CON ĐƯỜNG DẪN ĐẾN SỰ SỐNG ĐỜI ĐỜI
Mác 10:1-31
Câu khóa 10:21
Trong bài học Kinh thánh chương trước Chúa dạy dỗ chúng ta về tính nghiêm trọng của tội lỗi, và chúng ta phải luôn luôn chiến đấu chống lại tội lỗi. Phân đoạn Kinh thánh ngày hôm nay qua 2 sự việc với người pha-ri-si và người trai trẻ giàu có cho chúng ta thấy những người rất tự tin trong sự công bình riêng, nhưng thực ra lại là những tội nhân đáng thương đang đi xuống hỏa ngục. CHÚA JESUS cảnh báo các môn đồ và cả chúng ta khỏi con đường tự lừa dối này và mở mắt cho chúng ta để chúng ta đi theo con đường của Tin Lành CHÚA JESUS – là con đường duy nhất dẫn đến chiến thắng và sự sống đời đời. Amen.
I. Người pha–ri–si và trẻ em (1-16)
- CHÚA JESUS đi đâu? Ngài tiếp đón dân chúng như thế nào? (1) Người pha-ri-si đã thử Ngài như thế nào? (2) Môi-se đã dạy điều gì? (3-4) Tại sao ông lại đưa ra điều răn này? (5)
Chúng ta xem câu 1-2 “1 Đức Chúa Jêsus từ đó mà đi, qua bờ cõi xứ Giu-đê, bên kia sông Giô-đanh. Đoàn dân đông lại nhóm họp cùng Ngài, Ngài dạy dỗ chúng y như lệ thường. 2 Các người Pha-ri-si bèn đến gần hỏi để thử Ngài rằng: Người nam có phép để vợ mình chăng?”
Lúc này CHÚA JESUS và các môn đồ đang thẳng tiến đến Jerusalem, và họ chuẩn bị đi vào địa phận của xứ Giu-đê. Như thường lệ cứ nơi nào Chúa đến, thì Ngài dạy dỗ dân chúng lời Đức Chúa Trời, bởi vì điều mà con người cần nhất đó là lời của Đức Chúa Trời. Trong lời của Chúa có chìa khóa để giải quyết mọi nan đề.
Ở đây người pha-ri-si bèn đến để thử Ngài. Họ hỏi Chúa: “Người nam có phép để vợ mình chăng?” Cái bẫy gài của câu hỏi này nằm ở chỗ nào? Người pha-ri-si biết rõ thái độ không thỏa hiệp của CHÚA JESUS đối với tội lỗi. Mà thời đó, cũng như cả thời nay, phần đông con người đều cho rằng ly dị không phải là tội lỗi, mà đó là quyền tự do cá nhân, và là một việc rất bình thường. Thậm chí những lãnh đạo tôn giáo cũng nghĩ và dạy dỗ dân chúng như vậy. Họ cho rằng có thể ly dị vợ vì bất cứ lý do gì: nấu ăn dở, cãi lại mẹ chồng, đứng ngoài đường trò chuyện với người đàn ông khác,… Do đó nếu CHÚA JESUS tuyên bố chống ly dị, thì Ngài sẽ đánh mất phần đông lá phiếu các cử tri ủng hộ mình.
