CHÚA GIÊ-XU LÀ CHÚA CỨU THẾ
Mác 8:27-38
Câu khoá 8:29,34
Phần 2 trong sách Mác là con đường từ Ga-li-lê đến Jerusalem. Phần này được miêu tả giống như một chiếc bánh mì kẹp sandwich, trước và sau là 2 sự kiện CHÚA JESUS chữa lành cho 2 người mù ở Bết-sai-đa và ở Giê-ri-cô. Điều đó tượng trưng cho tình trạng thuộc linh của các môn đồ. Phân đoạn Kinh thánh hôm nay xảy ra sau sự chữa lành người mù ở Bết-sai-đa, có thể ngụ ý về sự sáng mắt thuộc linh với câu hỏi CHÚA JESUS là ai? Trọng tâm của sự dạy dỗ trên đường đi này là con đường của các môn đồ là con đường của thập tự giá, con đường của sự hy sinh mình.
Phân đoạn Kinh thánh này là điểm cao trào trong bố cục của sách Tin lành theo Mác. Đây là bước ngoặt trong cuộc đời và mục vụ của Chúa JESUS. Ở đây Chúa JESUS đã hỏi các môn đồ của Ngài một câu hỏi quan trọng nhất, mà câu trả lời quyết định số phận đời đời của chúng ta. Phi-e-rơ đã cho một câu trả lời đúng. Sau sự kiện này Chúa JESUS chấm dứt mục vụ rao giảng Tin Lành, mà bắt đầu đi thẳng lên Giê-ru-sa-lem để chết trên thập tự giá. Chúng ta cầu nguyện để qua bài học hôm nay Đức Thánh Linh khải thị rõ ràng cho chúng ta 2 điều: 1/ nhận biết Chúa JESUS là ai, để mỗi cá nhân có câu trả lời rõ ràng cho câu hỏi: “Nhưng các ngươi thì nói ta là ai?” 2/ con đường của các môn đồ là gì? Amen.
1. Nhưng các ngươi thì nói ta là ai? (27-30)
Chúng ta xem câu 27 “Ðức Chúa Jêsus đi khỏi đó với môn đồ mình, đến trong các làng gần thành Sê-sa-rê phi-líp. Dọc đàng, Ngài hỏi môn đồ rằng: Người ta nói ta là ai?”
Đến thời điểm này Chúa JESUS đã rao giảng Tin lành Nước Trời rộng rãi trên toàn nước Israel. Ngài đã đi qua tất cả các vùng: Giu-đê ở phía nam, Sa-ma-ri ở giữa, Ga-li-lê là quê Ngài, và bây giờ là thành Sê-sa-rê Phi-lip nằm về phía bắc Israel. Có thể nói đến thời điểm này tất cả dân Do-thái trong toàn lãnh thổ Israel đã được nghe về Tin lành. Sau mốc thời gian này CHÚA JESUS kết thúc mục vụ của Ngài ở Ga-li-lê và Ngài đi thẳng lên Jerusalem để chịu chết trên thập tự giá, hoàn thành sứ mệnh cứu chuộc nhân loại mà Đức Chúa Cha giao cho. Giờ là lúc cần phải tổng kết lại kết quả của mục vụ ở Ga-li-lê. Cho nên, trong lúc đi đường Ngài hỏi một câu hỏi trắc nghiệm: “Người ta nói ta là ai?” Các môn đồ rất hào hứng rôm rả kể lại quan điểm của người khác: “Thưa rằng: Kẻ thì nói là Giăng Báp-tít; người thì nói là Ê-li; kẻ thì nói một trong các đấng tiên tri.”
