Bài 2: KINH THÁNH

Bài 2: Kinh Thánh

Câu gốc: Cả Kinh Thánh đều là bởi Đức Chúa Trời soi dẫn, có ích cho sự dạy dỗ, bẻ trách, sửa trị, dạy người trong sự công bình (II Ti-mô-thê 3:16)

1/ Kinh Thánh là gì?  (II Phi-e-rơ 1: 21)

Trước khi bắt đầu nghiên cứu những sách riêng lẻ của Kinh Thánh, chúng ta hãy xem xét Kinh Thánh với cái nhìn tổng thể. Tại sao được gọi là “Kinh Thánh”?
Từ vựng “Kinh Thánh ” đến từ chữ Latinh “Biblia ” có nghĩa là “những quyển sách ”. Vì thế, “Kinh Thánh ” có nghĩa đơn giản là “tập hợp những quyển sách ”, nói cách chính xác là 66 quyển. Từ “Thánh -holy” có nghĩa là “thuộc về Đức Chúa Trời ” hoặc “đến từ Đức Chúa Trời ”. Nói tóm lại, Kinh Thánh có nghĩa là “tập hợp những sách đến từ Đức Chúa Trời và thuộc về Đức Chúa Trời ”.
Kinh Thánh thường được xem là lời Đức Chúa Trời. Tại sao? Bởi vì các sứ đồ như Phierơ và Phaolô đã khẳng định như vậy. IITi 2Tm 3:16-17 chép:”Cả Kinh Thánh đều là bởi Đức Chúa Trời soi dẫn, có ích cho sự dạy dỗ, bẻ trách, sửa trị, dạy người trong sự công bình. Hầu cho người thuộc về Đức Chúa Trời được trọn vẹn và sắm sẵn để làm mọi việc lành ”.

IIPhi 2Pr 1:21 chép: “Vì chẳng hề có lời tiên tri nào là bởi ý một người nào mà ra, nhưng ấy là bởi Đức Thánh Linh cảm động mà người ta đã nói bởi Đức Chúa Trời ”.

2/ Đức Chúa Trời đã sử dụng ai để viết Kinh Thánh? (Ê-phê-sô 3: 5; II Phi-e-rơ 3: 1-2).

Trước hết, chúng ta phải xác quyết rằng Kinh Thánh không phải là sự thu thập những bài viết của con người về Đức Chúa Trời. Nhưng ngược lại, nó chứa đựng chính lời Đức Chúa Trời thông qua ngòi bút của nhiều trước giả.

Khi chúng ta nói “Kinh Thánh 100% là Lời của Đức Chúa Trời”, chúng ta cần phải hiểu ngụ ý của câu khẳng định này. Điều này không có nghĩa rằng tất cả những gì chép trong Kinh Thánh là lời phán trực tiếp từ Đức Chúa Trời (Kinh Thánh chép lại lời của con người, của sa-tan,…) Mà nó có nghĩa rằng Đức Chúa Trời 100% là Tác giả của Kinh Thánh. Còn những người mà Chúa sử dụng viết Kinh thánh được gọi là “trước giả“. Tiến trình Đức Chúa Trời hướng dẫn những trước giả viết nên Kinh Thánh gọi là sự thần cảm hoặc sự “hà hơi”. 2 Phi 1:21 chép: “Vì chẳng hề có lời tiên tri nào là bởi ý một người nào mà ra, nhưng ấy là bởi Đức Thánh Linh cảm động mà người ta đã nói bởi Đức Chúa Trời ”. Từ “cảm động” theo tiếng Hy Lạp có một ý nghĩa thật sinh động. Đây là hình ảnh một con thuyền đang trôi theo dòng nước hoặc là ngọn gió khiến cho chiếc thuyền buồm chuyển động, là điều mà Phierơ muốn mô tả để chúng ta dễ hình dung.

