QUYỀN NĂNG CỦA SỰ CẢM TẠ NGỢI KHEN p1 (Thi thiên 100)

SỰ NGỢI KHEN LÀ GÌ?

Thi thiên 100

Câu khóa 100:4 “4Hãy cảm tạ mà vào các cửa Ngài, Hãy ngợi khen mà vào hành lang Ngài.Khá cảm tạ Ngài, chúc tụng danh của Ngài.”

Có nhiều người trong số chúng ta hiểu rằng ngợi khen – đó là hát những bài hát ca ngợi Chúa trong chương trình thờ phượng chủ nhật hàng tuần. Tuy nhiên định nghĩa của ngợi khen trong hạn chế lĩnh vực âm nhạc thật là phiến diện và sai lầm. Động từ “ngợi khen” và “cảm tạ” trong tiếng Do-thái là từ đồng nghĩa. Ngợi khen Chúa là một trong những điều quan trọng nhất mà chúng ta có thể học khi còn trên đất nầy, vì Chúa muốn chúng ta ngợi khen Ngài trong mọi lãnh vực của đời sống chúng ta. Ngợi khen được coi là điểm chủ yếu trong mối quan hệ giữa chúng ta với Đức Chúa Trời. Cầu xin Đức Thánh Linh khải thị cho mỗi chúng ta sau những bài học này để chúng ta có tấm lòng và đời sống đầy dẫy sự ngợi khen và cảm tạ Chúa. Amen.

1. Tại sao chúng ta phải ngợi khen Đức Chúa Trời?

Chúng ta xem Thi thiên 100:1-4 “ 1Hỡi cả trái đất,
Hãy cất tiếng reo mừng cho Đức Giê-hô-va!
2Khá hầu việc Đức Giê-hô-va cách vui mừng,
Hãy hát xướng mà đến trước mặt Ngài.
3Phải biết rằng Giê-hô-va là Đức Chúa Trời.
Chính Ngài đã dựng nên chúng tôi, chúng tôi thuộc về Ngài;
Chúng tôi là dân sự Ngài, là bầy chiên của đồng cỏ Ngài.
4Hãy cảm tạ mà vào các cửa Ngài,
Hãy ngợi khen mà vào hành lang Ngài.
Khá cảm tạ Ngài, chúc tụng danh của Ngài
.”

Con đường đến với Đức Chúa Trời – đó là thông qua sự cảm tạ và ngợi khen. Đương nhiên có vô vàn lý do để ngợi khen Chúa, cũng như có người nói để ngợi khen Đức Chúa Trời thì không cần lý do nào cả, đơn giản bởi vì Ngài xứng đáng được ngợi khen. Tuy nhiên ở đây chúng ta liệt kê ra một vài lý do đơn giản nhất tại sao chúng ta phải ngợi khen Chúa.

1.Mục đích tồn tại của tất cả tạo vật là phải dâng vinh hiển cho Đấng Tạo Hóa. Con người được tạo dựng nên để sống cho vinh hiển Đấng sáng tạo nên mình. Chúng ta cần phải cảm tạ Chúa vì Ngài đã ban cho chúng ta sự sống quý giá, và chúng ta được ra đời để sống và để được lên Thiên đàng đời đời. Con người có thói quen phải nhận được điều gì đó thì mới cảm tạ. Nhưng chúng ta cần phải học sự cảm tạ ngợi khen Chúa trong mọi sự.

