Xuất Ê-díp-tô ký. Bài 20.
XÂY DỰNG ĐỀN TẠM
Xuất Ê-díp-tô ký chương 25-27
Câu khóa 25:22
Đức Chúa Trời ban cho 10 điều răn và luật pháp trong chương 20-23, sau đó Ngài thiết lập giao ước qua nghi lễ rảy huyết trong chương 24 – được gọi là giao ước trong huyết. Môi-se lấy huyết của con sinh tế, một nửa rưới lên bàn thờ, còn một nửa thì đựng trong chậu. Sau đó ông đọc cuốn sách giao ước cho dân sự nghe, thì dân sự nói rằng: Chúng tôi sẽ làm và vâng theo mọi lời Đức Giê-hô-va phán chỉ. Môi-se bèn lấy huyết rưới trên mình dân sự mà nói rằng: Đây là huyết giao ước của Đức Giê-hô-va đã lập cùng các ngươi y theo mọi lời nầy (24:8). Khi Môi-se và 70 trưởng lão nhận báp-têm trong huyết cũng thề nguyện với Đức Chúa Trời và đi lên núi, ở đó họ ăn uống trước mặt Chúa mà không chết (24:11).
Sự thông công trong bàn tiệc tượng trưng cho Vương quốc của Đức Chúa Trời. CHÚA JESUS cũng đã tha tội cho Lê-vi và tham dự bữa tiệc trong nhà của Lê-vi với các tội nhân. Khi Xa-chê tiếp nhận Ngài, Ngài cũng vào nhà Xa-chê ăn uống cùng và công bố sự cứu rỗi đến nhà Xa-chê (Lu-ca 19:9). Trong sách Khải huyền 19:9 bày tỏ Nước Trời như là tiệc cưới của Chiên Con. Điều đó có nghĩa là nhờ huyết của giao ước mà dân ISRAEL được bước vào Vương quốc của Đức Chúa Trời và chính thức trở thành dân của Ngài.
CHÚA JESUS đã sử dụng cụm từ “huyết của giao ước” trong Tiệc thánh với các môn đồ. Chính CHÚA JESUS đã thiết lập giao ước với dân ISRAEL trên núi Si-nai và Ngài đã giáng thế để hoàn thành giao ước trong huyết này bằng việc đổ huyết của chính Ngài trên thập tự giá. Vậy nên CHÚA JESUS đã gọi huyết của mình là “Huyết của giao ước mới”. Tại sao lại là giao ước mới?
Giao ước đầu tiên của huyết trong chương 24 sách Xuất Ê-díp-tô bị thất bại, bởi vì dân ISRAEL không tuân giữ được. Nhưng chính Con thánh Đức Chúa Trời Jesus đã đổ huyết vô tội của Ngài cho toàn bộ nhân loại và hoàn thành giao ước trong huyết. Về việc này Hê-bơ-rơ 9:12-15 xác chứng và gọi CHÚA JESUS là “Đấng trung bảo của giao ước mới”. Khi Chúa Jesus sử dụng cụm từ “huyết của giao ước”, ý Ngài muốn nói về chính nghi lễ thiết lập giao ước trên núi Si-nai trong chương 24 Xuất Ê-díp-tô ký.
Sự kiện sau đó là Môi-se lên núi để nhận từ Đức Chúa Trời 2 bảng đá và các chỉ dẫn về việc xây dựng đền tạm. Chương 25-27 nói về việc xây dựng đền tạm. Tại sao đền tạm lại quan trọng như vậy?
Đức Chúa Trời thiết lập giao ước với dân sự để xây dựng Vương quốc của Ngài giữa họ. Vương quốc thì phải có một vị vua. Sau đó Ngài cho xây dựng cung điện để ngự xuống ở giữa họ và tể trị – đó là đền tạm. Tất cả ý nghĩa của việc này – đó là quá trình xây dựng Vương quốc của Đức Chúa Trời. Cung điện của Vua – đó là nơi thánh trong dạng lều tạm.