Có hai khái niệm chúng ta cần hiểu khi nói chính Đức Chúa Trời viết nên Kinh Thánh. Khái niệm thứ nhất là sự mặc khải. Mặc khải là khái niệm tổng quát về mọi phương cách mà Đức Chúa Trời dùng để bày tỏ cho con người qua thiên nhiên, qua Đức Thánh Linh, qua các tiên tri và nhiều cách khác. Khái niệm thứ hai là sự thần cảm, là điều mà những nhà thần học gọi là “Mặc khải đặc biệt”. Kinh Thánh là sự mặc khải đặc biệt của Đức Chúa Trời từ trang đầu cho đến trang cuối. Trong thời gian khoảng ít nhất là 1500 năm, Đức Chúa Trời đã cảm thúc nhiều người để viết nên Kinh thánh, nhưng khi chữ cuối cùng của sách Khải huyền được viết ra thì sự mặc khải đặc biệt đó được hoàn tất và không còn tiếp diễn nữa.
Ngày nay khi cho rằng Đức Chúa Trời đã viết Kinh Thánh, chúng ta cũng hàm ý Kinh Thánh có nhiều trước giả.

Kinh Thánh được viết trong khoảng thời gian 40 thế hệ, nghĩa là 40 đời người nối tiếp nhau.

Kinh Thánh được viết bởi hơn 40 tác giả từ nhiều tầng lớp xã hội khác nhau; như: Vua, nông dân, triết gia, ngư phủ, nhà thơ, chính trị gia, nhà khoa học …

Kinh Thánh được viết trên 3 lục địa khác nhau là Châu Á, Châu Âu và Châu Phi.

Kinh Thánh được viết bằng 3 ngôn ngữ khác nhau là:

– Tiếng Hê-bơ-rơ cổ.

– Tiếng A-ra-mít là một ngôn ngữ phổ thông được công nhận ở vùng Trung Đông cho đến tận thời Vua Alexander Đại đế (Từ thế kỷ thứ VI đến thế kỷ thứ IV trước CHÚA GIÊ-XU);

– Tiếng Hy Lạp là ngôn ngữ của Tân Ước – Vào thời CHÚA GIÊ-XU thì tiếng Hy Lạp được sử dụng là ngôn ngữ quốc tế.

3/ Nội dung của Kinh Thánh là gì?

Nội dung của Kinh Thánh gồm Cựu-Ước và Tân-Ước.

– Cựu-ước: gồm 39 sách. Cựu ước gồm có 5 thể loại khác nhau. Đầu tiên là năm sách luật pháp, trong đó Đức Chúa Trời dạy chúng ta phân biệt thiện ác và tiêu chuẩn công bình của Ngài.

Kế đến là 12 sách lịch sử, chủ yếu chép lại việc dân sự Đức Chúa Trời qua sự vâng phục, hoặc bất tuân luật pháp Ngài. Những câu chuyện về lịch sử Ysơraên là tấm gương và sự cảnh cáo đối với chúng ta.

Tiếp theo các sách lịch sử là 5 sách văn thơ. Trong phần nầy Đức Chúa Trời đã khích lệ dân sự Ngài khi họ muốn sống đẹp lòng Ngài trên đất. Chẳng hạn như sách Gióp an ủi tấm lòng con dân Chúa khi gặp đau khổ. Sách Thi thiên khích lệ con dân Chúa khi thờ phượng Ngài. Sách Châm ngôn dạy về sự khôn ngoan trong cuộc sống và mối giao tiếp với người chung quanh. Sách Nhã ca của Salômôn đi vào tấm lòng những con người đang tràn ngập tình yêu. Mỗi sách chứa đựng những sự giúp đỡ và lời khuyên thực tế dành cho con người.

Phần cuối của Cựu ước gồm nhiều sách nhất và được gọi là các sách tiên tri. Phần nầy được chia làm hai phần: Đại tiên tri và Tiểu tiên tri, không phải bởi sự quan trọng do sứ điệp của họ nhưng đơn giản là do độ dài ngắn của mỗi sách.