Mỗi một ngày mới thức dậy chúng ta có thể tạ ơn Chúa. Thi thiên 118:24 “Nầy là ngày Đức Giê-hô-va làm nên, chúng tôi sẽ mừng rỡ và vui vẻ trong ngày ấy.” Đã khoảng hơn 2 năm tôi tập cho mình 1 thói quen là mỗi buổi sáng thức dậy với tư tưởng ngày hôm nay là Đức Chúa Trời tạo nên, thời gian, mọi công việc, mọi kế hoạch, các cuộc gặp gỡ, thậm chí nan đề, tai nạn,… là do Đức Chúa Trời tạo nên, do đó mọi việc đều là tốt lành. Mọi sự hiệp lại trong ngày hôm nay đều làm nên ý muốn tốt lành của Đức Chúa Trời. Do đó chúng ta có thể vui mừng sung sướng triền miên trong Chúa, và cảm tạ ngợi khen Chúa. Thời gian đầu chuyện này diễn ra như rất khiên cưỡng, phải bắt ép bản thân. Nhưng dần dần lời Chúa trở nên xác thịt và nhập thể vào trong tâm trí tôi. Dần dần tôi đã có tư tưởng ngợi khen Chúa và vui mừng khi thức dậy mỗi ngày. Mỗi ngày mới tôi lại tuyên xưng CHÚA JESUS phục sinh là Chúa, là Chủ của tôi. Và cả ngày Chúa ban sức ban niềm vui để sống và phục vụ Ngài. Ca thương 3:22-23 nói “Ấy là nhờ sự nhân từ Đức Giê-hô-va mà chúng ta chưa tuyệt. Vì sự thương xót của Ngài chẳng dứt. 23Mỗi buổi sáng thì lại mới luôn, sự thành tín Ngài là lớn lắm.

2.Công việc quan trọng nhất, chính yếu nhất trên Thiên Đường – đó là ngợi khen Đức Chúa Trời. Khi chúng ta đọc Khải huyền, chúng ta thấy công việc chính yếu của các tạo vật trên Thiên đường là ngợi khen Đức Chúa Trời, họ hát Hallelujah suốt ngày. Trên Thiên đường không cần phải học để kiếm tiền, để học nghề, không cần phải học để thành bác sỹ vì không có bệnh tật, không cần học IT vì không cần máy tính, không cần học ngoại ngữ… Những công việc quan trọng và chính yếu trên mặt đất đánh mất ý nghĩa trên Thiên đường. Người được cứu làm công việc chính yếu là ngợi khen tôn vinh Chúa. Chúng ta là những người được cứu chuộc và nhận được sự sống đời đời, cho nên ngay từ bây giờ chúng ta cần phải tập tành sống cho cõi đời đời. Chúng ta cần phải làm công việc trong cõi đời đời – đó là ngợi khen Chúa. Amen.

3. Sự ngợi khen thật có quyền năng biến đổi đời sống con người, có quyền năng thay đổi nghịch cảnh. Có vô vàn những tấm gương và ví dụ về quyền năng kỳ diệu của sự cảm tạ và ngợi khen. Sách Đa-ni-ên kể về 1 sự việc kỳ diệu: 3 người bạn của Đanien là Sa-đơ-rắc, Mê-sác và A-bết-nê-gô vì không thờ thần tượng mà sẵn sàng chết để thờ phượng Đức Chúa Trời và ngợi khen Ngài, nên bị ném vào lò lửa hừng, nhưng Đa-ni-ên 3:22-28 thuật lại: “22Nhân vì mạng vua truyền kíp lắm, mà lò lửa thì đốt nóng lạ thường, nên những người quăng Sa-đơ-rắc, Mê-sác và A-bết-Nê-gô bị ngọn lửa cháy chết.23Còn ba người, Sa-đơ-rắc, Mê-sác, A-bết-Nê-gô, vẫn bị trói mà rơi vào giữa lò lửa hực. 24Bấy giờ, vua Nê-bu-cát-nết-sa lấy làm lạ, vội vàng đứng dậy, cất tiếng nói cùng các nghị viên rằng: Những kẻ bị ta trói mà quăng vào giữa lửa có phải là ba người không? Họ tâu cùng vua rằng: Tâu vua, phải. 25Vua lại nói, Nầy, ta thấy bốn người không có bị trói, bước đi giữa lửa mà chẳng bị thương; và hình dong của người thứ tư giống như một con trai của các thần. 26Đoạn, vua Nê-bu-cát-nết-sa đến gần cửa lò lửa hực, cất tiếng nói rằng: Hỡi Sa-đơ-rắc, Mê-sác và A-bết-Nê-gô, là tôi tớ của Đức Chúa Trời Rất Cao, hãy ra và lại đây! Sa-đơ-rắc, Mê-sác, và A-bết-Nê-gô bèn từ giữa đám lửa mà ra. 27Các quan trấn thủ, lãnh binh, các người cai trị và các nghị viên của vua đều nhóm lại, thấy lửa không có quyền làm hại thân thể ba người ấy được, cũng chẳng có một sợi tóc nào trên đầu họ bị sém; áo xống họ chẳng bị si sứt chút nào, và mùi lửa cũng chẳng qua trên họ.28Vua Nê-bu-cát-nết-sa lại cất tiếng nói rằng: Đáng ngợi khen Đức Chúa Trời của Sa-đơ-rắc, Mê-sác và A-bết-Nê-gô! Ngài đã sai thiên sứ Ngài và giải cứu các tôi tớ Ngài nhờ cậy Ngài, họ đã trái mạng vua, và liều bỏ thân thể mình, hầu để không hầu việc và không thờ phượng thần nào khác ngoài Đức Chúa Trời mình.