Nhưng CHÚA JESUS đã trả lời như thế nào? Chúng ta xem câu 3-4 “3 Ngài trả lời rằng: Vậy chớ Môi-se dạy các ngươi điều chi? 4 Họ thưa rằng: Môi-se có cho phép viết tờ để và cho phép để vợ.” CHÚA JESUS dẫn họ đến với Thánh Kinh Phục truyền 24:1-4 “Khi một người nam cưới vợ, nếu nàng chẳng được ơn trước mặt người, bởi người thấy nơi nàng một sự xấu hổ nào, thì người được viết một tờ để, trao vào tay nàng, đuổi khỏi nhà mình. 2 Khi nàng đã ra khỏi nhà người, đi làm vợ một người khác, 3 nếu người chồng thứ nhì lại ghét nàng, viết cho một tờ để, trao vào tay nàng và đuổi khỏi nhà mình, hay là người chồng thứ nhì nầy chết đi, 4 thì người chồng thứ nhất là người đã đuổi nàng đi, không được phép lấy nàng lại làm vợ, sau khi nàng bị ô uế.” Trong phân đoạn Kinh thánh này nội dung chính là Môi-se không hề khuyến khích việc ly dị, mà ở đây ông không cho phép cưới lại người vợ đã bị để, vì trong trường hợp này thường người vợ sẽ bị ngược đãi, hắt hủi thậm tệ. Trong xã hội thời đó người phụ nữ không chồng và trẻ mồ côi không được bảo vệ, và họ hay rơi vào tình trạng nghèo đói, bị ngược đãi, không nơi nương tựa. Do đó Môi-se ra lệnh phải trao cho người vợ bị bỏ tờ để, để cho phụ nữ bị bỏ được quyền làm lại cuộc đời, lấy chồng khác và được bảo vệ. Mục đích của đoạn Kinh thánh Cựu ước này là lòng thương xót và đồng cảm đối với tầng lớp phụ nữ bị chồng ngược đãi, chứ không phải cho phép ly dị. Vì thế CHÚA JESUS phán trong câu 5 “5 Đức Chúa Jêsus phán rằng: Ấy vì cớ lòng các ngươi cứng cỏi, nên người đã truyền mạng nầy cho.” Nhưng người pha-ri-si lại viện những câu Kinh thánh này để hợp pháp hóa tội lỗi và xây dựng nên cả một nền tảng giáo lý cho phép ly dị.
- Hôn nhân chân chính phải như thế nào? CHÚA JESUS dạy gì về điều này? (6-12)
Quan điểm của Đức Chúa Trời đối với hôn nhân, gia đình và sự ly dị luôn đồng nhất từ buổi sáng thế đến tận thế. Chúng ta xem câu 6-9 “6 Nhưng từ lúc đầu sáng thế, Đức Chúa Trời làm ra một người nam và một người nữ. 7 Vì cớ đó, người nam lìa cha mẹ mình mà dính díu với vợ; 8 và hai người cùng nên một thịt mà thôi. Như thế, vợ chồng chẳng phải là hai nữa, mà chỉ một thịt. 9 Vậy, người ta không nên phân rẽ những kẻ mà Đức Chúa Trời đã phối hiệp. ” Ở đây chúng ta học về lẽ thật của hôn nhân là giao ước thánh giữa một người nam và một người nữ. Đức Chúa Trời không tạo nên chế độ đa thê, hay là hôn nhân đồng tính. Câu “Đức Chúa Trời đã phối hiệp” nói lên rằng hôn nhân là thẩm quyền của Đức Chúa Trời, không nằm trong quyền hạn của con người. Do đó hôn nhân là thánh, mà ai đụng đến đồ thánh là phạm tội với Đức Chúa Trời. Vì thế nên câu “người ta không nên phân rẽ những kẻ mà Đức Chúa Trời đã phối hiệp” – có nghĩa là ly dị là tội lỗi trước mặt Chúa.
Nhưng các môn đồ vẫn không hiểu, tại sao Chúa lại quá nghiêm khắc trong vấn đề hôn nhân? Chẳng nhẽ tôi nhỡ sai lầm, rồi phải cả đời chịu hận? Nếu nhỡ tôi không tìm hiểu kỹ và lấy phải một người chồng hay vợ không hợp? Chẳng nhẽ tôi phải khổ sở suốt đời không được hạnh phúc? Cho nên các môn đồ mới hỏi riêng Chúa trong câu 10 “10 Khi ở trong nhà, môn đồ lại hỏi Ngài về việc ấy”. CHÚA JESUS trả lời rất rõ ràng “11 Ngài phán rằng: Ai để vợ mình mà cưới vợ khác, thì phạm tội tà dâm với người; 12 còn nếu người đàn bà bỏ chồng mình mà lấy chồng khác, thì cũng phạm tội tà dâm.” Trong Cựu ước ai phạm tà dâm bị ném đá đến chết. Ly dị cũng giống như tội tà dâm – là những tội lỗi gớm ghiếc trước Chúa. Trong Ma-la-chi 2:16 Đức Chúa Trời phán rất rõ ràng “ta ghét người nào bỏ vợ”.