Chúng ta cùng suy gẫm về nơi thánh và đền thờ. Thời Tân Ước đền thờ cũng như đền tạm bị biến mất. Người ta xây dựng tòa nhà để thờ phượng và gọi đó là “xây dựng đền thờ” – đó là sai lầm. Cơ đốc giáo là tôn giáo duy nhất không sử dụng từ “đền thờ”, bởi vì đền thờ được hoàn thiện và kết thúc bởi CHÚA JESUS. Đền thờ trong Cựu Ước là hình bóng chỉ về CHÚA JESUS và đền thờ chân thật – đó là Chúa Jesus Christ (Giăng 2:19). Nếu chúng ta gọi Hội thánh là đền thờ, thì chúng ta đang quay trở về thời Cựu Ước. Từ “đền thờ” chỉ về nơi thờ phượng Đức Chúa Trời.
Bây giờ chúng ta bắt đầu học về chương 25 Xuất Ê-díp-tô ký. Đức Chúa Trời trong vòng 40 ngày đêm đặc biệt dạy dỗ Môi-se về việc xây dựng đền tạm. Chứng tỏ rằng việc xây dựng đền tạm rất quan trọng đối với Đức Chúa Trời.
- Tại sao Đức Chúa Trời lại phải xây dựng nhà của Ngài trong dạng của đền tạm?
Đền tạm – 1) đó là nơi gặp gỡ Đức Chúa Trời gặp gỡ con người, 2) là nơi Đức Chúa Trời ban lời Ngài. Đền thờ Đức Chúa Trời – đó là nơi dân ISRAEL vào để gặp gỡ Đức Chúa Trời và nhận lời của Ngài.
Lúc ban đầu con người đã từng có một nơi để gặp gỡ Đức Chúa Trời. Nhưng con người đã đánh mất nơi gặp gỡ Chúa vì cớ tội lỗi. Đức Chúa Trời tạo dựng nên cả vũ trụ và tạo dựng con người để thay Ngài quản trị thế giới. Ngài tạo dựng vườn Ê-đen để là nơi gặp gỡ đầu tiên giữa Đức Chúa Trời với con người. Vườn Ê-đen là nơi chí thánh đầu tiên. Đó là nơi mà Đức Chúa Trời ngự xuống hàng ngày và gặp gỡ với con người. Từ nơi đó có 4 con sông sự sống chảy ra. Có một chỗ khác trong Kinh thánh cũng miêu tả lại điều giống như vậy. Khải huyền 22:1-2 “Thiên sứ chỉ cho tôi xem sông nước sự sống, trong như lưu ly, từ ngôi Đức Chúa Trời và Chiên Con chảy ra. 2 Ở giữa phố thành và trên hai bờ sông có cây sự sống trổ mười hai mùa, mỗi tháng một lần ra trái; và những lá cây đó dùng để chữa lành cho các dân.” Đây là hình ảnh giống hệt vườn Ê-đen. Đây là trời mới và đất mới – là Vương quốc trên trời.
Nhưng từ khi loài người bị đuổi khỏi vườn Ê-đen, thì không còn chỗ nào là nơi xác định để con người chắc chắn có thể gặp gỡ Đức Chúa Trời nữa. Tất nhiên là Đức Chúa Trời vẫn gặp gỡ một ai đó trên đường, ở bờ sông,… nhưng không có một địa điểm xác định nào cả. Như vậy giữa Ê-đen và Vương quốc đời đời của Đức Chúa Trời chỉ còn lại nơi duy nhất để Đức Chúa Trời và con người gặp nhau – đó là đền tạm.
Nhưng tại sao đền tạm lại có kiến trúc của chiếc lều? Bởi vì Đức Chúa Trời đồng hành với dân sự suốt 40 năm trong đồng vắng, cho đến khi họ nhận được đất hứa. Và đền tạm luôn đồng hành cùng với dân ISRAEL, cho nên điều quan trọng ở đay là tính cơ động – đó chính là ân điển Emanuen. Cũng cách giống hệt như thế CHÚA JESUS đã xuống trần trong một lều tạm nhỏ có tên gọi là thể xác. Để làm gì? Để ở cùng và đồng hành cùng chúng ta (Giăng 1:14). Đó cũng chính là ân điển Emanuen.
Khi nào thì đền tạm không còn di chuyển nữa và được đặt cố định ở một nơi? Là vào thời vua David. David đã đánh chiếm toàn bộ đất Ca-na-an và ông có ý muốn dựng một ngôi nhà cho Đức Chúa Trời. Chúa đẹp lòng điều đó và Ngài ban ân điển cho Sô-lô-môn xây dựng đền thờ. Sau đó hòm giao ước được đặt trong đền thờ (1 Sử ký 22:19).