Đời sống ngợi khen là một đời sống có quyền năng biến đổi cuộc đời mỗi chúng ta.

2. Sự ngợi khen thật là gì?

Nhiều năm qua tôi từng chứng kiến hàng ngàn người bày tỏ sự ngợi khen Chúa. Với một số người, việc ngợi khen Chúa đã đổi mới hoàn toàn đời sống họ, với một số người, ngợi khen chẳng có ý nghĩa gì cả. Tôi cũng nhận thấy nghịch lý nầy trong chính mình. Đôi khi sự ngợi khen có kết quả, đôi khi những lời ngợi khen của tôi thật tẻ nhạt và rỗng tuếch. Do đâu có sự khác biệt nầy?

Trước hết, ngợi khen không phải là hình thức bề ngoài, không phải nói “Ngợi khen Chúa! Ngợi khen Chúa!” suốt ngày. Nhưng là những gì tuôn chảy từ con người thật của bạn, và đem đến sự đáp ứng tức khắc từ lòng Đức Chúa Trời.
Đó mới chính là sự ngợi khen thật. Ngợi khen thật bao gồm những gì? Những điều kiện nào cần có trong đời sống chúng ta để có được sự ngợi khen thật?

Giăng 4:24 “Đức Chúa Trời là Thần, nên ai thờ lạy Ngài thì phải lấy tâm thần và lẽ thật mà thờ lạy”. Ngợi khen Chúa không phải trên môi miệng, nhưng phải bằng tấm lòng của người đã được tái sanh.

Hê-bơ-rơ 11:6 “Vả, không có đức tin, thì chẳng hề có thế nào ở cho đẹp ý Ngài; vì kẻ đến gần Đức Chúa Trời phải tin rằng có Đức Chúa Trời, và Ngài là Đấng hay thưởng cho kẻ tìm kiếm Ngài.” Ngợi khen bằng đức tin – nghĩa là cảm tạ Chúa vì lời Hứa của Ngài và Ngài thành tín với lời Ngài đã hứa.Đức tin mà Kinh thánh đề cập đến ở đây không có nghĩa là tin rằng có Đức Chúa Trời, mà đó là tin rằng Ngài là Đấng Tạo Hóa, tìm kiếm nhận biết Ngài và ý muốn của Ngài và vâng phục làm theo lời Ngài dạy. Thì Đức Chúa Trời ban thưởng cho đức tin đó.

Sự ngợi khen thật là đáp ứng tự nhiên từ một tấm lòng đã được tha thứ. Tha thứ là nền tảng cần thiết cho sự ngợi khen, là mấu chốt của toàn mối quan hệ giữa chúng ta với Đức Chúa Trời.