Nhưng tại sao tác giả Mác lại đưa ra vấn đề ly dị trong văn mạch nói về con đường dẫn đến sự cứu rỗi? Vấn đề ở chỗ là người pha-ri-si cho rằng việc giữ gìn các quy tắc và lời truyền khẩu chính là thực hiện luật pháp của Đức Chúa Trời và sẽ giúp cho con người nhận được sự cứu rỗi. Họ cho rằng bản chất của đức tin là giữ gìn những quy tắc luật lệ được đặt ra. Nhưng họ đánh mất tinh thần chính yếu của luật pháp Chúa – là tình yêu thương, họ quên đi lẽ thật về tội lỗi và về sự thánh khiết của Đức Chúa Trời. Trong vấn đề ly dị họ cho rằng họ làm đúng khi tuân giữ tất cả các quy tắc – viết tờ để, thả cho người vợ cũ đi, cưới vợ trẻ đẹp hơn – và họ vẫn nghĩ họ công bình trước mặt Đức Chúa Trời. Nhưng CHÚA JESUS chỉ ra rằng họ là những kẻ phạm tội tà dâm và giả hình. Bằng việc tuân giữ luật pháp họ không lên được Thiên đường, mà đi thẳng xuống hỏa ngục, và còn kéo theo nhiều người khác nữa.
Các môn đồ của CHÚA JESUS cũng theo những quan điểm như thế. Hãy xem trong Ma-thi-ơ 19:10 “Môn đồ thưa rằng: nếu phận người nam phải xử với vợ mình như vậy thì thà không cưới vợ là hơn.” Họ hiểu rằng họ, cũng như tất cả nhân loại không thể tuân giữ tiêu chuẩn tuyệt đối của Đức Chúa Trời được.
Khi đó CHÚA JESUS bắt đầu dẫn dắt họ vào lẽ thật của sự cứu rỗi.
- Người ta đem những con trẻ đến với CHÚA JESUS để làm gì? Tại sao các môn đồ lại không cho phép? (13) Tại sao CHÚA JESUS phán với các môn đồ phải cho trẻ con đến với Ngài? (14) Ai có thể vào được Nước Thiên Đường? (15) CHÚA JESUS Đấng chúc phước cho con trẻ là Đấng như thế nào? (16)
Chúng ta hãy xem câu 13-14 “13 Người ta đem những con trẻ đến cùng Ngài, đặng Ngài rờ chúng nó; nhưng môn đồ trách những kẻ đem đến. 14Đức Chúa Jêsus thấy vậy, bèn giận mà phán cùng môn đồ rằng: Hãy để con trẻ đến cùng ta, đừng cấm chúng nó; vì nước Đức Chúa Trời thuộc về những kẻ giống như con trẻ ấy.”
Trong mắt của các môn đồ thì trẻ con không có giá trị gì trong sự thờ phượng. Chúng không hiểu gì về giáo lý, chúng không thể tuân giữ luật pháp, luôn gây ồn ào mất trật tự. Vì thế các môn đồ ngăn cấm người ta đem con trẻ đến với Chúa. Việc này đã gây nên sự phẫn nộ của CHÚA JESUS. Quan điểm của Ngài về con trẻ hoàn toàn khác. Ngài phán “nước Đức Chúa Trời thuộc về những kẻ giống như con trẻ ấy.” Nước Thiên đàng không thuộc về những người hiểu biết nhiều về luật pháp, giữ gìn mọi luật lệ, quy tắc tôn giáo. Mà thuộc về những người đến với Đức Chúa Trời với tấm lòng đơn sơ như con trẻ, tin nhận Tin Lành của CHÚA JESUS. Thuộc về những ai xưng nhận sự yếu đuối, bất lực của mình, và đơn giản đến với CHÚA JESUS để tiếp nhận phước hạnh và món quà cứu rỗi được Ngài ban cho bởi ân điển.
Còn người pha-ri-si và các môn đồ thì lại quá ư là người lớn, phức tạp, kiêu ngạo. Họ muốn tự nỗ lực, dựa vào sức của mình để đạt được sự tự xưng công bình, không cần ân điển của CHÚA JESUS. CHÚA JESUS phán “15 Quả thật, ta nói cùng các ngươi, ai chẳng nhận lấy nước Đức Chúa Trời như một đứa trẻ, thì chẳng được vào đó bao giờ. 16 Ngài lại bồng những đứa trẻ ấy, đặt tay trên chúng nó mà chúc phước cho.” Nếu chúng ta chỉ trông cậy vào sự nhân từ của Đức Chúa Trời, tiếp nhận ân điển cứu rỗi được ban cho cách nhưng không như con trẻ, thì chúng ta mới có thể bước vào được Nước Thiên Đàng. Điều này thật quá dễ và đơn giản đối với con trẻ, nhưng lại quá khó đối với người lớn, là người luôn cố đạt được mọi thứ bằng sức của mình. Để xác chứng lẽ thật này CHÚA JESUS lại đưa ra thêm một ví dụ nữa về người trai trẻ giàu có.