– Tân-ước: gồm 27 sách, nói về cuộc đời và chức vụ Chúa Giê-xu, sự phát triển Hội Thánh và những sự dạy dỗ của Ngài qua các Sứ đồ. Trong Tân ước, chúng ta cũng có năm thể loại sách. Trước hết là bốn sách tiểu sử của Chúa Jêsus (cũng gọi là các sách Tin Lành), được viết bởi Mathiơ, Mác, Luca và Giăng; kế đến là sách Công vụ các sứ đồ thuộc thể loại lịch sử; tiếp theo là các sách thư tín, gồm hai phần: Các thư tín của Phaolô và các thư tín chung. Phân nửa Tân ước là thư tín do sứ đồ Phaolô gởi các Hội thánh mới thành lập sau khi Chúa Phục sinh. Các thư tín chung do nhiều tác giả viết. Cuối cùng là sách Khải huyền thuộc thể loại tiên tri.

Hệ thống chủ đề của Kinh Thánh rất rộng lớn với hàng trăm chủ đề khác nhau, thường có thể gây nên những cuộc tranh luận và sự bất đồng quan điểm. Nhưng các trước giả Kinh Thánh đã lập luận những chủ đề đó trong sự hài hòa và thống nhất, kể từ cuốn Sáng Thế Ký cho đến cuốn Khải Huyền. Tất cả đều nói về một lịch sử: đó là chương trình cứu rỗi loài người của ĐỨC CHÚA TRỜI. Chủ đề xuyên suốt toàn bộ Kinh thánh – đó là vương quốc của Đức Chúa Trời. Khi nghiên cứu Kinh Thánh, chúng ta có thể có cái nhìn tổng quát: Với Cựu ước, sứ điệp căn bản là Đấng Cứu Thế sẽ đến; với Tân ước, sứ điệp là Đấng Cứu Thế đã đến.

Hai-ler và Nick đã diễn đạt điều này như sau: “Thiên Đàng bị đánh mất” của Sáng Thế Ký trở thành “Thiên Đàng được phục hồi” của sách Khải Huyền. Nếu trong cuốn Sáng Thế ký cánh cổng dẫn đến cây sự sống bị đóng lại thì trong sách Khải Huyền nó lại được mở toang ra.

4/ Điều gì chứng minh Kinh Thánh là Lời Đức Chúa Trời?

– Sự hiệp nhất của Kinh Thánh (II Ti-mô-thê 3:16). Tính nhất quán của Kinh Thánh trước sự so sánh với văn học phương tây. Một vị giáo sư văn học của trường Đại Học Cambridge kể lại câu chuyện như sau: Có một lần một người đại diện của ấn bản “Thư viện văn học Phương Tây” đến tìm gặp tôi. Anh ta cho tôi xem tờ quảng cáo giới thiệu sơ lược về một loạt sách của ấn bản nổi tiếng này, và kể cho tôi nghe trong vòng 5 phút. Nhưng tôi và anh ta đã nói chuyện về Kinh Thánh hơn 1 tiếng rưỡi đồng hồ. Tôi đề nghị anh ta lấy ra khoảng 10 nhà văn – từ 1 tầng lớp xã hội, sống trong cùng 1 thế hệ, cùng 1 nơi, cùng 1 nền văn hóa, viết trên cùng một thứ tiếng – và lấy 1 chủ đề gây tranh cãi. Tôi hỏi “các tác giả này có đi đến sự thống nhất hay không?” Anh ta nghĩ 1 lúc và trả lời “không”. Tôi hỏi tiếp: “Vậy thì cuối cùng chúng ta nhận được cái gì?” – Anh ta trả lời ngay lập tức “Sự hỗn loạn”. Hai ngày sau anh đã hiến dâng cuộc đời của mình cho CHÚA GIÊ-XU – là nhân vật chính của Kinh Thánh – cuốn sách nói về hàng trăm chủ đề gây tranh cãi với sự hài hòa và đồng nhất.