Cánh cửa sắt lạnh lùng đóng sập lại, chỉ còn người tù một mình trong ngăn xà-lim nhỏ hẹp dưới đất. Lời nói của người cai tù còn văng vẳng bên tai: “Vô đó đi ông lớn, năm mươi năm nữa chúng tôi sẽ đem ông ra”. Đây không phải là một cơn ác mộng. Ngoài đời, tù nhân là một luật sư hình sự nổi tiếng, vui hưởng quyền lực mà sự giàu sang lẫn “nhất thân nhì thế” đem đến. Ông đã sống theo tín điều của kẻ mạnh: “Thích thì làm và muốn là chiếm đoạt”. Chính lòng ham thích sự hào hứng sôi nổi đã dẫn ông đến tội ác của thời đại: buôn lậu ma túy, buôn bán vũ khí và chất nổ, đánh cướp ngân hàng và gian lận tiền bảo hiểm. Ông toàn giao thiệp với những người nổi tiếng trong giới tội phạm. Vào tuổi bốn mươi, khi uy quyền đang lên thì ông bị bắt vì tội buôn bán ma túy. Ông mất tất cả, vợ và hai con nhỏ bơ vơ. Ông bị phán quyết năm mươi năm tù giam, cộng thêm một số án treo. Những án treo nầy sẽ được thêm vào nếu ông còn sống sau những năm tù giam.

Bốn bức tường xà-lim dính đầy những vết máu và vết phân. Một tù nhân khốn khổ nào đó đã dùng bút chì đánh dấu lên tường thời gian: 10 năm – 20 năm – 30 năm. Không lối thoát. Xà-lim tối tăm và ẩm thấp. Sự yên lặng thỉnh thoảng chỉ bị khuấy phá do tiếng đóng mở cửa ầm ầm hay tiếng la hét của một tù nhân nào đó trong tình trạng điên loạn. Bị tước mất tất cả những gì đẹp đẽ và thành công của thế giới bên ngoài, bất ngờ trở nên hoàn toàn bất lực, người tù thấy mình như bị chôn sống trong một nấm mồ hôi thối, bị quên lãng và rất cô đơn. Chịu hết nổi, ông quì xuống nền đất lạnh. Giống như đứa trẻ, ông bật khóc nức nở, “Ôi, Chúa ơi! Con cũng không biết có Ngài hay không, nhưng nếu Ngài ở đó và có thể nghe con – Con rất hối hận về những gì con đã làm. Xin tha thứ cho con. Nếu Ngài tha thứ và cho con thêm chỉ một cơ hội nữa, con sẽ dâng đời con cho Ngài, dâng tất cả và mãi mãi!” Trong bóng tối đầy im lặng, một điều gì đó đã xảy ra. Sợ hãi và kinh khiếp đã qua đi. Thay vào đó, lòng ông tràn ngập cảm giác được tha thứ và yêu thương. Những giọt nước mắt biết ơn chảy dài trên đôi má. Ông thấy mình như một đứa trẻ đã chạy đến với cha mình để xin tha thứ và rồi được cánh tay mạnh mẽ đầy yêu thương ôm choàng lấy. Xà-lim đáng nguyền rủa không còn là nơi cô đơn tuyệt vọng. Ước muốn ra khỏi nơi nầy cũng không còn nữa. Người tù ấy viết: “Chưa bao giờ tôi cảm thấy được tự do và hạnh phúc như vậy. Tôi cảm tạ Chúa vì Ngài đã đem tôi vào cái lỗ hôi thối nầy để gặp Ngài”.

Người tù ấy là tiến sĩ Gene Neill. Sau khi dâng đời mình cho Chúa, ông đã hăng say học Kinh Thánh do một người nào đó đưa lén vào xà-lim. Ông muốn biết ý chỉ của Chúa trên đời sống mình hơn bất cứ điều gì khác. Ông thấy rõ Chúa muốn ông cảm tạ trong mọi trường hợp. Vì thế ông cảm ơn Chúa về lũ chấy rận, gián và về sự ngược đãi, lời chửi rủa của những người cai tù. Ông cám ơn Chúa về mùi hôi thối của nước tiểu và rác rưởi trong xà-lim. Ông cảm tạ Chúa vì đứa con trai năm tuổi của ông sẽ là một trung niên trước khi ông ra khỏi tù. Ông lại còn cảm tạ Chúa vì lòng tham và sự nhẫn tâm của ông đã khiến ông phá hoại gia đình.