Ở đây chúng ta có cảm giác dường như Chúa JESUS rất quan tâm đến việc người khác nghĩ về mình như thế nào. Thực ra câu hỏi này chỉ là tiền đề cho câu hỏi quan trọng thứ hai. Chúng ta xem câu 29 “Ngài hỏi: Nhưng các ngươi thì nói ta là ai? Phi-e-rơ thưa rằng: Thầy là Ðấng Christ.” Ở đây chúng ta có thể tưởng tượng ra cảnh tượng các môn đồ của Chúa JESUS đang rất hào hứng và ồn ào kể lại quan điểm của người khác. Nhưng khi Chúa JESUS hỏi đến quan điểm cá nhân của họ, thì tất cả chợt im lặng, há hốc mồm nhìn xung quanh cầu cứu. Dù như thế nào đi nữa thì họ nhận ra rằng họ không có câu trả lời. Họ là những người sống theo quan điểm và sự suy đoán của người khác, phụ thuộc vào ý kiến của người khác. Đây là một câu hỏi khó vì nó đòi hỏi ý kiến cá nhân. Kể lại ý kiến của người khác thì rất dễ, nhưng nêu lên ý kiến cá nhân lại khó, vì nếu bạn trả lời sai, thì đó là lỗi của cá nhân bạn. Câu hỏi này là một câu hỏi có lẽ quan trọng nhất đối với mỗi người sống trên mặt đất này, vì câu trả lời đúng sai sẽ quyết định chỗ chúng ta ở đâu trong cõi đời đời. Đây là một bài thi mà chúng ta không có quyền làm sai.
Vào lúc đó Phi-e-rơ đã quả quyết trả lời: “Thầy là Ðấng Christ”. Đấng Christ, trong tiếng Do-thái là Đấng Messiah có nghĩa là “Đấng được xức dầu”. Thời Cựu ước người được Đức Chúa Trời xức dầu để làm 3 chức vụ: 1/ làm vua, 2/ làm nhà tiên tri, 3/ làm thầy tế lễ thượng phẩm. Xuyên xuốt cả Cựu Ước là lời hứa của Đức Chúa Trời về việc Ngài sẽ ban cho dân Israel Đấng Messiah, là Cứu Chúa sẽ đến để cứu và phục hồi lại vương quốc huy hoàng thời vua David cho Israel. Cả 3 chức vụ cao cả này được thực hiện trọn vẹn trong Chúa JESUS. Khi Phi-e-rơ tuyên xưng: “Thầy là Ðấng Christ”, điều đó có nghĩa là Chúa JESUS chính là Đấng Messiah mà Đức Chúa Trời đã hứa ban cho dân Israel và cả nhân loại. Đột ngột Phi-e-rơ được Đức Thánh Linh bày tỏ một cách rất rõ ràng rằng trước mắt ông không phải là một người thợ mộc bình thường của xứ Ga-li-lê, mà đó là Đấng Cứu Thế. Nhận biết rằng Chúa JESUS là Đấng Cứu Thế không phải là một kết luận của trí thông minh, của logic, đó là một sự mặc khải đến từ Đức Thánh Linh.
Chúng ta xem câu 30 “Ðức Chúa Jêsus bèn cấm ngặt môn đồ chớ nói sự mình cùng ai hết”. Đây là câu Kinh Thánh hay gây sự khó hiểu. Rõ ràng Chúa JESUS mong muốn để người ta biết và tin nhận Ngài là Đấng Christ. Đó là điều mà môn đồ của Chúa cần phải rao giảng cho thế gian. Thế mà ở đây Ngài lại cấm không được nói. Tại sao? Vào thời điểm lịch sử đó, dân Do-thái hiểu sai về Đấng Christ. Họ nghĩ rằng Chúa JESUS đến như một vị vua chính trị, Ngài đến để thay đổi thể chế chính trị, xã hội. Nhờ Ngài đời sống trên đất sẽ được cải thiện, bao gồm: tài chính, sức khoẻ, an sinh xã hội,…. Do đó nếu dân Do-thái biết Ngài là Đấng Christ, người ta sẽ làm một cuộc đảo chính, lật đổ vua Hê-rốt, và bắt Chúa JESUS lên ngồi ở ngai vua, bắt Ngài phải xây dựng cho họ một triều đại huy hoàng giống như thời vua David. Do đó khi Ngài vào thành Jerusalem, người ta đã trải lá cọ ra đường và tung hô Ngài như một vị vua: “Hossana, con vua David”. Nhưng một tuần sau, họ đã thất vọng về Ngài và đã kêu lớn: “Hãy đóng đinh hắn trên thập tự giá”. 2000 năm sau thế giới cũng không có gì đổi mới. Người ta tin Chúa để được thịnh vượng và giàu có. Người ta sử dụng đức tin để điều khiển Chúa để được chữa lành, được thành công,… Nếu không đạt được, người ta sẵn sàng bỏ Chúa và đóng đinh Ngài. Tin lành thịnh vượng không phải là chuyện mới, dân Do-thái đã sáng tạo ra nó 20 thế kỷ trước đây.
