại đền thờ chờ đợi sự xuất hiện của Đấng Messiah.

  • Vào thời của Chúa Jesus những ai nghe lời của Ngài, tiếng phán của Đức Thánh Linh đó chính là những người còn lại Chúa để dành ra, bảy ngàn là con số tượng trưng cho những người được chọn.
  • Ngày nay lời nói êm dịu đó là lời Chúa trong kinh thánh, những ai nghe được tiếng phán của Chúa qua kinh thánh và vâng phục, là những người Chúa để dành ra. Chúa là Đức Chúa Trời của họ. và họ là con cái của Đức Chúa Trời.
  • (Ma-thi-ơ 17:3 Nầy, có Môi-se và Ê-li hiện đến, nói chuyện cùng Ngài.) Chúa Jesus trước khi đến Giê-ru-sa-lem để chịu đóng đinh trên thập tự giá, đã lên núi hóa hình, và ở đó đã bày tỏ Vinh Quang của Ngài. Có 3 người đứng trong vinh vinh hiển. Môi-se, Ê-li và Chúa Giê-su. có một lí do cho điều này.
  • (Lu-ca 9:30-31 Và nầy, có hai người nói chuyện cùng Ngài; ấy là Môi-se và Ê-li, hiện ra trong sự vinh hiển, và nói về sự Ngài qua đời, là sự sẽ phải ứng nghiệm tại thành Giê-ru-sa-lem.) Họ nói về Cuộc Xuất Hành của Chúa Giê-xu mà Ngài sẽ thực hiện tại Giê-ru-sa-lem. Moses và Ê-li đã biết rằng Chúa Jesus bằng huyết của mình Ngài sẽ thực hiện một cuộc xuất hành thật sự trong lịch sử nhân loại.

Trong bài học hôm nay chúng ta thấy có 3 người đàn ông:

  1. Moses lập giao ước với Đức Chúa Trời: nếu dân Israel vâng theo tiếng Chúa và Chúa sẽ là Đức Chúa Trời của họ, và dân Israel sẽ là dân của Chúa, là thầy tế lễ nhà vua. Chúa ban họ 10 điều răn luật pháp và lập giao ước. Tuy nhiên giao ước này không hoàn hảo bởi Israel không tuân giữ luật pháp. bởi vậy giao ước bị phá vỡ. bởi sự cầu nguyện của Moses giao ước được lập lại.
  2. Ê-li buộc tội Israel trước Chúa, rằng dân Israel hoàn toàn phản bội lại giao ước với Đức Chúa Trời.
  3. Có 1 Đấng phải đến để hoàn thành giao ước bị phá vỡ này, đó là Chúa Jesus.

Chúa Jesus đến để thiết lập vương quốc của Đức Chúa Trời cùng 7000 người còn sót lại bằng cách đổ huyết Ngài tại Jerusalem, hy sinh chính mình Ngài để làm trọn cuộc xuất hành.

  • Moses, Ê-li, Chúa Jesus. đã bày tỏ lịch sử vĩ đại về sự cứu chuộc, về tình yêu vĩ đại của Đức Chúa Trời, qua đó bày tỏ Chúa Jesus thật sự là ai.
  1. Môi-se đã nhìn thấy Sự vinh hiển của Đức Chúa Trời trong hang đá và lập giao ước
  2. Ê-li trở lại hang đá vì giao ước đã bị phá vỡ.
  3. Chúa Giê-xu đã hoàn thành giao ước và được chôn cất trong một hang động

Đây là lịch sử của sự cứu chuộc. Tóm gọn toàn bộ kinh thánh. để những ai có đức tin vào lời Chúa qua kinh thánh đều được tham dự vào giao ước với Đức Chúa Trời, và trở thành 7000 người còn sót lại thuộc về Chúa. Amen!

Cám ơn Chúa vì bài học này cho tôi hiểu được giao ước đó là kế hoạch cứu chuộc của Đức Chúa Trời đối với con người. Cho tôi nhìn thấy tiến trình lịch sử về việc Chúa thiết lập giao ước. Trước đây tôi cứ nghĩ giao ước mới thay thế cho giao ước cũ, và giao ước cũ chỉ dành cho dân Israel, nhưng giờ đây tôi hiểu được giao ước mới trong huyết Chúa Jesus. Có nghĩa là kế tục và hoàn thành kế hoạch cứu chuộc mà Đức Chúa Trời đã thiết lập với Moses. và kế hoạch hay là giao ước đấy dành cho tất cả những ai lắng nghe có đức tin và làm theo lời Chúa qua kinh thánh. những ai có đức tin vào lời Chúa thì người đó tự động trở thành 1 phần của giao ước, tự động trở dân của Chúa và nhận được sự cứu rỗi, không quan trọng người đó thuộc chủng tộc nào, đất nước nào.

Đối với bản thân tôi để nghe được lời nói êm dịu của Chúa thì cần phải đọc kinh thánh và cầu nguyện. Xin Chúa giúp tôi luôn trung tín trong việc đọc Kinh thánh và cầu nguyện. Amen!

Be the first to comment

Leave a Reply