II. Người trai trẻ giàu có và các môn đồ (17-31)
4. Có một người chạy đến với CHÚA JESUS để hỏi Ngài về chuyện gì? (17) CHÚA JESUS trả lời như thế nào? Con người phải thực hiện những điều răn nào để có thể được hưởng sự sống đời đời? (18-19)
Chúng ta xem câu “ 17 Ngài đang ra đi, có một người chạy lại, quì trước mặt Ngài, mà hỏi rằng: Thưa thầy nhân lành, tôi phải làm chi cho được hưởng sự sống đời đời?”
Từ những sách Tin Lành khác chúng ta biết rằng người này là một chàng trai trẻ, và là quan chức, có thể là chủ nhà hội. Khi chúng ta đọc về anh ta, chúng ta thật ngưỡng mộ. Được thừa hưởng sự giáo dục tốt, giữ gìn mọi điều răn, sống một đời sống rất đạo đức, có rất nhiều phẩm chất tốt. Hãy xem mặc dù anh ta là quan chức, mà lại quỳ xuống trước mặt một ông thầy nhà quê, lại xem anh ta quan tâm đến những vấn đề thuộc linh – về sự sống đời đời, về sự cứu rỗi. Nhưng tại sao câu chuyện này lại có kết thúc thật đáng buồn như vậy?
Ngay trong câu hỏi đầu tiên của anh ta đã thấy rõ nan đề. Anh ta gọi CHÚA JESUS là “thầy nhân lành”. Nhân lành – có nghĩa là có bản chất tốt bụng, thánh thiện. Anh ta nhìn CHÚA JESUS không như một Đấng Messiah, mà như một người thầy, một con người mà bằng đời sống đạo đức có thể đạt đến sự nhân lành, công bình và thánh khiết. Do đó CHÚA JESUS đã sửa sai lầm của anh ta trong câu 18 “Đức Chúa Jêsus phán rằng: Sao ngươi gọi ta là nhân lành? Chỉ có một Đấng nhân lành, là Đức Chúa Trời.”
Người trai trẻ này cho rằng bằng việc làm và sự nỗ lực con người có thể đạt đến sự công bình, và tự cứu rỗi. Bản thân anh ta cũng tin rằng mình là người nhân lành: không phạm điều răn nào, sống đạo đức, học Thánh kinh, dâng của tế lễ, từ thiện cho người nghèo… Rõ ràng anh ta có nhiều điểm tốt hơn người khác, nhưng điều đó có làm cho anh ta trở thành nhân lành hay không? Không. Nếu không thế thì anh ta sẽ không đau đầu vì câu hỏi về sự cứu rỗi.
Sự nhân lành, sự thánh khiết thật chỉ có nơi Đức Chúa Trời. Con người không thể nào đạt được sự công bình thánh khiết bằng sức của mình.
- Người đó đã trả lời Chúa như thế nào? (20) Anh ta còn thiếu chỉ đúng một điều gì? (21) Tại sao anh ta lại đi khỏi rất buồn bã? (22)
Nhưng người trai trẻ này nhìn bản thân như người công bình. Để trả lời cho câu hỏi của CHÚA JESUS về các điều răn, anh ta rất tự tin: “19 Ngươi biết các điều răn: Đừng phạm tội tà dâm; đừng giết người; đừng trộm cướp; đừng làm chứng dối; đừng làm gian; hãy hiếu kính cha mẹ. 20 Người thưa rằng: Lạy thầy, tôi đã giữ mọi điều đó từ khi còn nhỏ.” Như vậy nan đề chính yếu của người thanh niên này ở chỗ là anh ta bị sai lầm – có thể rất chân thành – trong nhận biết về bản thân và về bản chất của các điều răn. Anh ta chỉ giữ gìn điều răn trên bề nổi, nhưng không hiểu rõ chiều sâu. Ví dụ “đừng giết người” – không chỉ nói về giết mạng sống thể xác, mà còn là sự giận dữ, hận thù, không tha thứ, chửi rủa – trước mặt Đức Chúa Trời tất cả đều là “giết người” (Ma-thi-ơ 5:21-22). Còn nhìn phụ nữ với lòng ham muốn cũng là tội tà dâm rồi.