2. Sự báo trước về sự khổ nạn, sự chết và sự phục sinh của CHÚA JESUS (31-33)
Sau khi Phi-e-rơ xưng nhận CHÚA JESUS là Đấng Christ, CHÚA JESUS ngay lập tức dạy về sự khổ nạn và sự chết của Ngài. Chúng ta xem câu 31 “Bấy giờ, Ngài khởi sự dạy môn đồ rằng Con người phải chịu khổ nhiều, phải bị các trưởng lão, các thầy tế lễ cả, và các thầy thông giáo loại ra, phải chịu giết, sau ba ngày phải sống lại.32. Ngài nói tỏ tường điều đó với môn đồ.” Đây là lần đầu tiên Chúa JESUS dạy các môn đồ về con đường thập tự giá. Để đến được vinh hiển phải đi qua thập tự giá. Thập tự giá là con đường hy sinh mình, từ bỏ mình. Nhưng đó là con đường duy nhất dẫn đến vinh quang. No cross, no crown.
Chúng ta xem câu 32-33 “Phi-e-rơ đem Ngài riêng ra, mà can gián Ngài. 33. Nhưng Ðức Chúa Jêsus xây lại ngó môn đồ, và quở Phi-e-rơ rằng: Hỡi quỉ Sa-tan, hãy lui ra đằng sau ta; vì người chẳng nghĩ đến việc Ðức Chúa Trời, song nghĩ đến việc người ta.” Ở đây Chúa JESUS quở Phi-e-rơ rất nặng, vì thực ra ông phát ngôn ra ý nghĩ của chính Sa-tan đã đặt vào tâm trí ông. Do đó trong đầu chúng ta có thể có nhiều ý nghĩ khác nhau, nhưng cần phải cẩn thận với những phát ngôn của mình. “Việc con người” ở đây là chủ nghĩa nhân đạo. Chủ nghĩa nhân đạo trong thần học có nghĩa là đặt con người làm trung tâm, mọi thứ đều xoay quanh con người. Chúng ta cần cẩn trọng với ảnh hưởng của chủ nghĩa nhân đạo trong Hội thánh. Người nhân đạo sẽ luôn nhìn thấy công việc của con người mà không thấy công việc của Chúa làm. Họ sẽ chú trọng vào con người, và có xu hướng làm chính trị, bè phái. Nếu không thích một lãnh đạo nào đó, thì họ sẽ lôi kéo lập bè phái để phán xét, chống đối và lật đổ. Chúng ta gọi họ là những “chính trị gia” trong hội thánh. Còn “việc của Đức Chúa Trời” ở đây là con đường của thập tự giá, con đường hy sinh mình, con đường của sự đầu phục. Người tin Chúa sẽ luôn chú tâm tìm kiếm ý muốn Chúa, Chúa đang làm gì và hành động như thế nào?