Vị giáo sư này kể tiếp: “Có lần tôi đã đưa ra 1 chủ đề nhỏ cho các sinh viên của tôi viết tiểu luận. Có khoảng 40 sinh viên, sống trong 1 thế hệ, là công dân Anh, nói cùng 1 thứ tiếng, 1 nền văn hóa. Kết quả là có hơn 40 ý kiến khác nhau. Trong khi đó Kinh thánh viết về hàng trăm chủ đề khác nhau, bằng nhiều ngôn ngữ khác nhau, trong nhiều thế hệ khác nhau, nhưng không hề có sự mâu thuẫn. Điều đó chứng minh rằng Kinh thánh có chung một tác giả duy nhất – đó chính là Đức Chúa Trời.

– Sự chuẩn xác của Kinh Thánh (Ma-thi-ơ 5:18). Trên thế giới có rất nhiều tôn giáo, nhưng hầu hết các tôn giáo đều không có sách kinh của họ (họ đều là “nói không có sách, mách không có chứng”), chỉ có 3 tôn giáo lớn là Phật giáo, Hồi giáo và Cơ đốc giáo là có sách kinh. Tuy nhiên các sách kinh của các tôn giáo khác chỉ ghi chép lại suy nghĩ và lời nói của con người. Chỉ có Kinh Thánh của Cơ đốc giáo ghi chép lại lịch sử và các sự kiện. Do đó chỉ cần chứng minh các sự kiện đó không có thật, thì có thể lật đổ được Cơ đốc giáo. Nhưng cho đến bây giờ qua nhiều thế kỷ có bao nhiêu nhà sử học, nhà khoa học vô thần, nhiều kẻ thù của Cơ đốc giáo đã cố gắng tìm ra dù chỉ là một điểm sai, một sự giả dối của Kinh thánh, nhưng chưa có ai làm được điều đó. Ngược lại tất cả những ai sau khi nghiên cứu Kinh thánh cách có hệ thống đều tin vào Kinh thánh.

– Những lời giáo huấn cao siêu trong Kinh Thánh (Mác 1: 22). Ghandi người Ấn độ và nhà văn Nga Dotstoiepskiy đã nói: “Bài giảng trên núi của Chúa Jesus là sự dạy dỗ về đạo đức tuyệt vời nhất mà nhân loại từng được nhận”.

– Kinh Thánh có quyền năng tái tạo con người (Giăng 15: 3; I Tê-sa-lô-ni-ca 2: 13). Nhiều tội nhân khi bị kết án trong tù đã đọc Kinh thánh và ăn năn hối cải trở thành những con người thánh khiết tuyệt vời… Không có một cuốn sách nào có thể thay đổi được bản chất của tội nhân. Chỉ Kinh thánh có quyền năng bởi vì Kinh Thánh là lời của Đức Chúa Trời hằng sống.

– Kinh Thánh mặc khải đầy đủ về Đức Chúa Trời (II Phi-e-rơ 1: 21). Bởi vì Đức Chúa Trời đang kể về chính Ngài, bày tỏ ra cho nhân loại biết Ngài, để tin vào Ngài.

– Những lời tiên tri trong Kinh Thánh được ứng nghiệm (Giô-suê 23: 35).

Chúng ta cùng xem xét tính khoa học của Kinh thánh:

– Sáng 10:25 nói về sự kiện lục địa bị chia tách. Trước Đại hồng thủy mặt đất là 1 lục địa liền. Sau trận hồng thủy xảy ra chấn động, lục địa bị nứt và trôi xa khỏi nhau, các mảnh nhỏ bị trượt xa khỏi thềm lục địa tạo nên các đảo. Nơi các phiến lục địa va vào nhau, nâng lên thành các dãy núi. Chỉ khoảng thế kỷ 20 các nhà địa lý học mới phát hiện ra điều này. Sách Sáng thế ký được viết vào khoảng 1400 năm TC. Kinh thánh đã đi trước khoa học 3400 năm.

– Gióp 28:25 (khoảng 1400 TC) nói rằng không khí có trọng lượng. Mãi đến thế kỷ 17 nhà bác học người Ý Evagelista Torrichelli qua thí nghiệm rút không khí và bơm đầy không khí vào quả cầu kính mới chứng minh được điều này. Kinh thánh đã đi trước khoa học 3100 năm.