Nếu như người trai trẻ này nhìn vào bản thân theo tinh thần của các điều răn, thì anh ta sẽ nhìn thấy tội lỗi và bản ngã tội lỗi của mình, chứ không nhân lành như anh ta tưởng. Sau này Mác viết thêm trong 12:30-31 “Ngươi phải hết lòng, hết linh hồn, hết trí khôn, hết sức mà kính mến Chúa là Đức Chúa Trời ngươi. 31 Nầy là điều thứ hai: Ngươi phải yêu kẻ lân cận như mình. Chẳng có điều răn nào lớn hơn hai điều đó”. Nội dung của các điều răn kết lại ở một động từ: yêu, yêu kính Đức Chúa Trời và yêu kẻ lân cận. Để giúp anh ta nhìn thấy bản thân, CHÚA JESUS đưa ra một thử thách. Nếu ngươi yêu Đức Chúa Trời như vậy, nếu ngươi thánh khiết như vậy, quý trọng sự cứu rỗi như vậy, thì hãy làm 1 việc. Hãy xem câu 21 “Đức Chúa Jêsus ngó người mà yêu, nên phán rằng: Nhưng ngươi còn thiếu một điều. Hãy đi, bán hết gia tài mình, đem thí cho kẻ nghèo khổ, chắc sẽ được của báu ở trên trời, rồi hãy đến mà theo ta. Song nét mặt người nầy rầu rĩ về lời đó, đi ra rất buồn bã, vì có nhiều của lắm.” Như vậy rõ ràng anh ta không giữ điều răn quan trọng nhất. Anh ta yêu của cải của mình, yêu bản thân, yêu cuộc sống giàu có tiện nghi hơn. Anh ta cũng muốn sự cứu rỗi, nhưng chỉ là điều thêm vào cái mà anh ta đang có, và phải trên những điều kiện của anh ta. Đáng tiếc là một trường hợp đầy triển vọng lại kết thúc cách bi kịch như vậy.
- Kẻ giàu vào Nước Thiên Đường khó như thế nào? (23-25) Ai đưa ra quyết định về sự cứu rỗi? (27)
Chúng ta xem câu 23 “Bấy giờ Đức Chúa Jêsus ngó xung quanh mình, mà phán cùng môn đồ rằng: Kẻ giàu vào nước Đức Chúa Trời khó là dường nào!” Các môn đồ bị sốc nặng. Bởi vì theo họ người trai trẻ này là hình mẫu lý tưởng trong xã hội Do thái và anh ta phải gần Đức Chúa Trời và Vương quốc của Ngài hơn ai cả – anh ta giữ các điều răn, phục vụ trong nhà hội, dâng của tế lễ toàn những con sinh tế đắt tiền không tỳ vết, làm từ thiện nhiều. Nếu một người như thế mà không vào được Nước Đức Chúa Trời thì ai có thể vào được? CHÚA JESUS phải nhắc lại cho họ “Môn đồ lấy mấy lời đó làm lạ. Nhưng Đức Chúa Jêsus lại phán rằng: Hỡi các con, những kẻ cậy sự giàu có vào nước Đức Chúa Trời khó là dường nào! 25 Con lạc đà chui qua lỗ kim còn dễ hơn người giàu vào nước Đức Chúa Trời.” Câu này có nghĩa là điều không thể. CHÚA JESUS dẫn dắt các môn đồ đến kết luận rằng không ai có thể tự cứu được mình: không bằng việc giữ luật lệ quy tắc của người pha-ri-si, không bằng đời sống đạo đức của người trai trẻ giàu có.
Hãy xem câu 26 “Môn đồ lại càng lấy làm lạ, nói cùng nhau rằng: Vậy thì ai được cứu?” Ai có thể được cứu rỗi? Khi chúng ta nhìn vào tiêu chuẩn tuyệt đối của Đức Chúa Trời, đặc biệt khi chúng ta thử cố gắng làm theo, thì chúng ta hiểu rằng chúng ta sẽ không bao giờ đạt được. Nếu nhìn một cách trung thực vào sâu thẳm tấm lòng chúng ta thấy lòng người thật dối trá và bại hoại. Bằng sự tự xưng công bình riêng, chúng ta không thể nào đạt đến sự cứu rỗi. Đó là điều mà các môn đồ đã hiểu ra.