3. Con đường của các môn đồ (34-38)
Chúng ta cùng xem câu 34 “Ðoạn, Ngài kêu dân chúng và môn đồ, mà phán rằng: Nếu ai muốn theo ta, phải liều mình, vác thập tự giá mình mà theo ta.” Ở đây chúng ta thấy sự trung thực đáng ngạc nhiên của Chúa JESUS khi Ngài kêu gọi môn đồ. Ngài không bắt ép ai phải theo Ngài. Quyết định theo Chúa là tự nguyện. Nhưng Ngài nói rất rõ ràng, nếu ai muốn theo Ngài thì đó là con đường thập tự giá, đó không phải là con đường dễ dàng. Con đường theo Chúa luôn luôn là con đường hẹp, do đó nhiều người không tìm thấy, có tìm thấy nhiều người không muốn đi, vì khó đi, và đã đi rồi, nhưng nhiều người bỏ cuộc giữa đường vì nó hẹp. Từ “liều mình” có thể diễn giải một cách đơn giản và dễ hiểu là “nói không với bản thân, và luôn nói a-men với Chúa”. Người theo Chúa cần phải nói “không” với những ý muốn tội lỗi, bản năng xác thịt, với những hành vi dựa trên cơ sở là vụ lợi và lấy bản ngã làm trung tâm. Giống như Phao-lô nói: giờ đây không phải tôi sống, mà Đấng Christ sống trong tôi. Khi đó chúng ta sẽ tìm được sự tự do thật.
“Vác thập tự giá mình” – trong nghĩa hẹp là thực hiện tốt nghĩa vụ trách nhiệm trong gia đình, trong xã hội, trong hội thánh, thực hiện tốt bổn phận nơi Chúa đặt mình vào: ví dụ làm sinh viên thì phải cố học tốt, làm thợ thì làm ra sản phẩm tốt nhất,… “Vác thập tự giá mình” – trong nghĩa rộng hơn có nghĩa là thay đổi mục đích sống, sống vì sứ mệnh cao cả vĩ đại mà Chúa giao cho. Trước đây tôi sống để khoe mình, vinh danh bản thân, để thực hiện những ước mơ, kế hoạch của riêng mình, giờ đây tôi sống vì vinh hiển Chúa, sống để thực hiện sứ mệnh rao giảng Tin Lành cho nhiều người.
Chúng ta cùng xem câu 35 “Vì ai muốn cứu sự sống mình thì sẽ mất; còn ai vì cớ ta và đạo Tin Lành mà mất sự sống thì sẽ cứu.” Cứu sự sống mình có nghĩa là sống ích kỷ cho bản thân. Người sống cho mục đích ích kỷ sẽ mất sự sống đời đời. Còn ai hy sinh kế hoạch riêng của mình, bỏ đi những toan tính riêng, mà sống cho Chúa và Tin lành sẽ được sự sống đời đời. Những lời này CHÚA JESUS đang phán với các môn đồ là những người đã theo Ngài, đã tin vào Ngài, nhưng vẫn còn nhiều toan tính cá nhân. Họ thường xuyên cãi nhau, ai lớn hơn, ai chiếm chiếc ghế cao hơn trong chính phủ khi CHÚA JESUS trở thành vua. Họ cần phải từ bỏ tham vọng cá nhân và hoàn toàn đầu phục Chúa, tiếp nhận sứ mệnh của Chúa giao, sống theo Chúa. Đó mới là con đường của các môn đồ thật.
Chúng ta cùng xem câu 36-37 “Người nào nếu được cả thiên hạ mà mất linh hồn mình, thì có ích gì? Hay là có người nào lấy chi mà đổi linh hồn mình ư?” Câu Kinh Thánh này cho chúng ta biết một chân lý rằng linh hồn là thứ quý giá nhất trên thế gian. Không thể nào mua được sự cứu rỗi, thậm chí có hàng tỷ đô-la. Câu hỏi là: điều gì có ý nghĩa nhất trong cuộc sống? Tiền bạc hay là sự sống đời đời?