Từ lúc đó thì hòm giao ước không hề đi ra ngoài thế gian nữa. Trong lịch sử không có ai nhìn thấy nó nữa. Trong thời kỳ lưu đày Ba-by-lôn đền thờ bị phá hủy và hòm giao ước bị thất lạc.
Tại sao hòm giao ước không hề đi ra ngoài nữa? Bởi vì lời hứa về đất đai đã được hoàn thành. Dân sự không cần phải di chuyển đây đó nữa. Đức Chúa Trời ngự xuống trong đền thờ và trở thành Vua đời đời của ISRAEL.
Từ ngày đó tên gọi của thành phố cũng thay đổi: Jerusalem thành Si-ôn. Jerusalem là tên gọi lịch sử. Si-ôn là tên gọi trong tôn giáo, có nghĩa là Cung điện của Đức Chúa Trời. Trong sách tiên tri Ê-sai tên của Jerusalem được gọi là Si-ôn, và dân ISRAEL trong lúc lưu đày thì than khóc về vinh quang của Si-ôn.
- Ai làm ra bản thiết kế đền tạm? (25:9)
Chúng ta xem câu 25:8-9,40. Chính Đức Chúa Trời bày tỏ bản mẫu của đền tạm và tất cả các khí dụng trong đền tạm. Việc chính Đức Chúa Trời bày tỏ ra bản mẫu của đền tạm nói lên rằng có tồn tại đền thờ nguyên bản. Đó chính là đền thánh trên trời. Đức Chúa Trời cho Môi-se nhìn thấy bản mẫu của đền thánh trên trời.

Đền thánh trên trời và đền thờ dưới đất – đó là sự tương phản của nguyên bản và phiên bản. Chúa Jesus Christ và đền thờ trên đất – đó là nguyên bản của sự vật và hình bóng của Ngài. Chúa Jesus Christ là nguyên bản, và đền thờ là hình bóng của Ngài. Chúng ta chỉ nhìn thấy bóng. Mà khi nhìn vào bóng, chúng ta không thể nhận ra được đó là ai: là anh A hay chị B. Để nhận biết rõ ràng hình bóng, chúng ta cần phải nhìn thấy nguyên bản.
Trước đây Đức Chúa Trời đã ban một bản thiết kế cứu thuyền cho Nô-ê. Cứu thuyền của Nô-ê là hình bóng của Chúa Jesus Christ. Đền thờ và việc dâng con sinh tế trong Cựu Ước – đó là hình bóng của Chúa Jesus Christ. Chúng ta chỉ có thể hiểu đúng hình bóng, chỉ khi chúng ta nhìn vào nó qua nguyên bản là Chúa Jesus Christ. Sự giải thích này là nội dung thơ gửi người Hê-bơ-rơ. Giải nghĩa Cựu Ước phải thông qua Chúa Jesus Christ – là nguyên bản của sự vật. Đó mới là Cơ đốc giáo.
Có một dân tộc họ nhìn thấy hình bóng, nhưng họ không nhìn thấy nguyên bản. Họ vẫn còn đang chờ đợi nguyên bản. Có một người trong lịch sử đã la lớn: “Ta là nguyên bản”. Đó là Mohamed. Cả Do thái giáo và Islam đều chỉ chơi trò đuổi hình bắt bóng. Tiêu chuẩn tối thượng để giải nghĩa Kinh thánh – đó là Chúa Jesus Christ.
- Ai đã chuẩn bị nguyên vật liệu để xây dựng đền tạm? (25:1-7; 12:36)
Chúng ta xem Xuất Ê-díp-tô ký 12:36. Dân ISRAEL không cướp bóc dân Ê-díp-tô bằng vũ lực. Sau 10 tai vạ thì dân Ê-díp-tô có sự kính sợ trước Đức Giê-hô-va, cho nên họ tự nguyện dâng hết vàng bạc cho người ISRAEL. Là bởi vì Đức Chúa Trời ban cho họ được ơn trong mắt người Ai-cập.