Chúng ta xem câu 27 “Đức Chúa Jêsus ngó môn đồ mà rằng: Sự đó loài người không thể làm được, nhưng Đức Chúa Trời thì chẳng thế; vì Đức Chúa Trời làm mọi sự được cả.” Con đường dẫn đến sự cứu rỗi không phải là việc của loài người, mà là công việc của Đức Chúa Trời. Khi chúng ta nhận biết mình là tội nhân kinh khủng, đáng bị trừng phạt đời đời dưới hỏa ngục, chúng ta sẽ tìm kiếm sự nhân từ và thương xót của Chúa. Chúng ta bắt đầu hiểu ý nghĩa sự chết chuộc tội của CHÚA JESUS trên thập tự giá. Sự chết của Ngài trở thành chiến thắng vinh hiển mở toang cánh cửa vào Nước Thiên Đường. Đối với các môn đồ bài học này rất cần thiết để nhận biết ý nghĩa của con đường thập tự giá của CHÚA JESUS mà họ không thể nào hiểu và tiếp nhận được. Chỉ thập tự giá mới dẫn chúng ta đến chiến thắng vinh hiển, đến sự cứu rỗi đời đời và phước hạnh trong đời này và đời sau.
- Phi-e-rơ kiêu hãnh về điều gì? (28) CHÚA JESUS hứa gì với ai vì Chúa và Tin Lành từ bỏ mọi thứ? (29-30) Câu “có nhiều kẻ đầu sẽ nên rốt; có kẻ rốt sẽ nên đầu” có nghĩa là gì? (31)
Có một câu hỏi: nếu Chúa phán với tôi đúng như với người trai trẻ giàu có thì tôi phải làm thế nào? Tôi có làm như thế được không? Trên lý thuyết, nếu Chúa phán, thì phải làm theo như vậy, nếu không sẽ đánh mất sự cứu rỗi giống người trai trẻ này. Trên thực tế, Chúa không bao giờ đòi hỏi chúng ta làm quá sức mà chúng ta có thể. Hoặc là Chúa sẽ chuẩn bị lòng chúng ta để chúng ta có thể vâng lời, hoặc là Ngài chỉ cần nhìn thấy thái độ của tấm lòng. Giống như khi Chúa đòi hỏi Abraham dâng Isaac, Ngài chỉ muốn nhìn thấy ở chúng ta tấm lòng sẵn sàng vâng phục Ngài. Sau đó Ngài ban thưởng đầy dẫy. Chúng ta xem câu 28-31 “Phi-e-rơ liền thưa cùng Ngài rằng: Nầy, chúng tôi đã bỏ hết mà đi theo thầy. 29 Đức Chúa Jêsus đáp rằng: Quả thật, ta nói cùng các ngươi chẳng một người nào vì ta và Tin Lành từ bỏ nhà cửa, anh em, chị em, cha mẹ, con cái, đất ruộng, 30 mà chẳng lãnh được đang bây giờ, trong đời nầy, trăm lần hơn về những nhà cửa, anh em, chị em, mẹ con, đất ruộng, với sự bắt bớ, và sự sống đời đời trong đời sau. 31 Nhưng có nhiều kẻ đầu sẽ nên rốt; có kẻ rốt sẽ nên đầu.”
Khi chúng ta tiếp nhận Tin Lành với tấm lòng con trẻ, công nhận sự yếu đuối bất lực của mình, rồi trông cậy vào ân điển của Chúa, điều đó có vẻ không anh hùng lắm. Nhưng đó chính là con đường chiến thắng dẫn đến sự sống đời đời. chúng ta cầu nguyện để Chúa dẫn dắt chúng ta trên con đường này, để chúng ta nhìn thấy bản thân mình, và đến với CHÚA JESUS để nhận sự thương xót và sự cứu rỗi cho nhân loại mở ra trên thập tự giá của Ngài. Amen.
Leave a Reply
Bạn phải đăng nhập để gửi phản hồi.