Chúng ta cùng xem câu 38 “Vì giữa dòng dõi gian dâm tội lỗi nầy, hễ ai hổ thẹn về ta và đạo ta, thì Con người sẽ hổ thẹn về kẻ ấy, khi ngự trong sự vinh hiển của Cha Ngài mà đến với các thiên sứ thánh.” Tại sao người ta lại hổ thẹn về Chúa? Có 2 nguyên nhân được tác giả Mác bày tỏ trong phân đoạn Kinh thánh này. 1/ “Vì giữa dòng dõi gian dâm tội lỗi nầy” – khi chúng ta sống giữa thế gian đầy tội lỗi, việc bơi ngược dòng cả xã hội là việc khó khăn, mà chỉ những con cá mạnh mẽ mới dám làm. Người ta sẽ rất sợ trở thành “quạ trắng”, vì sợ sẽ bị dèm pha, dè bỉu, cười nhạo… thậm chí điều đó lại có thể đến từ những người thân yêu của mình. 2/ Vì thầy của mình chọn đi con đường của thập tự giá, là con đường của sự hy sinh và chịu nhục. Lúc đầu họ theo Ngài bởi nghĩ rằng sẽ thành một ai đó trong chính phủ của Đấng Messiah, nhưng giờ đây giác mơ đó đã vỡ tan tành thành mây khói. Có thể họ sẽ cảm thấy xấu hổ khi theo một ông thầy như vậy.
“Vì giữa dòng dõi gian dâm tội lỗi nầy, hễ ai hổ thẹn về ta và đạo ta, thì Con người sẽ hổ thẹn về kẻ ấy, khi ngự trong sự vinh hiển của Cha Ngài mà đến với các thiên sứ thánh.” Đây là sự phát biểu đáng kinh ngạc. Một người thợ mộc xứ Ga-li-lê đang đi đến chỗ hành hình, nhưng lại rất tin chắc vào chiến thắng chung cuộc. Ngài tin chắc rằng sau thập tự giá nhục nhã, sẽ là vinh hiển đời đời. Chúa JESUS không bao giờ thất vọng vì Ngài tin chắc rằng Đức Chúa Trời là Thượng Đế toàn năng, với Ngài mọi sự đều có thể được.
Cách đây nhiều năm trước tôi học Kinh thánh và qua Kinh Thánh tôi hiểu được là Chúa JESUS là Chúa Cứu Thế, là Đấng đã chết thay cho tội lỗi của chúng ta, và ban cho chúng ta sự cứu rỗi đời đời. Tuy nhiên đó chỉ là sự hiểu biết lý trí. Khi học đến phân đoạn Kinh Thánh này và gặp câu hỏi của Chúa JESUS “ngươi cho ta là ai?”, tôi đã suy ngẫm thật sự Chúa JESUS là ai đối với cá nhân tôi. Khi đó Đức Thánh Linh đã khải thị cho tôi rõ ràng Chúa JESUS là ai. Tôi tin chắc rằng Chúa JESUS thật sự là Chúa Cứu Thế. Tôi chắc chắn tuyệt đối về điều này, và đó là ý kiến của cá nhân tôi. Khi đó tôi đã quyết định vác thập tự giá mình, tiếp nhận sứ mệnh trở thành người rao giảng Tin Lành và hầu việc Chúa.
Chúa JESUS đã thay đổi đời sống tôi, ban cho tôi mục đích sống, ý nghĩa sống đích thực. Ngài làm nhiều phép lạ diệu kỳ trên đời sống tôi. Tạ ơn Chúa JESUS!
Qua bài học ngày hôm nay chúng ta biết rằng Chúa JESUS là Đấng Christ, là Chúa Cứu Thế. Tuy nhiên đây phải là một sự mặc khải từ trên cao. Chỉ khi đức tin được đặt nền tảng trên sự tỏ ra, thi đức tin mới vững vàng và chúng ta mới có thể tin quyết đi theo Chúa.
Cầu xin Đức Chúa Trời ban cho chúng ta linh của sự khôn ngoan và sự khải thị để chúng ta nhận biết rõ ràng Chúa JESUS là ai và sống cho điều gì. A-men.
Leave a Reply
Bạn phải đăng nhập để gửi phản hồi.