– Gióp 26:7 nói về việc trái đất được treo lơ lửng trong không trung. Đối với khoa học thời cổ đại, đây là điều không tưởng.

– Thi thiên 8:8 (1000 TC) nói về các dòng chảy trong đại dương. Mãi đến thế kỷ 18 giới khoa học mới phát hiện ra bản đồ các dòng hải lưu. Kinh thánh đi trước khoa học 2800 năm.

– Thi thiên 19:3-4 nói về sóng vô tuyến truyền hình. Mãi đến đầu thế kỷ 20 thì các nhà phát minh mới biến điều này thành hiện thực.

– Ê-sai 40:22 (khoảng 800 TC) nói rằng trái đất có hình tròn giống chiếc vòng. Mãi đến thế kỷ 15 nhà thám hiểm Christopher Colombus mới chứng minh được điều này. Trước đó người ta tin rằng trái đất là mặt phẳng, và sau đường chân trời là vực sâu không đáy. Khoa học về vũ trụ của người Việt cổ đại cho rằng “trời tròn đất vuông” qua sự tích “bánh chưng bánh dầy”. Kinh thánh đi trước khoa học 2700 năm.

– Khải huyền 13:16-18 (100 năm sau CN) nói về dấu con thú 666. Mãi đến cuối thế kỷ 20 người ta mới phát minh ra hệ thống mã vạch. Hệ thống này phát triển ngày nay thành mã QR. Về bản chất là không khác nhau. Nhiều nhóm khoa học đang nghiên cứu ứng dụng hệ thống này vào quản lý nhân sự qua việc cấy con chip vào con người.

Lời Kinh thánh là chính xác và luôn được ứng nghiệm một cách tuyệt đối.

5/ Kinh Thánh đem lại những lợi ích gì cho người đọc?

Từ Sáng thế ký đến Khải huyền, Kinh Thánh tập trung vào Chúa Cứu Thế Jesus. Một số người cho rằng Kinh Thánh là quyển sách chỉ dẫn về đời sống đạo đức. Họ cho rằng Chúa Jêsus là người thầy gương mẫu qua đời sống mà Ngài đã bày tỏ. Kinh Thánh không phải là quyển sách chép về văn minh lịch sử, đạo đức hoặc khoa học. Chúa Jêsus là trọng tâm của Kinh Thánh và nội dung Kinh thánh chung quy gồm 4 điểm:

– Mặc khải cho con người biết rõ về nguồn gốc nhân loại vạn vật (Sáng thế ký 1: 3; Giăng 1: 1-3).

– Chỉ cho con người biết kẻ thù của con người là ma quỉ, và vũ khí của ma quỉ là tội lỗi (Phi-e-rơ 5: 8).

– Tỏ cho con người biết Đức Chúa Trời là Đấng yêu thương, giải cứu con người ra khỏi tội lỗi qua Đức Chúa Giê-xu Christ (Giăng 1: 18; 3: 16; 14: 6).

– Dạy cho con người nếp sống xứng hợp với địa vị làm con cái Đức Chúa Trời (Phi-líp 2: 15; II Ti-mô-thê 3: 15-17).

6/ Làm sao để nhận những phước hạnh từ Kinh Thánh?

Muốn nhận phước hạnh từ Kinh Thánh chúng ta phải:

– Đọc lời Chúa (Khải-huyền 1: 3).

– Nghe lời Chúa (Lu-ca 10: 38-42).

– Học lời Chúa (Công-vụ 17: 11; Thi-thiên 119: 11).

– Suy gẫm lời Chúa (Gia-cơ 1: 25; Thi-thiên 1: 2).

– Làm theo lời Chúa (Giô-suê 1: 8; Gia-cơ 1: 22-25).

Chúng ta phải thấm nhuần tư tưởng “được phước khi vâng lời Chúa”.

Be the first to comment

Leave a Reply