Tại sao Đức Chúa Trời lại ban cho họ được ơn như vậy?Là bởi vì tất cả vàng bạc này sẽ được dùng để xây dựng đền tạm.
- Ai chuẩn bị các kiến trúc sư? (31:2-6)
Chúng ta xem Xuất Ê-díp-tô ký 31:2-6 “Nầy, ta đã kêu tên Bết-sa-lê-ên, con trai của U-ri, cháu của Hu-rơ, trong chi phái Giu-đa. 3 Ta đã làm cho người đầy dẫy Thần của Đức Chúa Trời, sự khôn ngoan, sự thông sáng, và sự hiểu biết để làm mọi thứ nghề thợ, 4 đặng bày ra và chế tạo đồ vàng, bạc và đồng, 5 đặng khắc và khảm ngọc, đẽo gỗ và làm được mọi thứ nghề thợ. 6 Đây, ta lại cho một người phụ việc, tên là Ô-hô-li-áp, con trai của A-hi-sa-mạc, trong chi phái Đan. Ta cũng đã ban sự thông minh cho mọi người tài năng, hầu cho họ làm các việc ta đã phán dặn ngươi”. Đức Chúa Trời chuẩn bị 2 người. Họ có tài năng và kiến thức. Nhưng xây dựng đền thánh không thể bằng sức lực và tài năng của con người. Cho nên Đức Chúa Trời ban cho họ được đầy dẫy Thần của Ngài, và sự khôn ngoan, sự thông sáng, và sự hiểu biết.
Như vậy Đức Chúa Trời ban cho các bản thiết kế, nguyên vật liệu, thợ xây dựng. Đức Chúa Trời chuẩn bị mọi thứ. Đức Chúa Trời làm mọi việc. Sáng kiến là đến từ phía Ngài. Rõ ràng là Đức Chúa Trời rất muốn xây dựng nên đền tạm. Tại sao? Vì đền tạm này là hình bóng của Chúa Jesus Christ. Chúa Jesus Christ mới là đền thánh chân thật.
Chúng ta xem Hê-bơ-rơ 9:12 “Ngài đã vào nơi rất thánh một lần thì đủ hết, không dùng huyết của dê đực và của bò con, nhưng dùng chính huyết mình, mà được sự chuộc tội đời đời.” CHÚA JESUS đã trở thành đền thánh chân thật bằng cách nào? Ngài đã từng nói: “Hãy phá đền thờ nầy đi, trong ba ngày ta sẽ dựng lại!” (Giăng 2:19). Điều đó có nghĩa là CHÚA JESUS phục sinh từ cõi chết vào ngày thứ ba, nghĩa là Ngài đã chuộc hết tất cả tội lỗi của thế gian. Đó là sự hoàn thành và kết thúc của đền tạm.
Ai đã phục sinh Ngài? Chính Đức Chúa Trời đã ban cho Ngài thân thể phục sinh qua Đức Thánh Linh (Rô-ma 8:11). “Lại nếu Thánh Linh của Đấng làm cho Đức Chúa Jêsus sống lại từ trong kẻ chết ở trong anh em, thì Đấng làm cho Đức Chúa Jêsus Christ sống lại từ trong kẻ chết cũng sẽ nhờ Thánh Linh Ngài ở trong anh em mà khiến thân thể hay chết của anh em lại sống.”
Chính Đức Chúa Trời đã dựng nên đền thờ chân thật qua sự phục sinh của CHÚA JESUS. Bằng cách đó chúng ta cũng được ban cho thân thể phục sinh giống CHÚA JESUS, vì lẽ đó mà sứ đồ Phao-lô nói rằng thân thể của chúng ta là đền thờ thánh (1 Cor 6:19).
Đặc ân chúng ta được hưởng là chính thân thể của chúng ta trở thành nơi xác định để chắc chắn gặp gỡ được Đức Chúa Trời bất cứ lúc nào và ở đâu. Vì vậy Ngài có thể làm trổi hơn vô cùng mọi việc chúng ta cầu xin hoặc suy tưởng. Từ phía khác chúng ta không được làm ô uế đền thờ thánh của Đức Chúa Trời bằng tà dục và rượu thuốc lá. Hãy sống trong sự thánh khiết. Amen.
Leave a Reply
Bạn phải đăng nhập để gửi phản hồi.