Việc cảm tạ Chúa đem đến những kết quả kỳ diệu trong đời sống của Gene Neill. Ngoài việc ông tràn ngập sự vui mừng, những người khác cũng chịu ảnh hưởng. Những bạn đồng tù và những người cai tù trở lại tin Chúa. Ít lâu sau, Gene được chuyển đến một trại giam vùng đầm lầy thuộc Florida. Suýt bị muỗi làm thịt, ông cảm tạ Chúa và những con muỗi thôi không đốt ông nữa, những bạn đồng tù đã quả quyết rằng ông đã giấu giếm một loại thuốc xịt muỗi cực mạnh nào đó. Chẳng bao lâu những người khác cũng bắt đầu đáp ứng lại quyền năng của Đức Chúa Trời bày tỏ qua đời sống Gene. Sau hai năm, Gene được thả ra. Lệnh ân xá được loan báo từ thủ đô Washington. Được tự do, ông gặp lại vợ con đang sống trong cảnh nghèo túng. Họ cùng nhau cảm tạ Chúa về hoàn cảnh của gia đình và những nhu cầu hằng ngày của họ đã được Chúa cung ứng đầy đủ. Có lần, một người lạ mặt chặn họ lại ngoài đường, đưa cho Gene một số tiền lớn với lời giải thích đơn giản: “Chúa bảo tôi đưa cho ông số tiền nầy!” Lần khác, họ đang cảm tạ Chúa về bữa ăn đạm bạc thì có người gõ cửa chiếc xe buýt cũ kỹ được cải tiến thành “nhà” của Neill, ông ta đưa cho họ gói thịt bò bít-tết rồi bỏ đi.

Tại sao sự cảm tạ có kết quả trong trường hợp Gene Neill? Điều gì đã tuôn chảy từ lòng ông và được Chúa đáp ứng tức khắc như vậy?

Chìa khóa của vấn đề là sự tha thứ. Gene cầu xin được tha thứ và dâng đời mình vào tay Chúa. Chúa đáp ứng tức thời. Luôn luôn như vậy. Sự ngợi khen thật là đáp ứng tự nhiên từ một tấm lòng đã được tha thứ. Sự tha thứ của Đức Chúa Trời ban cho chúng ta trong CHÚA JESUS là nền tảng cần thiết cho sự ngợi khen, là mấu chốt của toàn mối quan hệ giữa chúng ta với Đức Chúa Trời. Tại sao Đức Chúa Trời lại quyết định rằng nền tảng của đức tin phải là sự tha thứ?

Không ai biết rõ bản chất chúng ta hơn Đấng tạo nên chúng ta, Ngài biết chúng ta không vâng phục, và sự không vâng phục ngăn cách chúng ta với Ngài. Ngài biết rõ rằng con người không thể nào nhận được sự cứu rỗi nhờ bất cứ điều công bình nào của chúng ta, nên ngay từ ban đầu Ngài quyết định chúng ta phải trông cậy vào chính Ngài. Ngay từ buổi sáng thế Đức Chúa Trời đã có chương trình để cho CHÚA JESUS phải trở thành của lễ chuộc tội và thông qua thập tự giá Ngài sẽ trở thành Cứu Chúa cho toàn bộ nhan loại. Chúng ta đáng phải chết khi không vâng phục, nhưng Đức Chúa Trời đã để Con Ngài là Giê-xu Christ chết thế chúng ta. Chúng ta cần phải ăn năn tội lỗi và chấp nhận Chúa Jesus Christ làm cứu Chúa của mình. Như vậy nợ tội của chúng ta đã được trả và phương pháp tha thứ của Đức Chúa Trời được thiết lập. Chúng ta sẽ không bao giờ hiểu nổi sự nhân từ và tình yêu thương bao la của Đức Chúa Trời đối với chúng ta, nhưng Chúa muốn chúng ta tin và cảm tạ Ngài vì điều đó. Chúng ta đọc câu 5 “Vì Đức Giê-hô-va là thiện; sự nhân từ Ngài hằng có mãi mãi, Và sự thành tín Ngài còn đến đời đời.” Cầu xin Đức Thánh Linh ban vào lòng chúng ta sự cảm tạ sâu sắc với Chúa và mỗi ngày cảm tạ Chúa vì tất cả: vì những điều tốt và xấu. Amen.

 

Be the first to comment

Leave a Reply